HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA QUAN HỆ CÔNG CHÚNG VÀ QUẢNG CÁO
TÀO THANH HUYỀN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG PR TẠI CÔNG TY
ĐIỆN TOÁN VÀ TRUYỀN SỐ LIỆU VDC
Đề cương chi tiết luận văn thạc sĩ
Chuyên ngành: Quan hệ công chúng
Hà Nội, tháng 12 năm 2011
1. Lý do chọn đề tài:
Được các doanh nghiệp nước ngoài giới thiệu vào Việt Nam cách đây 20
năm, nhưng chỉ trong những năm nay gần đây, “mảnh đất màu mỡ” truyền thông
PR mới được các doanh nghiệp Việt Nam quan tâm và nghiên cứu. Trước đây,
các doanh nghiệp nước ta do ảnh hưởng của lối làm ăn quan liêu, bao cấp nên
dành sự quan tâm rất ít đến hoạt động quan hệ công chúng. Ngay cả khi bước
vào nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp chỉ coi trọng Marketing, quảng cáo,
khuyến mại trong khi đó khái niệm PR còn rất mù mờ. Tuy nhiên, kể từ khi gia
nhập WTO, sự phát triển mạnh như vũ bão của Internet đã khiến nền kinh tế
nước ta trở nên năng động, toàn diện và đi theo xu hướng hội nhập với nền kinh
tế của các quốc gia lớn mạnh trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy nhu cầu về
nghề PR (quan hệ công chúng) chuyên nghiệp ngày càng lớn cùng với sự phát
triển của nền kinh tế - xã hội Việt Nam.
Tầm quan trọng của PR là không thể phủ nhận, đó là con đường hiệu quả
nhất để chiếm được thiện cảm của công chúng. Quảng cáo không làm được điều
này, Marketing không làm được điều này nhưng PR làm được. Mặc dù vậy, hoạt
động PR ở Việt Nam đang không được hiểu đúng theo ý nghĩa của nó, đa phần
các công ty coi PR chỉ đơn thuần là việc “mua đất” trên các trang báo nhằm
quảng bá và thổi phồng thương hiệu, đi “quan hệ” với giới báo chí truyền
thông… PR nước nhà luẩn quẩn trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và báo
chí, nó không được công nhận là một ngành công nghiệp độc lập.
Chính vì những tồn tại trên, việc nghiên cứu, đưa ra các phân tích đánh giá
điểm mạnh yếu trong hoạt động PR tại Việt Nam là việc làm cần thiết. Trong
năng hoạch định và quản lý chiến dịch PR. Còn xét riêng về ngành PR tại Việt
Nam cũng có một số tác phẩm được đánh giá cao, chẳng hạn như cuốn sách
nghiên cứu “Ngành PR ở Việt Nam” hay cuốn “PR: Lý luận và ứng dụng” của
PGS. TS Đinh Thị Thúy Hằng.
Bên cạnh những sách được phát hành, cũng có rất nhiều các công trình
nghiên cứu khoa học liên quan đến hoạt động PR, trong đó nội dung xoay quanh
quanh đề tài của khóa luận như vai trò PR trong việc xây dựng thương hiệu
doanh nghiệp, chức năng quản lý khủng hoảng và hoạch địch chiến lược của PR,
PR đặt trong mối quan hệ với quảng cáo và marketing…
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu về PR trên đây mang nặng về tính lý
thuyết, chung chung, chưa thực sự hướng tới tình hình thực tế hoạt động PR của
Việt Nam, chưa đặt dưới sự tác động mạnh mẽ của Internet, văn hóa hội nhập và
quan điểm từ phía khách hàng.
4. Phạm vi nghiên cứu:
Trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu này, người viết chỉ tập trung vào
nghiên cứu và phân tích thực trạng hoạt động PR ở Công ty điện toán và truyền
số liệu VDC đồng thời so sánh với hoạt động của một số doanh nghiệp tương
đồng. Quá trình phân tích bắt đầu từ năm 2010 (đây cũng là thời điểm công ty
chú trọng thành lập phòng Markeitng – PR – cộng đồng) cho đến thời điểm hiện
tại.
5. Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này chính là phòng Marketing – PR –
cộng đồng của công ty Điện toán và truyền số liệu VDC. Các nội dung nghiên
cứu bao gồm cơ cấu tổ chức hoạt động của phòng ban, nguồn nhân lực PR, các
chiến lược truyền thông PR, công cụ đo đếm hiệu quả các chiến dịch.
6. Phương pháp nghiên cứu:
6.1. Phương pháp luận:
- Hệ thống lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
- Quan điểm của Đảng và Nhà nước về ngành quan hệ công chúng
- Lý luận chung về quan hệ công chúng
đánh giá từ quá trình nghiên cứu thực tế, người viết sẽ đưa ra những đề xuất,
những giải pháp tích cực nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động PR tại VDC.
- Mặt tích cực:
+ Công ty có mối quan hệ truyền thống và tốt đẹp với giới truyền
thông, thường xuyên tổ chức họp báo, giao lưu với nhà báo, truyền hình.
+ Công ty sử dụng nhiều công cụ PR tạo ra tác động rộng đến công
chúng và khách hàng.
- Một số điểm hạn chế:
+ Đầu tư cho PR chưa được coi trọng đúng mức (về con người và
tài chính)
+ Phương pháp làm PR còn mang nặng tính hình thức.
+ Chưa có sự tách biệt rõ ràng đối tượng cần PR.
- Một số đóng góp nhằm nâng cao hiệu quả PR của công ty:
+ Cần có một kế hoạch PR hàng năm rõ ràng, thuê các chuyên gia
PR đã từng làm cho các công ty lớn ở thế giới và Việt Nam xây dựng và
điều hành bản kế hoạch này.
+ Đầu tư nghiên cứu đối tượng khách hàng PR, qua đó có thể xác
định công cụ PR phù hợp với đối tượng khách hàng này.
+ Tổ chức lớp học nâng cao trình độ PR cho các nhân viên liên
quan.
+ Xây dựng các kênh PR không chính thức để tối ưu hóa hoạt động
PR đến toán bộ đối tượng khách hàng.
8. Ý nghĩa của việc nghiên cứu đề tài:
8.1. Ý nghĩa lý luận của đề tài nghiên cứu:
Việc thực hiện đề tài giúp bản thân người viết có cơ hội được nghiên cứu
một cách kĩ lưỡng kiến thức về bộ môn PR đang được học trên ghế nhà trường.
Bên cạnh đó, quá trình hoàn thiện đề tài cũng là quá trình giúp người viết có
thêm các kĩ năng tư duy nghiên cứu, phân tích và tìm hướng giải quyết một vấn
đề.
8.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
2.2.2.2. Các công cụ triển khai PR tại VDC
2.2.2.2.1. Quan hệ báo chí
2.2.2.2.2. Công cụ Online: Mạng xã hội, Forum…
2.2.2.2.3. Các hoạt động tài trợ xóa đói giảm nghèo, công tác
xã hội…
2.2.3. Các công cụ đo lường hiệu quả hoạt động PR tại VDC
2.2.3.1. Các công cụ đo lường tính hiệu quả.
2.2.3.2. So sánh hiệu quả so với hoạt động PR của các công ty khác
cùng lĩnh vực.
Tiểu kết chương 2
Chương 3
MỘT SỐ THÀNH CÔNG HẠN CHẾ VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO
TÍNH HIỆU QUẢ TRONG HOẠT ĐỘNG PR CỦA VDC
3.1. Đánh giá khái quát về thành công và hạn chế trong hoạt động PR của công
ty VDC
3.1.1. Thành công
3.1.2. Hạn chế
3.1.3. Nguyên nhân
3.2. Một số giải pháp:
3.2.1. Nâng cao trình độ kiến thức PR của đội ngũ nhân viên trong công ty
3.2.2. Xây dựng kế hoạch truyền thông tổng thể
3.2.3. Xác định rõ đối tượng PR, tránh tình trạng quan liêu bao cấp.
Tiểu kết chương 3
10. Tài liệu tham khảo:
• Sách tham khảo tiếng việt
- Kỷ yếu hội thảo “Quan hệ công chúng – Lý luận và Thực tiễn” – Học viện Báo
chí Tuyên truyền (NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2005).
- “Truyền thông đại chúng” – GS.TS.Tạ Ngọc Tấn (NXB Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, năm 2001)
- “Ngành PR tại Việt Nam” – PGS.TS.Đinh Thị Thúy Hằng chủ biên (NXB Lao