ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TẠ THỊ NHÀN
QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO -
LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Chuyên ngành: Pháp luật về quyền con người
Mã số: Chuyên ngành đào tạo thí điểm
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NHỮNG
NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO 11
1.1. Khái niệm quyền của người bị tước tự do 11
1.1.1. Người bị tước tự do 11
1.1.2. Quyền của người bị tước tự do 14
1.2. Ý nghĩa việc bảo đảm quyền của người bị tước tự do 21
1.2.1. Góp phần bảo đảm quyền con người 21
1.2.2. Là một trong các tiêu chí xác định Nhà nước pháp quyền 22
1.2.3. Góp phần phát triển văn minh của nhân loại 23
1.3. Nội dung quyền của người bị tước tự do theo luật nhân quyền quốc tế 25
1.3.1. Quyền sống 27
1.3.2. Quyền được bảo vệ không bị tra tấn, đối xử hoặc trừng phạt tàn bạo,
vô nhân đạo hoặc hạ nhục 29
1.3.3. Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện 30
1.3.4. Quyền được đối xử nhân đạo và tôn trọng nhân phẩm của những
người bị tước tự do 30
1.3.5. Quyền được hưởng tố tụng riêng cho người chưa thành niên 31
1.4. Cơ chế bảo đảm quyền của người bị tước tự do theo luật nhân
quyền quốc tế 32
1.4.1. Cơ chế quốc tế 32
1.4.2. Cơ chế khu vực 38
on Human rights);
- CAT: Công ước chống tra tấn và các hình thức trừng phạt và đối xử tàn bạo,
vô nhân đạo hay hạ nhục khác, 1984 (Convention against Torture and
Other Cruel, Inhuman or Degrading Treatment or Punishment);
- CEDAW: Công ước về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt dối xử với phụ nữ,
1979 (Convention on the Elimination of All Forms of Discrimination
against Women);
- CRC: Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (Convention on the Rights of
the Child);
- ECHR: Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và tự do cơ bản, 1950
(The European Convention for the Protection of Human Rights and
Fundamental Freedoms);
- ECOSOC: Hội đồng Kinh tế-Xã hội của Liên hợp quốc (The United Nations
Economic and Social Council);
- ICCPR: Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, 1966 (International
Covenant on Civil and Political Rights);
- ICJ: Tòa án công lý quốc tế, (Internatinonal Court of Justice);
- ICESCR: Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa, 1966
(International Covenant on Economic, Social and Cultural Rights;
- NGOs: Các tổ chức phi chính phủ (non-governmental organizations);
- NHRIs: Các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền (National
Institution on the Protection and Promotion of Human Rights);
- UDHR: Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền, 1948 ((Universal Declaration of
Human Rights);
- UNCHR: Ủy ban quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations
Commission on Human Rights);
- UNHRC: Hội đồng quyền con người Liên hợp quốc (The United Nations Human
Rights Council);
- UPR: Cơ chế Đánh giá Định kỳ toàn thể (Universal Periodic Review);
- WGAD: Nhóm công tác về giam giữ tùy tiện của Liên hợp quốc (Working
thân phận nô lệ là thích hợp và chính đáng cho họ. Đối với những người này việc có
một người chủ tốt là may mắn và tốt đẹp. Đến thời phong kiến tầng lớp nô lệ đã
không còn tồn tại trong xã hội. Tuy nhiên vẫn còn những tầng lớp, giai cấp khác cho
mình quyền áp bức, bóc lột các giai tầng còn lại. Trải qua bao năm đấu tranh với bao
mất mát, khổ đau, cho đến thời điểm hiện nay, nhân loại toàn thế giới đã công nhận:
“Tất cả mọi người sinh ra đều được tự do và bình đẳng về nhân phẩm và quyền. Mọi
con người đều được tạo hóa ban cho lý trí và lương tâm và cần phải đối xử với nhau
trong tình bằng hữu” (trích Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền 1948). Trong
thời đại ngày nay, nhân quyền trở thành vấn đề mang tính quốc tế, giá trị quyền con
người đã được nhìn nhận ở tất cả các quốc gia, khu vực, vùng lãnh thổ. Bất kỳ ai trên
thế giới này không phân biệt màu da, sắc tộc, tôn giáo, giới tính…đều được hưởng
những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong luật quốc tế về nhân quyền.
Tuy vậy, cuộc đấu tranh cho nhân quyền vẫn tiếp diễn đầy cam go, quyết liệt. Vẫn
còn những kẻ lợi dụng nhân quyền để vi phạm nhân quyền. Vẫn còn đó tình trạng
người bóc lột người, phân biệt chủng tộc, kỳ thị dân tộc, tôn giáo… Hơn nữa vẫn còn
nhiều người không biết mình có những quyền gì và làm thế nào để thực hiện các
quyền đó, làm thế nào để bảo vệ các quyền đó khi bị vi phạm?
Lịch sử dân tộc Việt Nam là lịch sử bốn nghìn năm dựng nước và giữ nước,
với biết bao cuộc đấu tranh chống quân xâm lược. Vì vậy chúng ta hiểu rõ hơn ai
hết giá trị của độc lập, tự do, quyền sống và mưu cầu hạnh phúc. Tư tưởng nhân
quyền ở Việt Nam đã có từ rất lâu và được thể hiện trước hết qua những ý niệm và
hành động khoan dung, nhân đạo. Trong Bình Ngô Đại Cáo của Nguyễn Trãi với
tinh thần “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân để thay cường bạo” đã thể
hiện rõ tư tưởng nhân đạo, nhân quyền của Việt Nam. Trong những năm qua Đảng
và Nhà nước ta đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong phạm
2
vi quốc gia cũng như đã tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh vì nhân quyền của
nhân loại. Thể hiện ở việc Nhà nước ta đã hình thành một hệ thống các văn bản
pháp luật tương đối đầy đủ và khá tương thích với luật pháp quốc tế về nhân quyền.
Trên cơ sở nghiên cứu, đánh giá toàn diện các quy định, văn kiện quốc tế về bảo vệ
quyền của người bị tước tự do cũng như việc nội luật hóa và áp dụng chúng vào
thực tiễn Việt Nam. Tác giả đưa ra một số phương hướng đề hoàn thiện pháp luật về
quyền của nhóm người bị tước tự do và giải pháp để thực thi một cách hiệu quả các
quyền ấy trong thực tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Bởi tầm quan trọng của vấn đề, hiện nay trên thế giới cũng như Việt Nam đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này. Có thể kể đến như:
“Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương” do trung tâm
nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại học
quốc gia Hà Nội đã đề cập tới quyền của người bị tước tự do theo luật quốc tế về
nhân quyền. Cuốn sách đã làm rõ một số nội dung như quyền của nhóm là gì? Tầm
quan trọng của việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của nhóm. Cuốn sách cũng
đưa ra định nghĩa nhóm người dễ bị tổn thương; xác định các nhóm xã hội dễ bị tổn
thương được quy định trong luật nhân quyền quốc tế, trong đó có nhóm người bị
tước tự do. Đặc biệt cuốn sách đã phân tích cơ chế quốc tế giám sát thực thi quyền
của một số nhóm người dễ bị tổn thương.
“Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong tố tụng hình sự”: do trung tâm
nghiên cứu quyền con người – quyền công dân và trung tâm nghiên cứu tội phạm
học và tư pháp hình sự trực thuộc khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội phát hành.
Tố tụng hình sự là hoạt động trực tiếp nhất liên quan đến một bộ phận quan trọng
của nhóm người bị tước tự do. Đó là những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị
bỏ tù. Tài liệu đã khái quát những tiêu chuẩn pháp lý về quyền con người trong các
hoạt động tố tụng hình sự. Từ đó nhằm hướng dẫn, cung cấp những công cụ hữu
hiệu cho việc bào chữa tại các tòa án hình sự địa phương. Đặc biệt, nó được viết ra
để hỗ trợ cho các luật sư hoặc thành viên của nhóm luật sư biện hộ các vụ án hình
sự, nâng cao kiến thức và hiểu biết nhằm áp dụng hiệu quả luật quốc tế tại các tòa
4
án địa phương. Từ góc độ đó, cuốn sách đề cập đến những khả năng áp dụng luật
chắn thực hiện được, giữ gìn được hoặc có đầy đủ thực hiện được, giữ gìn được
hoặc có đầy đủ những gì cần thiết; sự đảm bảo hoặc giữ gìn được. Từ đó tác giả
phân tích việc đảm bảo quyền con người trong thi hành án phạt tù bao gồm các đảm
bảo về chính trị, kinh tế, văn hóa, giáo dục và pháp lý. Trong đó đảm bảo pháp lý có
vai trò quyết định. Bài viết phân tích việc đảm bảo quyền con người trong việc thi
hành án phạt tù, thực chất là phân tích việc bảo đảm quyền con người của một bộ
phận người bị tước tự do, đó chính là các tù nhân.
Một số vấn đề về bảo vệ quyền của những người bị tước tự do trong pháp
luật và thực tiễn – khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Lưu Mỹ Hằng K53B – QHL
2008, khoa Luật – ĐHQG Hà Nội năm 2012. Khóa luận đã giải quyết một cách
khoa học về khái niệm, quy định cơ bản về một số vấn đề bảo vệ quyền của người
bị tước tự do theo pháp luật quốc tế và Việt Nam. Khóa luận cũng đã phân tích tình
hình bảo vệ quyền của người bị tước tự do qua thực tiễn ở Việt Nam hiện nay, từ đó
đưa ra quan điểm và phương hướng nâng cao vai trò của pháp luật trong việc quy
định và bảo đảm quyền người bị tước tự do.
Ngoài ra còn một số bài viết, cuốn sách của các học giả khác có đề cập đến
vấn đề này. Các công trình nghiên cứu trên cho thấy, việc nghiên cứu về quyền của
người bị tước tự do ở Việt Nam trong những năm qua đã được quan tâm và đạt
được những thành tựu nhất định. Tuy nhiên cần có một cái nhìn tổng quát hơn về
người bị tước tự do, đặc biệt là dưới góc độ của luật nhân quyền quốc tế. Điều đó
càng có ý nghĩa hơn khi mà nhân quyền hiện đang là vấn đề mà cả nhân loại hướng
tới. Luận văn này có thể bổ sung những nghiên cứu về vấn đề người bị tước tự do,
từ đó nâng cao ý thức trước hết là của các chủ thể có nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và
thực thi các quyền của người bị tước tự do. Đồng thời nâng cao nhận thức của các
chủ thể người bị tước tự do trong việc thụ hưởng các quyền của mình.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
• Nghiên cứu tổng quan về người bị tước tự do và quyền của người bị tước tự
do; các biện pháp cũng như hoạt động của các cơ quan, người có thẩm quyền thực
7
lĩnh vực hành chính, những người bị tước tự do bao gồm: người bị tạm giữ hành
chính; người bị đưa vào trường giáo dưỡng; người bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt
buộc; người bị đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Những người này đều bị giới hạn
các quyền tự do so với những công dân bình thường. Chẳng hạn như quyền tự do đi
lại, tự do cư trú. Đối với những người bị xử phạt với hình thức quản chế, thì đây là
hình phạt bổ sung đi kèm với hình phạt chính là hình phạt tù. Đối với những người
này, ngoài việc bị giới hạn quyền tự do đi lại, tự do cư trú thì còn bị hạn chế một số
quyền công dân, tức là bị tước một số quyền tự do khác trong một thời hạn nhất
định, như quyền tự do về việc làm, quyền ứng cử, quyền bầu cử đại biểu cơ quan
quyền lực nhà nước. Nguyên nhân tại sao quyền của nhóm người này lại dễ bị tổn
thương. Những chuẩn mực quốc tế về quyền của nhóm người này trong luật nhân
quyền quốc tế là gì? Cơ chế bảo đảm các quyền đó cả trên phạm vi quốc tế, khu vực
và quốc gia? Phân tích về việc bảo vệ nhóm người này ở Việt Nam trong những
năm qua như thế nào? Những quyền nào dễ bị vi phạm? Lý do vi phạm? Từ đó đưa
ra những giải pháp thực tế để bảo vệ và thúc đẩy quyền của nhóm người này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu quyền của người bị tước tự do dưới góc độ quy định
pháp lý và thực tiễn trên phạm vi quốc tế và tình hình cụ thể ở Việt Nam. Trong
phạm vi luận văn này, các tiêu chuẩn, quốc tế về nhân quyền được coi là mặt lý
luận, là tiêu chí và chuẩn mực mà các quốc gia, vùng lãnh thổ hướng tới. Đó được
coi như những giá trị thiêng liêng, phổ quát mà phải mất bao xương máu nhân loại
toàn thế giới mới giành được. Đó còn là mơ ước, khát vọng về một thế giới bình
đẳng, về những nhân quyền thiêng liêng tạo hoá đã ban cho mà không ai có thể bị
tước đoạt. Với ý nghĩa trên, khía cạnh thực tế mà luận văn đề cập chính là việc đưa
các chuẩn mực đó vào thực tế như thế nào? Việc tham gia, ký kết, gia nhập và nội
luật hoá là một phần của ý nghĩa đó. Bên cạnh đó các nhà nước cụ thể là Việt Nam
đã làm gì để đảm bảo cho các quyền của người bị tước tự do được thực hiện trên
thực tế? Với cách tiếp cận trên, tác giả đi vào nghiên cứu cụ thể như sau:
nền tảng của Luật nhân quyền quốc tế.
Phương pháp nghiên cứu: Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
9
cụ thể như: phương pháp phân tích, khái quát hóa; phương pháp tổng hợp; thống kê,
so sánh; phương pháp quy nạp; phương pháp diễn giải…
6. Kết quả và ý nghĩa nghiên cứu
Luận văn đã đạt được một số kết quả:
- Đưa ra cái nhìn tổng quan về người bị tước tự do dưới góc độ là những
người dễ bị tổn thương trong mối liên hệ giữa luật nhân quyền quốc tế và pháp luật
quốc gia của Việt Nam. Đặc biệt là với cách tiếp cận dựa trên quyền, luận văn
khẳng định các quyền của người bị tước tự do là tự nhiên, bẩm sinh và nhà nước chỉ
có thể ghi nhận, bảo đảm chứ không có quyền ban phát các quyền đó. Các quyền
của người bị tước tự do được bảo đảm không chỉ bằng việc các quyên đó được ghi
nhận trong pháp luật. Mà quan trọng còn ở cơ chế bảo đảm các quyền đó.
- Đánh giá tầm quan trọng, ý nghĩa của việc bảo đảm các quyền của người bị
tước tự do. Những người bị tước tự do được hưởng các quyền cơ bản trên cương vị
bình đẳng như bất kỳ chủ thể nào. Bên cạnh đó họ được hưởng những quyền đặc
thù khác. Và việc được hưởng các quyền đó là tất yếu. Đảm bảo cho các quyền đó
được thực thi cũng chính là bảo đảm quyền con người và là thước đo trình độ văn
minh của nhân loại.
- Góp phần thay đổi cái nhìn của xã hội nói chung, trong đó có bộ phận cán
bộ công quyền trong vấn đề tước tự do hành chính; Các biện pháp xử lý hành chính
của Việt Nam dưới góc độ của luật nhân quyền quốc tế thực chất là các biện pháp
tước tự do của con người. Do đó cần phải hết sức thận trọng và phải đảm bảo các
quyền cho người bị tước tự do một cách đầy đủ nhất.
- Luận văn cũng đã nêu bật được một số thành tựu trong việc bảo đảm các
quyền cho người bị tước tự do ở Việt Nam, đặc biệt là trong việc đảm bảo các điều
kiện ăn, mặc, ở; quyền không bị tra tấn; không bị bắt, giam một cách tùy tiện; về
quyền được đối xử nhân đạo; quyền được xét xử công bằng…
11
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ
QUYỀN CỦA NHỮNG NGƯỜI BỊ TƯỚC TỰ DO
1.1. Khái niệm quyền của người bị tước tự do
1.1.1. Người bị tước tự do
Tự do là một trong những vấn đề quan trọng của con người và đã được
nghiên cứu, luận giải từ lâu, dưới nhiều góc độ triết học, chính trị, pháp lý, xã
hội học… Thời kỳ khai sáng, rất nhiều học giả đã bàn luận về tự do. Thomas
Hobbes cho rằng:
“Tự do được hiểu là, theo định nghĩa chính xác của từ này, sự vắng mặt của
những trở ngại bên ngoài; những trở ngại đó thường tước đi một phần sức mạnh của
con người để làm điều ta muốn làm, nhưng không thể ngăn cản ta sử dụng sức
mạnh còn lại của mình theo sự sai khiến của lý trí và sự suy xét của chính bản thân
mình”. [20, tr.127-128].
Montesquieu thì khẳng định: “Tự do là quyền được làm tất cả những điều mà
luật pháp cho phép” [20, tr. 161].
Qua hai khái niệm của hai học giả nói trên có thể thấy, khái niệm của
Montesquieu mang tính pháp lý cao và tiếp cận gần với khái niệm tự do trong xã
hội hiện đại ngày nay đồng thời cũng gần với tư tưởng về nhà nước pháp quyền.
Còn khái niệm của Thomas Hobbes đã chỉ ra hai thành tố quan trọng của tự do, đó
là tự do nhân thức và tư do hành động.
Ngày nay, tự do có thể được hiểu là tình trạng một cá nhân có thể và có khả
năng hành động theo ý chí, nguyện vọng của mình phù hợp với các quy phạm pháp
thức và tên gọi khác, cụ thể như: bắt, tạm giữ; quản chế; đưa vào trường giáo
dưỡng; đưa vào các trung tâm cải tạo, giáo dục… Tức là bên cạnh các trường hợp
giam giữ theo thủ tục hình sự thì tước tự do còn bao gồm cả giam giữ theo thủ tục
hành chính. Nhiều quốc gia trên thế giới có luật về bắt, giam giữ hành chính, song
chủ yếu đề cập đến các tình huống: giam giữ những người nhập cư lậu để chờ giải
quyết thủ tục liên quan, ví dụ như ở Australia có các trung tâm tạm giữ ngoài khơi
13
cho người nhập cư và tị nạn đến Australia bằng đường biển; hay là giam giữ những
nghi can khủng bố (Luật yêu nước của Hoa Kỳ sau ngày 11/9/2001…); hoặc giam
giữ trong những tình huống liên quan đến an ninh quốc gia (biểu tình, tình trạng
khẩn cấp của quốc gia…). Chỉ có số ít nước quy định về bắt, giam giữ hành chính
với những đối tượng như trẻ em có hành vi trái pháp luật, người mại dâm, người
nghiện ma túy, người có hành động nguy hại cho chính quyền…
Cơ sở của việc tước tự do là khi một người có hành vi xâm hại tự do của
người khác và xâm hại đến lợi ích cộng đồng. Hoặc người đó có nguy cơ ảnh hưởng
đến cộng đồng, ví dụ trong tình trạng dịch bệnh… Việc tước tự do phải được điều
chỉnh bằng nhiều quy phạm pháp luật, đặc biệt là trong lĩnh vực hành chính và tư
pháp hình sự. Các biện pháp tước tự do là cần thiết trong những điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể. Tuy nhiên cần hết sức thận trọng, bởi lẽ những biện pháp này khi áp
dụng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người. Nhân loại văn
minh toàn thế giới đã thừa nhận rằng tự do là một yếu tố nền tảng của nhân phẩm.
Việc tước đoạt tự do trong nhiều trường hợp làm tổn hại nghiêm trọng đến nhân
phẩm. Khi một người bị bắt, tạm giữ, tạm giam hay bị cầm tù đều có một tình trạng
chung đó là bị hạn chế tự do thân thể, tự do đi lại, cư trú trong một khoảng thời
gian nhất định. Vì thế, quyền và lợi ích hợp pháp của họ dễ bị ảnh hưởng, xâm
phạm. Từ đó dẫn đến yêu cầu cần thiết phải bảo đảm quyền cho nhóm người này.
Tước tự do phải theo thủ tục được pháp luật quy định và phù hợp với luật nhân
quyền quốc tế. Tước tự do hợp pháp và chính đáng thông thường phải qua trình tự
tư pháp và bởi tòa án, song trong một số trường hợp hạn chế, cơ quan hành pháp
vệ các cá nhân và nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc làm tổn hại đến
nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.” [17, tr.22].
Như vậy, quyền con người được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn
có và khách quan của con người được thừa nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia
và các thỏa thuận pháp lý quốc tế. Các quyền con người có thể gây cản trở lẫn nhau,
chúng bị giới hạn bởi các quyền và tự do của người khác hay bởi các yêu cầu về đạo
đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ [21, tr.656].
Bên cạnh các cá nhân, chủ thể của quyền con người còn là các nhóm xã hội
15
nhất định, trong đó có các nhóm dễ bị tổn thương, ví dụ như phụ nữ, trẻ em, những
người bị tước tự do Quyền cá nhân được hiểu là "các quyền thuộc về mỗi cá nhân,
bất kể họ có hay không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào, và việc
hưởng thụ các quyền này là tùy thuộc ý chí của mỗi cá nhân" [15, tr.14]. Chẳng hạn
như quyền sống, quyền tự do đi lại, tự do cư trú… Còn quyền của nhóm được hiểu
là “những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định, mà
để được hưởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của nhóm, và đôi khi cần
phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm” [15, tr.14]. Ví dụ như quyền
tự do lập hội, tự do hội họp…
Việc thừa nhận và bảo đảm các quyền của nhóm là hết sức cần thiết và quan
trọng. Việc coi nhẹ, phủ nhận các quyền của bất cứ nhóm nào đều có thể dẫn đến
mất ổn định trong xã hội. Bởi lẽ ở mỗi quốc gia, khu vực do các nguyên nhân xã
hội, lịch sử luôn tồn tại những nhóm người có trình độ phát triển, vị thế và năng
lực khác nhau. Việc quy định quyền của nhóm không phải là phủ nhận tính phổ quát
của quyền con người. Đồng thời cũng không đi ngược lại với nguyên tắc cơ bản của
luật quốc tế về quyền con người là nguyên tắc tất cả các quyền con người được áp
dụng một cách bình đẳng với tất cả mọi người. Bởi lẽ bình đẳng không có nghĩa là
cào bằng mức độ hưởng thụ, điều này thực chất lại là bất bình đẳng. Bình đẳng ở
đây phải được hiểu là bình đẳng về tư cách chủ thể và cơ hội thụ hưởng các quyền
con người. Điều đó có nghĩa là mọi thành viên trong cộng đồng nhân loại đều có cơ
đánh đập, bị bức cung… Điều đó xuất phát từ chính một bộ phận những người thi
hành công vụ, những người cầm quyền. Một số người dân cũng có cái nhìn không
mấy thiện cảm với những người bị tước tự do. Bị kỳ thị là nguyên nhân khiến họ bị
tổn thương về mặt tinh thần.
Thứ hai: Đó là những quyền cơ bản và đặc thù của con người cho dù họ có
bị tước hoặc hạn chế một số quyền tự do.
Quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ,
vận dụng, thi hành Và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi
để giành lại. Quyền của người bị tước tự do là một bộ phận cấu thành của quyền con
người. Quyền con người xuất phát từ chính phẩm giá của mỗi con người, không phân
17
biệt giới tính, dân tộc, màu da, ngôn ngữ hay bất kỳ địa vị nào. Người bị tước tự do
cũng có những phẩm chất và giá trị con người. Không phải vì bị tước tự do mà các
giá trị con người của họ bị mất hết và không còn là con người. Vì vậy họ cũng phải
có các quyền con người cơ bản – những quyền mà tạo hóa ban cho và không ai có thể
tước đoạt. Nhân phẩm là những phẩm chất, giá trị chỉ con người mới có và tạo nên tư
cách, vị thế, sự khác biệt của con người trong thế giới động vật. Phẩm giá là như nhau
và tồn tại bên trong đời sống của mỗi người. Trong bản thân khái niệm phẩm giá có
chứa tư tưởng về giá trị của mỗi con người, về tính độc nhất vô nhị và bản sắc của
mỗi cá nhân mà đươc mọi người, mọi thiết chế và toàn xã hội tôn trọng. Điểm bắt đầu
của khái niệm về quyền con người là khái niệm về phẩm giá vốn có của tất cả các
thành viên trong gia đình nhân loại như được ghi nhận trong UDHR và hai công ước
ICCPR, ICESCR. Ngay trong lời nói đầu của UDHR đã đề cập đến “phẩm giá vốn
có” [21, tr.44] của con người và khẳng định mọi người đều tự do và bình đẳng về
“phẩm giá và các quyền” (trong Điều 1) [21, tr.59]. Còn trong hai công ước ICCPR,
ICESCR đều khẳng định quyền con người “bắt nguồn từ phẩm giá vốn có của con
người” (lời nói đầu) [16, tr.77; tr.55]. Việc ghi nhận và bảo vệ các quyền con người
nói chung, quyền của người bị tước tự do nói riêng, do đó là nhằm đáp ứng những đòi
hỏi tất yếu về bảo vệ phẩm giá con người.
con người phải được quy định trong pháp luật. Như vậy, quyền con người vẫn là
những đặc quyền tự nhiên, vốn có ngay từ khi sinh ra. Nhưng khi chưa được Nhà
nước, pháp luật ghi nhận thì các quyền tự nhiên chưa trở thành quyền.
Việc phủ nhận hoàn toàn bất cứ học thuyết nào đều không phù hợp. Bởi vì,
trong UDHR và một số văn kiện khác thì nhân quyền được khẳng định rõ ràng là
các quyền tự nhiên. Cụ thể trong đoạn 1, lời nói đầu UDHR nêu rằng: “thừa nhận
phẩm giá vốn có và các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên
trong gia đình nhân loại” [21, tr.44]. Ngược lại về hình thức, hầu hết các văn kiện
pháp luật của các quốc gia đều thể hiện quyền con người là các quyền pháp lý. Hai
học thuyết quyền tự nhiên và quyền pháp lý bổ sung cho nhau chứ không loại trừ
nhau. Mâu thuẫn, đối lập chỉ do cách hiểu và vận dụng không đúng đắn. Bởi vì
thuyết về quyền tự nhiên muốn nói đến nguồn gốc, bản chất, không nói đến cách
19
thức ghi nhận, thực hiện quyền và không phủ nhận việc các quyền tự nhiên cần phải
được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật. Còn thuyết về quyền pháp lý nhấn mạnh
cách thức ghi nhận, thực hiện quyền chứ không phủ nhận nguồn gốc của quyền là tự
nhiên, vốn có. Quyền pháp lý là tập hợp chọn lọc và đã được cụ thể hóa của các
quyền tự nhiên. Tập hợp này có thể chưa bao gồm hết các quyền tự nhiên, nhưng
không tuyên bố phủ nhận những gì chưa được pháp điển hóa. Như vậy có nghĩa là
quyền con người vẫn là những gì bẩm sinh, vốn có mà pháp luật chỉ có thể thừa
nhận và bảo đảm.
Một lập luận khác chứng minh cho nhận định trên, đó là khi xét đến bản chất
của con người dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mac-Lênin: Triết học Mac-Lênin đã chỉ
ra rằng con người là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh vật với mặt xã hội; trong
tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội; con
người là chủ thể và là sản phẩm của lịch sử. Như vậy là ở con người vừa có tính tự
nhiên (sinh vật) vừa có tính xã hội. Do đó, quyền con người một mặt mang tính tự
nhiên, là những gì bẩm sinh, vốn có của mỗi con người. Mặt khác, quyền con người
cũng mang tính lịch sử và xã hội. Có nghĩa là quyền con người là kết quả và phụ