PHẦN MỞ ĐẦU
I.LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Những nỗ lực của phụ nữ nhằm giành lấy sự công bằng về chính trị, kinh
tế và xã hội ở Mĩ cũng lâu đời như chính bản thân Hợp chúng quốc Mĩ. Ngày 31
tháng 3 năm 1776, Abigail Adams đã viết cho chồng mình là John Adams đang
tham dự Đại hội Lục địa: “Trong bộ luật mới Tụi đề nghị anh hãy nhớ tới các
quý bà (Ladies) và ngày càng quan tâm đến họ hơn là những tổ tiên của anh.
Đừng để quyền lực vô hạn nằm trong tay những người chồng. Hãy nhớ rằng nếu
họ có thể thì tất cả đàn ông sẽ trở thành bạo chúa. Nếu các quý bà không được
quan tâm và bảo vệ ngay từ đầu, chúng tôi sẽ quyết tâm dấy lên một cuộc nổi
dậy, và sẽ không thể trói buộc chúng tôi bằng bất cứ thứ luật pháp nào nếu chúng
tôi không có tiếng nói hay người đại diện.”[17;1] Tuy vậy cuộc nổi dậy mà
Abigail Adams tiờn đoán đã không bắt đầu trong hơn một nửa thế kỉ.
Cuộc cách mạng Mĩ (1775 – 1783) giành thắng lợi đã đi vào lịch sử với
bản Tuyên ngôn độc lập nổi tiếng về quyền con người: “Mọi người sinh ra đều
có quyền bình đẳng. Tạo hoỏ đó ban cho họ những quyền tất yếu và bất khả
xâm phạm, trong đó có quyền sống, quyền được tự do và quyền mưu cầu hạnh
phỳc”.[5;991] Trong nguyên bản của nó, “mọi người” đồng nghĩa với “all men”
– nam giới, nghĩa là sự bất bình đẳng giữa nam và nữ đã mặc nhiên được thừa
nhận. Suốt một thể kỉ xây dựng và hoàn thiện của nền dõn chủ Hoa Kì, người
phụ nữ vẫn không được coi là chủ thể chính trị độc lập, khi họ bị phủ nhận
quyền công dân, quyền pháp lí cơ bản nhất: quyền bầu cử.
Những thay đổi mạnh mẽ trong đời sống kinh tế xã hội, chính trị và tư
tưởng của Hoa Kì và thế giới trong suốt thế kỉ XIX đầu thế kỉ XIX đã thúc đẩy
phong trào phụ nữ Mĩ bùng lên với mục tiêu và nội dung chủ yếu là đòi quyền
bầu cử cho phụ nữ. Phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mĩ thời kì này
cũng là một trong những dấu ấn đặc sắc nhất, thắng lợi to lớn nhất của làn sóng
nữ quyền đầu tiên trong lịch sử nhân loại (từ đầu thế kỉ XIX đến những năm 30
của thế kỉ XX). Thắng lợi của phong trào mở ra bước ngoặt của phụ nữ Mĩ,
nâng cao vị thế, quyền lợi và tầm ảnh hưởng mạnh mẽ của họ đối với nền chính
trị, kinh tế và xã hội Hoa Kì – siêu cường thế giới từ đầu thế kỉ XX cho đến
nghiên cứu, tìm hiểu nhằm xây dựng bài tập niên luận năm thứ ba.
II. LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU.
Liên quan đến vấn đề này đã từng có một số công trình nghiên cứu đề
cập đến, chủ yếu là tài liệu tiếng nước ngoài (Tiếng Anh):
Công trình 4 tập của các tác giả Judy Galens, Kathleen J. Edgar (2007)
American Social Reform Movements Reference Library. Thomson Gale, New
York đề cập đến những vấn đề cơ bản nhất của các phong trào cải cách xã hội
trong lịch sử Hoa Kì, trong đó có Phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ
(Women suffrage), Tập 1,2 (Almanach) giới thiệu những nột chính về diễn biến
phong trào, Tập 3,4 (Biographies và Primary source) có những phần giới thiệu về
các nhà lãnh đạo và tổ chức của phong trào qua các gia đoạn phát triển của nó.
Tác giả Eleanor Flexner với cuốn Century of Struggle: The Woman's Rights
Movement in the United States, Enlarged Edition. Harvard University Press, (1996)
- đề cập đến những nội dung cơ bản của phong trào phụ nữ thế kỉ XIX.
Cuốn With Courage and Cloth: Winning the Fight for a Woman’s Right
to Vote. National Geographic.Washington, DC. 2004 của tác giả Ann Bausum và
cuốn Women’s Suffrage in America: An Eyewitness History. Facts on Fire.New
York, 1992 của Elizabeth Frost and Cathryn Cullen-Dupon cung cấp nhiều tư liệu
quý báu về các nhà lãnh đạo, sự kiện nổi bật trong phong trào.
Chưa có tư liệu tiếng Việt nào khai thác vấn đề một cách chuyên biệt, chỉ
có một số bài giới thiệu tản mát trờn cỏc tạp chí, một vài cuốn về lí thuyết nữ
quyền và các cuốn Lịch sử nước Mĩ có những phần khái quát về thể chế dân
chủ Hoa Kì, về Hiến pháp Hoa Kì, nguyên tắc và hình thức bầu cử để bổ sung
thêm tư liệu cho vấn đề trên một số khía cạnh. Cụ thể là một số cuốn:
Nguyễn Thỏi Yờn Hương.(2005) Liên bang Mĩ, đặc điểm xã hội – văn
hoá. NXB Văn hoá Thông tin, Hà Nội.
Vũ Dương Ninh, Nguyễn Văn Hồng (2000). Lịch sử thế giới cận đại.
NXB Giáo dục, Hà Nội
Lê Huy Trâm (2002). Từ điển về chính quyền và chính trị Hoa Kì. NXB
Chính trị Quốc Gia, Hà Nội
pháp luận sử học Mác xít dựa trên quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, chủ nghĩa Mác - Lờnin và Tư tưởng Hồ Chí Minh, Phương pháp lịch sử,
Phương pháp lụgic, phân tích, so sánh, tổng hợp…Trong đó quan trọng nhất là
Phương pháp lụgic và Phương pháp lịch sử.
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1
NHỮNG NHÂN TỐ CƠ BẢN THÚC ĐẨY PHONG TRÀO ĐềI QUYỀN
BẦU CỬ CỦA PHỤ NỮ MĨ NỬA SAU THẾ KỈ XIX
VÀ HAI THẬP NIÊN ĐẦU THẾ KỈ XX
1.1. Sự bùng nổ của làn sóng nữ quyền thời cận đại và những tác
động của nó.
“Lớ tưởng nữ quyền là tập hợp những khái niệm, thuật ngữ tạo thành hệ
thống quan điểm, học thuyết có liên quan chặt chẽ với các vấn đề về quyền và
nghĩa vụ của người phụ nữ trên nền tảng văn hoá xã hội; với lí tưởng chung là
đạt tới quyền bình đẳng về các lợi ích kinh tế, chính trị, xã hội giữa nam và
nữ”.[6;18]. Lí tưởng đó hình thành và phát triển gắn bó chặt chẽ với lịch sử xã
hội loài người, trở thành cơ sở lí luận cho phong trào phụ nữ. Trong lịch sử, hệ
thống học thuyết nữ quyền có sự phát triển đa dạng, được cụ thể hoá qua các
cao trào đấu tranh của phụ nữ mà nổi bật là ba làn sóng nữ quyền trong lịch sử.
Trong đó, làn sóng nữ quyền đầu tiên diễn ra trong suốt thế kỉ XIX cho đến
những năm 30 của thế kỉ XX đã thúc đẩy phong trào đòi quyền bầu cử của phụ
nữ Mĩ (từ giữa thế kỉ XIX – 1920) bùng lên mạnh mẽ và trở thành dấu ấn lịch
sử nổi bật nhất của làn sóng đầu tiên trong lịch sử lí tưởng nữ quyền.
Trong lịch sử nhân loại, địa vị của người phụ nữ trong xã hội đã có nhiều
thay đổi gắn liền với những biến cố lớn lao của xã hội loài người. Sự xác lập và
tồn tại lâu dài của chế độ mẫu quyền thời nguyên thuỷ đã khẳng định vai trò
đứng đầu của người phụ nữ trong đời sống kinh tế, xã hội. Tuy vậy, cùng với
sự phát triển của sức sản xuất, trật tự xã hội dần dần thay đổi đã xác lập địa vị
làm chủ gia đình và thống trị xã hội của người đàn ông kể từ khi nhân loại bước
đều được sinh ra với những quyền tự nhiên là tự do và bình đẳng. Tất cả những
bất công đã và đang tồn tại giữa các công dân là kết quả của một hệ thống giáo
dục không đầy đủ và một môi trường xã hội không hoàn thiện. Và khẳng định:
cải tiến chế độ giáo dục và xây dựng một xã hội công bằng hơn có thể thay đổi
tình trạng bất bình đẳng đó.
Tuy nhiờn, những tư tưởng tiến bộ đó đầu tiên đã không có tác động
đáng kể tới địa vị thấp kém về chính trị, pháp lí cũng như quyền bình đẳng của
phụ nữ. Bởi lẽ, các nhà tư tưởng tư sản chỉ chú trọng đến nhân quyền nói chung
mà không đề cập đến địa vị của người phụ nữ trong xã hội, thậm chí còn cho
rằng: tư tưởng về quyền bình đẳng, công bằng và vị trí đại diện trong xã hội chỉ
giành cho nam giới (men). Ví dụ, một trong những nhà tư tưởng vĩ đại Jane
Jacques Rousseau đã nhận định: “Phụ nữ quá đa cảm và nhẹ dạ. Họ phù hợp
một cách tự nhiên với vai trò người bạn “cấp dưới” của đàn ụng”.[17;26]. Tuy
vậy, ngọn cờ “quyền con người” được đề cao chính là cơ sở đầu tiên cho sự trỗi
dậy của làn sóng bênh vực cho những người phụ nữ.
Đáp lại ý kiến của Rousseau và nhiều người khác coi nhẹ vai trò của
người phụ nữ trong xã hội, một tác giả nữ người Anh là Mary Wollstonecralf
đã viết tác phẩm “Sự bênh vực quyền của phụ nữ” (A vindication of the rights
of woman) (1791). Tác phẩm của Mary Wollstonecraft được coi là bản tuyên
ngôn nữ quyền đầu tiên trên thế giới. Wollstonecralf lập luận rằng, cũng giống
như đàn ông, phụ nữ là những người có lớ trớ tự nhiên nhưng phải chịu một
nền giáo dục thiếu nhiều thứ cần thiết thường dạy cho họ phải yếu mềm và
nhạy cảm. Chế độ giáo dục phải tu dưỡng sức mạnh lớ trớ vốn có của nữ giới.
Bà cũng nhận định rằng cuộc hôn nhân hạnh phúc nhất là cuộc hôn nhân bình
đẳng – trong đó người chồng và người vợ là những người bạn cũng như những
chủ thể pháp luật độc lập, nhưng sự bình đẳng trong hôn nhân chỉ có thể có
được từ sự bình đẳng về nền học vấn. Do vậy, bà yêu cầu một nền giáo dục
công bằng và có chất lượng cao hơn đối với phụ nữ. Kể từ đú, cỏc học thuyết
nữ quyền đề cao chủ nghĩa tự do, bình đẳng đã không ngừng phát triển, được
truyền bá rộng rãi ở châu Âu mà đầu tiên là ở Anh từ thế kỉ XIX.
(1906); Na Uy (1913); Đan Mạch (1915); Hà Lan và nước Nga Xô Viết (1917);
Canada và Luxămbua (1918); Áo, Czechoslovakia (bây giờ là Cộng hoà Czech
và Slovakia), Đức, Ba Lan, Thuỵ Điển (1919); Bỉ (đạt được một phần vào
1919; và trên toàn quốc gia vào 1948). Đó là thành quả nổi bật của làn sóng nữ
quyền thứ nhất, đồng thời có tác dụng cổ vũ, thúc đẩy to lớn quyết tâm giành
quyền bầu cử hợp pháp của phụ nữ trên toàn Liên bang Mĩ.
1.2. Nền dân chủ Hoa Kì với địa vị của người phụ nữ Mĩ thời kì cận đại
1.2.1. Sự phân biệt đối xử của luật pháp Hoa kì đối với người phụ nữ thôi
thúc họ đứng lờn đấu tranh giành quyền bầu cử.
Cuộc Cách mạng tư sản nổ ra lần thứ nhất ở Mĩ (1775 – 1783) đã dẫn tới
sự ra đời của một nhà nước Cộng hoà tư sản mới, nhà nước Liên bang đầu tiên
trong lịch sử nhân loại: Hợp chúng quốc Mĩ, với bản Tuyên ngôn độc lập nổi
tiếng đã đi vào lịch sử nhân loại, nêu cao ngọn cờ bình đẳng, tự do. Hiến Pháp
Liên bang 1787 được nước Mĩ coi là sự cụ thể hoá của lí tưởng Tuyên ngôn
độc lập, đã xác lập chính thức thế chế cộng hoà dân chủ của nhà nước Liên
bang Mĩ. Trong đó, một trong những dấu hiệu cơ bản nhất thuộc về bản chất
của thể chế nhà nước này là “quyền phổ thông đầu phiếu” cho tất cả mọi cụng
dõn, là sự thể hiện nguyên tắc nhà nước thuộc về nhân dân.
Mặt khác, quyền bầu cử là một quyền công dân, quyền chính trị cơ bản
nhất, một trong những quyền thiêng liêng của con người đã được khẳng định
trong “Tuyên ngôn dân quyền” (1791) - Mười điều Sửa đổi, bổ sung đầu tiên
của Hiến pháp Liên bang Mĩ. Thông qua việc thực hiện quyền bầu cử, người
dân thể hiện trách nhiệm công dân của mình, đóng góp để xây dựng nên bộ
máy nhà nước đảm bảo cho sự ổn định và phát triển mọi mặt của đất nước.
Tuy vậy, khái niệm “công dân” lúcbấy giờ có nghĩa là chỉ những người đàn
ông da trắng theo đạo Tin Lành có tài sản mới được bầu cử. Phụ nữ, người nghèo, tôi tớ
làm thuê, người theo đạo Thiên Chúa và Do Thái, nô lệ từ châu Phi hay người bản địa
Mỹ đều không được bao hàm trong đó. “Nhà sử học Michael Schudson viết: "Cũng như
nô lệ và tôi tớ, phụ nữ được xác định bởi sự lệ thuộc của họ. Tư cách công dân chỉ thuộc
về những ai làm chủ cuộc sống của mỡnh” . Do những hạn chế đó, chỉ có khoảng 6% số
đình không được là bị đơn hay nguyên đơn trong các vụ kiện cáo, không được
tham gia vào hội đồng xét xử tại toà án, không có quyền sở hữu tài sản riêng
(dù là tài sản thừa kế hay kiếm được), không có quyền viết di chúc.
Mặt khác, phụ nữ không có quyền li dị trừ trường hợp bị bạo hành hết mức.
Nếu li dị, quyền chăm sóc con cái vĩnh viễn thuộc về người chồng. Phụ nữ không
có quyền theo đuổi con đường học vấn hay tìm kiếm một công việc nào đó ngoài
xã hội. Họ chỉ được phép tham gia những chương trình giáo dục nằm trong khuụn
khổ các kĩ năng chăm sóc con cái, quán xuyến công việc gia đình.
1.2.2. Hiến pháp Hoa Kì – “bộ luật tối cao của nhà nước” với tính tiến
bộ và linh hoạt đã tạo điều kiện cho người phụ nữ thay đổi địa vị pháp lí.
Hiến pháp Liên bang là sự phản ánh rõ nét nhất đặc trưng và bản chất
của thể chế dân chủ Hoa Kì thông qua nhưng nội dung và nguyên tắc của nó:
“đó là vấn đề chia sẻ quyền lực giữa chính phủ Liên bang và các bang; vấn đề
tam quyền phân lập giữa ba bộ phận hành pháp, tư pháp, lập pháp; vấn đề bảo
vệ quyền tự do cá nhân và tính linh hoạt có thể điều chỉnh tuỳ theo hoàn cảnh
của Hiến pháp.”[4;166]
Trong đó, khi xem xét trong mối liên hệ với cuộc đấu tranh đòi quyền
bầu cử của phụ nữ trong thế kỉ XIX đến đầu thế kỉ XX, có thể thấy, nguyên tắc
thứ nhất, thứ ba và thứ tư có tác động chi phối nhiều nhất đến mục tiêu, hình
thức, biện pháp cũng như tính lâu dài trên thực tế của phong trào.
Thứ nhất, Hoa kì là một nước cộng hoà Liên bang, do vậy có sự tồn tại
đồng thời của hai hệ thống cơ quan nhà nước, hai hệ thống pháp luật của toàn
Liên bang và của từng bang và Hiến pháp Liên bang được coi là “bộ luật tối
cao của quốc gia” [5;1010]. Do vậy, trong nội bộ từng bang có những độc lập
nhất định về các vấn đề riêng của bang, luật pháp bang nếu không mâu thuẫn
với nhu cầu và lợi ích của nước Mĩ thì đều được chấp nhận. Chính vì vậy,
nhiều quy định của luật pháp các bang trên thực tế là rất khác nhau đối với
công dân của riêng mình. Liên hệ với phong trào đòi quyền bầu cử cho phụ nữ,
chúng ta thấy rằng, trên cơ sở những quy định này mà phong trào đòi quyền
bầu cử của phụ nữ trong hầu hết các giai đoạn đã đi theo con đường thực hiện
thứ nhất quy định: “Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết
lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của
dân chúng được hội họp và kiến nghị chính phủ sửa chữa những điều gây bất
bỡnh”[5;1011]. Đó là bầu không khí dân chủ rộng rãi đảm bảo cho những nhà
hoạt động nữ vì quyền bầu cử có thể tự do hội họp, diễn thuyết, lập tổ chức, ra
cơ quan ngôn luận, mít tinh, diễu hành vì mục tiêu phong trào mà bất cứ định
kiến xã hội gay gắt nào cũng không có quyền phủ nhận.
Có thể nói, thể chế dân chủ Hoa Kì với hạn chế của nó đối với quyền
chính trị của phụ nữ đã thôi thúc họ đứng lên đấu tranh, song những nguyên tắc
và nội dung tiến bộ của nó cũng tạo điều kiện cho cuộc đấu tranh cuả họ giành
thắng lợi, cũng như định hướng mục tiêu, nội dung, hình thức…của phong trào.
1.3. Những làn sóng cải cách mạnh mẽ trong xã hội Mĩ từ đầu thế kỉ
XIX đến hai thập niên đầu thế kỉ XX
1.3.1. Các cuộc vận động cải cách xã hội nửa đầu thế kỉ XIX và tác dụng
của nó đối với sự ra đời của phong trào phụ nữ Mĩ.
Thắng lợi của Cách mạng tư sản lần thứ nhất (1775 – 1783) đó thỳc đẩy
sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế tư bản trong một nhà nước Liên bang
đang hoàn thiện. Công nghiệp phát triển, chế độ nô lệ tiếp tục duy trì và mở
rộng, sự mở rộng lãnh thổ về phía Tây kéo theo những vấn nạn xã hội mới
cần giải quyết: đời sống cực khổ của những người công nhân, vấn đề nô lệ, bạo
lực, nghèo đói Những nhân tố đó làm nên bức tranh đa sắc của xã hội Mĩ thế
kỉ XIX, thúc đẩy sự nở rộ của những làn sóng cải cách xã hội liên tục nổi lên,
có tác động không nhỏ tới sự ra đời và phát triển của phong trào phụ nữ nói
chung, trong đó có phong trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ Mĩ - bắt đầu xuất
hiện không ngừng lên cao từ giữa thế kỉ XIX.
Trước hết phải kể đến cuộc “Đại tỉnh thức” tôn giáo lần thứ hai trong
lịch sử Hoa Kì diễn ra trong ba thập niên đầu thế kỉ XIX (Second Great
Awakening) với mục tiêu “đánh thức sự sùng tín đã ngủ yên trong lòng tín hữu,
đồng thời kiến tạo ảnh hưởng đáng kể trong xã hội qua nỗ lực đề cao các giá trị
đạo đức, sự công chính và lòng nhân ái”[24]. Cuộc “Đại tỉnh thức” này diễn ra
thuyết Quaker về quyền bình đẳng cho mọi người đó thỳc đẩy sự nghiệp chính
trị của họ. Ở một số khu vực, phụ nữ lập ra những nhóm vận động một cách
độc lập. Dưới sự lãnh đạo của linh mục Quaker Lucretia Mott, họ bắt đầu yêu
cầu nhận các nhà hoạt động nữ vào là thành viên của các tổ chức chống chế độ
nô lệ mà trước đây chỉ có nam giới tham gia. Năm 1850, hầu hết cỏc nhúm vận
động chống chế độ nô lệ ở các bang miền Bắc có thành viên là nữ.
Đồng thời, qua những phong trào này, phụ nữ Mĩ đã nhận thức ngày một
sâu sắc hơn địa vị bất bình đẳng của mình so với nam giới. Các nhà hoạt động
nữ sớm nhận ra quyền hạn của họ trong các tổ chức này rất hạn chế, nó xuất
phát từ định kiến đang ăn sâu trong xã hội là: người phụ nữ ngoài thiên chức
làm mẹ làm vợ không nên dính líu vào cải cách chính trị hay xã hội. Đã có một
số tổ chức cải cách xã hội dành riêng cho phụ nữ, song lãnh đạo của những tổ
chức này lại là nam giới. Phụ nữ bị từ chối tham gia vào các vị trí lãnh đạo thực
thụ, mà thường chỉ hoạt động với vai trò thư kí, trợ lí. Họ không được quyền
phát biểu hay bầu cử trong các cuộc họp, các buổi mít tinh. Một số sự kiện nổi
bật đã thức tỉnh những người phụ nữ, thúc đẩy họ đoàn kết lại nhằm đấu tranh
cho nỗ lực của giới mình.
Sự kiện thứ nhất gắn liền với hai trong số các nhà hoạt động nữ có ảnh
hưởng lớn nhất là Sarah và Angelina Grimkộ, con gái của các chủ nô giàu cho
đã cải đạo theo giáo phái Quaker (thờ Chúa không theo giáo điều). Năm 1836,
họ tiến hành một số bài diễn thuyết trước các nhà hoạt động nữ, trong đó thể
hiện những trải nghiệm của bản thân về nỗi kinh hoàng đối với chế độ nô lệ.
Bằng việc phát biểu một cách thẳng thắn trước đông đảo phụ nữ và nam giới,
chị em nhà Grimkộ đó tạo nên sự hưởng ứng cũng như tranh cãi sôi nối về vấn
đề quyền của phụ nữ từ cuộc diễn thuyết đó. Các vị mục sư chỉ trích hai bà và
cho rằng bằng việc diễn thuyết trong quần chúng, hai chị em đã thể hiện “tớnh
cỏch quỏi đản”. Đáp lại, chị em nhà Grimkộ đó vẽ nên sự tương đồng giữa
cảnh ngộ khốn khổ của những người phụ nữ da trắng với những người Mĩ gốc
Phi, họ đều bị coi là những người có trí tuệ thấp kém và bị từ chối tiếp cận một
nền giáo dục đầy đủ. Sarah Grimkộ lập luận rằng “phụ nữ và nam giới được
vào năm 1836 về nguyện vọng bầu cử cho phụ nữ.
1.3.2. Phong trào cấp tiến trong xã hội Mĩ cuối thế kỷ XIX – đầu thế kỷ XX
Cuộc Nội chiến (1861 -1865) kết thúc đánh dấu sự chấm dứt của chế độ
nô lệ và mở rộng không ngừng con đường kiểu Mĩ trong nông nghiệp, đưa nước
Mĩ bước vào thời kì công nghiệp hóa và chỉ trong 3 thập niờn cuối thế kỉ X đã
dần dần làm cho Mỹ trở thành cường quốc một quốc công nông nghiệp hàng
đầu thế giới và bắt đầu can thiệp đế quốc vào các nước.
Tuy vậy, làn sóng công nghiệp hoỏ tụ đậm thêm những vấn đề xã hội vốn
đã tồn tại từ thời kì trước. Năm 1910, ước tớnh có khoảng 2/3 người Mỹ sống
dưới mức nghèo khổ, sự bùng nổ công nghiệp và đô thị hoá khiến môi trường ô
nhiễm trầm trọng, các tệ nạn xã hội không ngừng nhức nhối
Chính vì vậy, bên cạnh phong trào công nhân, các phong trào quần chúng
trong thời kì này đã nổi lên mạnh mẽ: phong trào cải cách giáo dục, cải thiện
môi trường, cải cách trong quan điểm tình dục, tình yêu, trang phục tạo thành
một phong trào theo chủ nghĩa cấp tiến thu hút nhiều trí thức, giáo sư đại học và
những nhà hoạt động vì quyền lợi của phụ nữ, và có cả những người lao động
bình thường. Những người theo “chủ nghĩa cấp tiến” thành lập hàng nghìn câu
lạc bộ, tổ chức thống nhất trên một số mục tiêu cơ bản như: chớnh quyền cấp
địa phương và tiểu bang cần phải dân chủ hơn, trung thực hơn và hiệu quả hơn;
cần kiểm soát các công ty độc quyền, những doanh nghiệp lớn phải đáp ứng
những lợi ích công cộng; cần sử dụng tài nguyên thiên nhiên hợp lý hơn; cần
phải thực hiện công bằng xã hội nhiều hơn; môi trường sống cần phải an toàn
hơn. Những người tiến bộ này đã đặt nền móng cho một nhà nước phúc lợi.
(Nhà nước có trách nhiệm điều tiết, chăm lo phúc lợi chung của xã hội).
Có thể nói, sự ra đời và phát triển của phong trào cấp tiến thời kì này đã
góp phần to lớn nhằm thay đổi quan điểm của xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ của
nhà nước và còn là một lực lượng mạnh mẽ ủng hộ và góp phần thúc đẩy phong
trào đòi quyền bầu cử của phụ nữ phát triển đến cao trào vào thế kỉ XX và
giành thắng lợi quyết định.
CHƯƠNG 2
bình đẳng hợp pháp mà phụ nữ Mĩ xứng đáng được hưởng: “Tất cả phụ nữ và
nam giới được sinh ra bình đẳng, tạo hoá đã cho họ những quyền không thể
chối cãi được là quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh
phỳc”[13;209] Tuyên ngôn phê phán những người đàn ông vỡ đó phụ nhận
những quyền công dân cơ bản mà ngưũi phụ nữ xứng đáng được hưởng : quyền
sở hữu tài sản, quyền bình đẳng trong li dị, trong vấn đề nuôi dạy con cái, kiểm
soát vấn đề sinh đẻ, quyền bầu cử Nó cũng lên án chính quyền và nam giới đã
bó buộc phụ nữ trong một môi trường giáo dục hạn chế, ngăn cản họ nâng cao
trình độ học vấn, mở rộng các cơ hội nghề nghiệp và gần như tất cả “mọi hoạt
động chính trị xã hội”. Đồng thời, Tuyên ngôn đề cập đến sự bất bình đẳng về
tôn giáo đối với phụ nữ khi nữ giới không có quyền giữ chức giám mục cũng
như tất cả các chức vụ cao trong giáo hội.
Đặc biệt, vấn đề gây tranh cãi nhiều nhất trong bản tuyên ngôn chính là
yêu cầu bầu cử cho phụ nữ do E.C.Stanton nêu ra. Bởi lẽ, cho tới đầu thế kỉ
XIX, vấn đề bầu cử cho phụ nữ vẫn bị coi là một đòi hỏi quá cấp tiến, vượt xa
những khả năng chính trị mà phụ nữ có thể đạt tới, đây không chỉ là quan điểm
của nhà cầm quyền, của đông đảo nam giới mà của cả hầu hết những người phụ
nữ, đang hài lòng với thiên chức nội trợ của mỡnh vỡ coi đó là “lẽ tự nhiờn”.
Thậm chí trong nội bộ những người tổ chức hội nghị, quyết tâm này cũng gây
sốc. Clurettia Mott đã yêu cầu loại nó ra khỏi bản tuyên ngụn vì sợ rằng “sẽ gây
tranh cãi đến nỗi ảnh hưởng xấu đến những nghị quyết khác”[13;211] của họ.
Những vấn đề được nêu ra trong bản Tuyên ngôn nhanh chóng được biểu
quyết, thông qua và trở thành nghị quyết cho phong trào phụ nữ thời kì này.
Riêng những tranh luận để thông qua yêu cầu mở rộng quyền bầu cử đã chiếm
gần hết thời gian diễn ra hội nghị. Cuối cùng, với sự kiên quyết của Stanton khi
khẳng định rằng “Nếu không có được quyền bầu cử hợp pháp thì những phụ nữ
chúng ta mãi mãi chẳng bao giờ là công dân chính thức của đất nước này, và
cũng sẽ không bao giờ có được bình đẳng thực sự”[18;14] Bên cạnh đó, được
sự ủng hộ của nhà vận động bãi nô lừng danh Frederick Douglass (1817 –
1895) yêu cầu đó đã được thông qua với 2/3 số phiếu tán thành. Một trăm đại
Seneca Falls đến trước Nội chiến Mĩ (1861 – 1865).
Hội nghị Seneca Falls đã mở đầu cho một thời kì mà mục tiêu bầu cử
của phong trào phụ nữ Mĩ chủ yếu được thực hiện bằng hình thức chủ yếu là tổ
chức những Hội nghị về quyền của phụ nữ tại các địa phương nhằm thông qua
các Nghị quyết về quyền của phụ nữ. Bên cạnh đó là nhiều cuộc diễn thuyết
bên lề hội nghị, hay trong các cuộc vận động hạn chế rượu, bãi bỏ chế độ nô lệ,
cải cách giáo dục, chế độ nhà tù, đời sống cho công nhân nữ và trẻ em
Như vậy, có thể thấy rằng, đến giữa thế kỉ XIX, yêu cầu đòi quyền bầu
cử chưa phải là nội dung, mục tiêu chủ yếu chi phối phong trào phụ nữ, mà chỉ
là một bộ phận của phong trào phụ nữ bên cạnh những yêu cầu cải cách chung
của xã hội, hay một số mục tiêu nhằm cải thiện đời sống kinh tế, và địa vị của
phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội như: quyền sở hữu tài sản, quyền li hôn,
chăm sóc con cái (trong trường hợp li dị), cải thiện chế độ giáo dục Phong
trào phụ nữ thời kì này chỉ mới bắt đầu tách khỏi các cuộc vận động xã hội
khác để trở thành một làn sóng độc lập song chưa thực sự mạnh để đạt những
thay đổi lớn lao.
Hội nghị đầu tiên được tổ chức dưới hiệu ứng “Seneca Falls và Tuyên
ngôn tình cảm” là Hội nghị Rochester (tại Rochester, New York) hai tuần sau
đó. Yêu cầu bầu cử cho phụ nữ lại được tranh luận nóng bỏng, và các đại biểu
lại phải tổ chức bỏ phiếu cho nó. Nột mới của nghị quyết Hội nghị là ngoài
những vấn đề trước đó, Hội nghị cũng thông qua yêu cầu tăng lương cho nữ
công nhân và quyền bình đẳng cho tất cả phụ nữ không phân biệt chủng tộc.
Một số bài báo viết về sự kiện này cũng ra sức nhạo báng và diễu cợt hội nghị.
Tuy nhiên sự lan truyền trên khắp cả nước của những bài báo đó lại thúc đẩy
phụ nữ ở một số bang tổ chức các cuục mít tinh, diễn thuyết vì nữ quyền.
Tiếp theo, vào tháng 4 năm 1850, một hội nghị về quyền của phụ nữ tại
Salem, Ohio đã đánh dấu bước phát triển mới khi Hội nghị hạn chế sự tham gia
của các đại biểu nam giới, thể hiện ý thức cao hơn của phụ nữ Mĩ về cuộc đấu
tranh của họ. Những người đàn ông đã từng có bất cứ tiếng nói nào phản đối
phụ nữ ở các Hội nghị khác đều được yêu cầu chỉ có thể quan sát cuộc mitinh
Những năm đầu thập kỉ 50 của thế kỉ XIX, khi phong trào phụ nữ phát
triển mạnh, một tình bạn bền chặt đã được xây đắp giữa hai người phụ nữ cú
cựng lớ tưởng đấu tranh. Năm 1850, Elizabeth Cady Stanton gặp Susan B.
Anthony (1820 – 1906) – nhà hoạt động theo phái Quarker trong cuộc vận
động hạn chế rượu, Anthony bắt đầu tập trung sức lực vào sự nghiệp đấu tranh
và bảo vệ quyền bình đẳng cho phụ nữ. Hai người đã hợp tác chặt chẽ và ngày
càng hiệu quả trên con đường hoạt động của mình. Anthony là một nhà tổ chức
và điều tra xã hội học tài giỏi, trong khi Elizabeth lại là một cây bút mạnh mẽ,
giàu sức thuyết phục đã chuẩn bị nhiều bài phát biểu và tài liệu cho phong trào.
Sự phối hợp giữa hai nhà lãnh đạo không chỉ phát huy được năng lực của từng
người mà còn phù hợp với hoàn cảnh riêng của họ: Anthony là một phụ nữ độc
thân không có con cỏi nờn bà có thể đi khắp nơi để tham dự các diễn đàn, hội
nghị; trong khi Stanton có tới 7 người con phải chăm sóc. Và dần dần, họ đã trở
thành hai lãnh tụ cấp tiến nhất, đóng vai trò trung tâm trong phong trào đòi
quyền bầu cử ở giai đoạn sau. Stanton từng khẳng định: “Tụi đó tạo ra những
tiếng sét, còn chị ấy bắn đi những tiếng sét ấy”.[18;17]
Phong trào phụ nữ trong thập niên 50 và những năm đầu thập niên 60 đã
bị gác lại bởi vấn đề nô lệ. Trong những năm 1861 – 1865 cả dân tộc Hoa Kì
rơi vào tình trạng chia cắt và một cuộc nội chiến khốc liệt giữa hai miền nam
bắc mà vấn đề nô lệ là tiêu điểm của nó. Nhiều nhà hoạt động vì nữ quyền thời
kì này đã tạm gác những mục tiêu đấu tranh lâu dài để ủng hộ mạnh mẽ cho sự
nghiệp giải phóng nô lệ ở các bang miền Nam.
2.1.3. Một số kết quả bước đầu.
Những sự kiện trên chứng tỏ rằng, đến giữa thế kỉ XIX, phong trào phụ
nữ từng bước phát triển mạnh mẽ và được tổ chức quy củ hơn, từ một bộ phận
nhỏ đã dần vươn lên trở thành một phong trào độc lập, có tiếng nói ngày càng
rộng rãi trong quần chúng. Dưới hình thức hoạt động chủ yếu là các hội nghị về
quyền của phụ nữ, diễn thuyết trong các cuộc vận động xã hội, mục tiêu giành
quyền bầu cử thời kì này mới chỉ đạt được tiếng nói nhỏ bé, quyền bầu cử cho
phụ nữ chưa được công nhận ở bất cứ bang nào. Đây là kết quả tất yếu khi mà