tóm tắt luận án con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của malaya (từ cuối thế kỉ xix đến năm 1957) - Pdf 23

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÝ TƯỜNG VÂN
CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA
TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1957
Chuyên ngành : Lịch sử Thế giới cận – hiện đại
Mã số : 62.22.50.05
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
LUẬN ÁN ĐƯỢC HOÀN THÀNH TẠI:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
Người hướng dẫn Khoa học:
- PGS.TSKH. Trần Khánh
- TS. Vũ Công Quý
Phản biện 1: PGS.TS. Nguyễn Văn Kim
Phản biện 2: PGS. TS. Nguyễn Thanh Hiền
Phản biện 3: PGS. TS. Đào Tuấn Thành
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm Luận án cấp
Học viện.
Họp tại Học viện Khoa học Xã hội, 477 đường Nguyễn Trãi,
Thanh Xuân, Hà Nội, vào hồi…… giờ… phút, ngày ……
tháng…… năm 2013.
Có thể tìm hiểu Luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học Xã hội
DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ
LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1. (Viết chung) Trần Khánh chủ biên (2012), Lịch sử Đông Nam Á, Tập

văn Thạc sĩ và hai đề tài nghiên cứu khoa học với chủ đề là những vấn đề chính
trị-xã hội hiện đại của Malaya. Mặc dù luôn nhận được sự đánh giá cao đối với
các kết quả nghiên cứu của mình nhưng bản thân tôi vẫn chưa thấy thỏa mãn
bởi chưa đi đến tận cùng vấn đề khi giải quyết mối liên hệ giữa xã hội Malaysia
hiện đại với xã hội truyền thống của nó. Đó là lý do đầu tiên nhất đưa tôi trở lại
tiến trình lịch sử của Malaysia. Trong giai đoạn “thuộc Anh”, tôi lại lựa chọn
vấn đề con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya, một vấn đề
cho đến nay vẫn chưa được lý giải đầy đủ, do đó ở Việt Nam vấn đề vẫn chưa
được nhìn nhận, đánh giá đúng với bản chất của nó mà thường bị gộp vào với
các phong trào dân tộc có chút ít điểm tương đồng. Bởi vậy vấn đề này nên
được nghiên cứu.
2. Ý nghĩa Khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh cả nhân loại tiến bộ lấy thập kỉ 2011-2020 là thập kỉ quốc
tế thứ ba loại trừ chủ nghĩa thực dân, đứng từ góc độ lịch sử có thể nhận thấy
tầm quan trọng của việc đặt lại những vấn đề liên quan đến thực dân hóa, phi
thực dân hóa, hay vấn đề đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa.
Hơn nữa, trong thời kì thuộc địa của Đông Nam Á (ĐNA), Malaya được coi là
một trường hợp khá đặc biệt, bởi vì người ta vẫn thường cho rằng, trước Chiến
tranh thế giới II (CTTGII) “người Malay là tộc người ít quan tâm đến chính trị
nhất trong số các tộc người ở Đông Nam Á”, hay chẳng có gì thực sự đáng chú
ý xảy ra ở Malaya cho đến tận năm 1945 vì ở Malaya hoàn toàn không có khái
niệm “người Malaya” mà chỉ có “người Malay”, “người Hoa” và “người Ấn
Độ”, ngay bản thân “người Malay” cũng không thể tồn tại với tư cách là một
cộng đồng thống nhất, do đó cũng không tồn tại khái niệm “quốc gia Malaya”.
Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một năm sau khi CTTGII kết thúc, người ta lại thấy
“Anh đang phải đối mặt với sức mạnh đoàn kết toàn diện chưa từng thấy của
người Malay”. Lại tiếp tục được coi là đặc biệt nếu so sánh Malaya với một số
thuộc địa khác ở ĐNA. Trong khi Việt Nam hay Inđônêsia mặc dù đều có ý
thức độc lập dân tộc mãnh liệt ngay từ rất sớm nhưng cả ba đều phải tiến hành
2

đương nhiên chi phối sự lựa chọn hay cách thức tiến hành con đường đấu
tranh giành độc lập ở đất nước này. Các yếu tố đó gồm đặc tính đa cộng
đồng (cộng đồng bản địa và các cộng đồng nhập cư), sự tồn tại và phát triển
3
của chủ nghĩa cộng đồng, yếu tố đa đảng phái chính trị và đặc tính tâm lý
dân tộc-tôn giáo của người Malay Hồi giáo.
- Về sử dụng thuật ngữ: “Malaya” là tên gọi của đất nước trong suốt thời kì
thuộc Anh.“Người Malay”là cộng đồng người Malay bản địa để phân biệt với
hai cộng đồng nhập cư “người Hoa”, “người Ấn Độ”. “Người Malaya” là bao
gồm toàn bộ người dân sinh sống ở đất nước Malaya.
3.3. Phạm vi: Về không gian: “Malaya thuộc Anh” có giới hạn địa lý là toàn
bộ phần phía Tây của lãnh thổ Malaysia ngày nay. Về thời gian: từ cuối thế kỉ
XIX (thực dân Anh hoàn thành về cơ bản quá trình bành trướng thuộc địa vào
các tiểu quốc Malay) đến năm 1957 (năm Malaya tuyên bố nền độc lập). Về
phạm vi vấn đề nghiên cứu: Đề tài xem xét quá trình định hình con đường đấu
tranh thông qua sự vận động, phát triển của các yếu tố đặc thù của xã hội
Malaya như đã nói ở trên, qua đó chỉ ra khả năng tối ưu nhất của con đường
này trong việc đáp ứng các yêu cầu của lịch sử và tình hình thực tiễn của đất
nước. Một số vấn đề và nội dung có liên quan sẽ được đặt trong mối liên hệ
với Inđônêsia, quốc gia trong cùng “thế giới Malay”, “thế giới Hồi giáo” và
có nhiều tác động trực tiếp với Malaya. Việc so sánh giữa các con đường
đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đòi hỏi phải hết sức thận
trọng vì như D.G. Hall đã nói “khái quát hóa sẽ rất nguy hiểm”. Chúng tôi
sẽ chỉ ra những yếu tố chi phối vấn đề này ở một số thuộc địa.
4. Phương pháp nghiên cứu
Chúng tôi sử dụng các phương pháp: Phương pháp nghiên cứu tư liệu (để
thu thập và xử lý nguồn tài liệu lưu trữ cùng các tài liệu tham khảo khác),
phương pháp lịch sử cùng các phương pháp bổ trợ khác như phương pháp
thống kê, so sánh, phương pháp nghiên cứu liên ngành dân tộc học và xã hội
học văn hóa, xã hội học lịch sử. Ngoài ra, cũng cần phải dựa trên cách tiếp cận

Ở Việt Nam, có rất ít tư liệu về Malaya/Malaysia, tư liệu liên quan trực
tiếp đến vấn đề nghiên cứu của Luận án lại càng ít hơn. Do đó, một số công
trình thông sử ĐNA rất có giá trị tham khảo đối với Luận án: Lịch sử Đông
Nam Á [41], Lịch sử Đông Nam Á, tập IV Đông Nam Á trong thời kì thuộc địa
và phong trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ XVI đến năm 1945
[37] và hai công trình được dịch từ tiếng Anh Lịch sử Đông Nam Á của D. Hall
[34] và Lịch sử Đông Nam Á hiện đại của C. Christie [33] Chuyên luận Lịch sử
phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ XX - Một cách tiếp cận bao quát cả về lý
luận lẫn thực tiễn về các phong trào giải phóng dân tộc. Các bài nghiên cứu
trên các tạp chí chuyên ngành vẫn không trực tiếp về Malaya, nhưng đề cập
đến vấn đề nghiên cứu là phong trào đấu tranh giành độc lập được nhìn trên
5
bình diện toàn khu vực, đặc biệt có một số vấn đề được nhìn nhận lại, nhìn
nhận mới bằng những quan điểm mới như “Vấn đề xác định thời điểm thiết lập
chủ nghĩa thực dân phương Tây ở Đông Nam Á”, “Bối cảnh Đông Nam Á
trước sự xâm nhập và thôn tính thuộc địa của phương Tây”, “Nhìn lại cuộc đấu
tranh giành độc lập của Đông Nam Á thế kỉ XX”…
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Trước hết phải kể đến khối tư liệu được viết bởi các thế hệ các nhà cai trị
người Anh đồng thời là các nhà nghiên cứu về Malaya. Vì trách nhiệm của
mình, những ghi chép, bàn luận đó có giá trị khoa học nhất định, mặc dù không
thể không thừa nhận rằng những tư liệu này bị bao trùm bởi tư tưởng thực dân
và quan điểm “châu Âu trung tâm”. Tiêu biểu có các công trình, bài viết của F.
Swettenham (British Malaya: An account of the origin and progress of
British influence in Malaya hay “British rule in Malaya”), R. Wilkinson (A
History of Peninsular Malays), R. Winstedt (The Malays: A Cultural
History). Slicock T.H., Robert Heussler và Victor Purcell là thế hệ thứ ba các
nhà thực dân với nhiều công trình mang dấu ấn thực dân đậm nét, tiêu biểu có
British rule in Malaya: The Malayan Civil Service and its predecessors
1867-1942, Completing a stewardship: the Malayan Cilvil Service, 1942-

án có thể thấy tư liệu rất tản mạn trên nhiều khía cạnh: lịch sử, chính trị,
kinh tế, xã hội, đến các khía cạnh văn hóa, tôn giáo, tộc người. Những tài
liệu đề cập đến quá trình đi đến độc lập của Malaya lại hầu như chỉ mang
tính chất mô tả diễn biến từ sau Chiến tranh thế giới II, thậm chí sau khi
xuất hiện Đảng Liên minh đến năm 1957. Trên cơ sở của vấn đề nghiên cứu
được xác định, ‘bức tranh đa chiều’ nói trên cho phép chúng tôi quan sát
vấn đề nghiên cứu theo cả chiều rộng lẫn chiều chiều sâu, đưa lại cho chúng
tôi khả năng phân tích toàn diện vấn đề nghiên cứu, luận giải có tính hệ
thống về quá trình định hình và lựa chọn một con đường đấu tranh giành
độc lập dân tộc của Malaya.
Chương 2
MALAYA DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA ANH
CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX
2.1. TỪ VƯƠNG QUỐC HỒI GIÁO MALACCA ĐẾN THUỘC ĐỊA MALAYA CỦA ANH
2.1.1.Hồi quốc Malacca và những thế kỉ đầu tiếp xúc với phương Tây (1400-1786)
Sự hưng thịnh của vương quốc Malacca một phần được đưa đến bởi sự
gia nhập vào thế giới Hồi giáo. Hồi giáo sau khi xâm nhập vào xã hội
Malay nhanh chóng trở thành tôn giáo dân tộc của cộng đồng người Malay.
Các lý tưởng và các giá trị văn hóa của Đạo Hồi hình thành đặc tính tâm lý
7
dân tộc-tôn giáo của người Malay Hồi giáo với giá trị cốt lõi là lòng trung
thành tuyệt đối với các Quốc vương Malay, đồng nghĩa với lòng trung
thành với các tiểu quốc của họ. Văn hóa của người Malay cùng ngôn ngữ
Malay đã lan tỏa đến các cư dân trên quần đảo Malaya - Inđônêsia. Với vị
trí và vai trò của một trung tâm thương mại, tôn giáo và văn hóa lớn trong
khu vực, Hồi quốc Malacca đã tạo lập một sự khởi đầu vững chắc cho quá
trình lịch sử của Malaya. Từ năm 1511, Bồ Đào Nha và Hà Lan lần lượt
xâm chiếm Malacca và coi đó là pháo đài bảo vệ các lợi ích thương mại họ
ở ĐNA.
2.1.2.Malaya trở thành thuộc địa của Anh (1786-1914)

Inđônêsia. Đến đầu thế kỉ XX, trong khi ngoại kiều (chủ yếu là người Hoa và
một số là người châu Âu) nắm giữ vai trò chủ thể của nền kinh tế Malaya thì
cộng đồng người Malay bị biến thành “giai cấp nông dân cố định”, bị bó hẹp
hoàn toàn với nền kinh tế truyền thống.
2.2.2. Hình thành xã hội đa tộc người và các nguyên nhân mâu thuẫn tộc người
Để đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực cho các ngành kinh tế hiện đại,
chính quyền Anh đã nhập khẩu lao động người Hoa và người Ấn Độ trên qui
mô lớn. Sự thiếu kiểm soát sau đó đã đưa đến sự hình thành xã hội Malaya đa
tộc người. Cơ cấu tộc người trên bán đảo Malaya thay đổi theo hướng số người
Hoa dần vượt qua số người Malay (theo các cuộc điều tra dân số năm 1921,
1931, 1941). Số người Ấn Độ luôn giữ ở mức thấp (15%). Sự chuyên biệt hóa
ngành nghề kinh tế kéo theo sự phân bố cư dân theo tộc người (người Hoa ở
các đô thị và các trung tâm kinh tế lớn, người Malay ở những vùng nông
thôn nghèo nàn lạc hậu), những khoảng cách ngày càng lớn về trình độ phát
triển kinh tế, văn hóa, giáo dục là những nguyên nhân đưa đến chủ nghĩa cộng
đồng ngày càng tăng trong xã hội Malaya.
2.2.3. Sự phát triển của đội ngũ trí thức người Malay
Chính sách giáo dục đối với người Malay bản địa nằm trong hệ thống chính
sách “chia” để “trị”. Vì vậy, chính quyền xây dựng chương trình giáo dục tinh
hoa dành cho tầng lớp quý tộc và chương trình giáo dục “thiên về nông thôn”
dành cho số đông dân chúng còn lại. Thông qua chính sách kép này, chính
quyền Anh vừa lôi kéo sự ủng hộ của giới quý tộc Malay lại vừa kiểm soát
được xã hội Malaya thông qua hai kênh: một kênh là lòng trung thành của
dân chúng đối với Quốc vương và giai cấp thống trị truyền thống và một
kênh là sự kìm hãm về tri thức lẫn khả năng kinh tế của thường dân Malay,
từ đó ngăn chặn sự thức tỉnh chính trị của lực lượng xã hội đông đảo này.
Dòng giáo dục tôn giáo của người bản địa Malay cũng phát triển mạnh từ đầu
9
thế kỉ XX với sự xuất hiện của loại hình trường cách tân Hồi giáo. Trong bối
cảnh đó, một đội ngũ trí thức người bản địa Malay đã hình thành và phát

và “thế giới Malay” với Malaya, vận động dựa trên ý tưởng về Inđônêsia
10
thống nhất: “Một quốc gia - Inđônêsia; Một dân tộc - người Inđônêsia;
Một ngôn ngữ - tiếng Inđônêsia”; thậm chí từ chính những hoạt động chính trị
hướng về tổ quốc Trung Hoa hay Ấn Độ của các cộng đồng nhập cư người
Hoa, người Ấn tại Malaya.
3.2. PHONG TRÀO CẢI CÁCH DƯỚI SỰ DẪN ĐƯỜNG CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TÔN GIÁO
Các trí thức tôn giáo Malay trở về từ Đại học Cairô ở Ai Cập đã đi tiên
phong trong phong trào dân tộc ở Malaya thời kì này. Qua hoạt động báo chí,
họ nêu lên tư tưởng cần phải cải thiện sự trì trệ của cộng đồng Malay nhưng
phải bắt đầu trước hết từ khía cạnh tôn giáo vì người Malay thiếu những kiến
thức đúng đắn về đạo Hồi, về nguyên lý phát triển của đạo Hồi, do đó phải
biến Hồi giáo thành một đòn bẩy tinh thần để gắn kết sự năng động của mỗi cá
nhân vào tương lai cao hơn của cộng đồng Malay. Những người có tư tưởng
cải cách tập hợp trong nhóm Kaum Muda để phân biệt với nhóm Kaum Tua
đứng đầu là các Quốc vương. Kaum Muda phản đối chủ nghĩa bảo thủ tôn
giáo của Kaum Tua, chủ trương khôi phục sự trong sáng của các học thuyết
tôn giáo, cải cách phát triển dân chủ. Tư tưởng chống lại Quốc vương của
Kaum Muda không thu hút mối quan tâm của quần chúng Malay, những người
mộ đạo luôn đi theo Quốc vương như đi theo “cái bóng của Thượng đế trên trái
đất”.
3.3. NHÓM TRÍ THỨC CHỊU ẢNH HƯỞNG CỦA NỀN GIÁO DỤC ANH VÀ
PHONG TRÀO ĐẤU TRANH VÌ “QUYỀN ĐẶC BIỆT” CỦA NGƯỜI MALAY
Đối diện với mối hiểm họa từ việc gia tăng nhanh chóng cả về số lượng
cư dân lẫn sức mạnh kinh tế của người Hoa, nhóm trí thức này đã thành lập
tổ chức chính trị đầu tiên của người Malay: Hiệp hội người Malay Singapo
(KMS) năm 1926 với mục tiêu bảo vệ “quuyền đặc biệt” của người Malay,
nắm quyền quản lý đất nước, để đất nước không bị chi phối bởi những
người không phải Malay. Khi các lãnh tụ người Hoa đấu tranh đòi được đối
xử công bằng như người Malay đã thúc đẩy chủ nghĩa cộng đồng của người

phối yếu tố lực lượng của các phong trào phụ thuộc rất lớn vào đặc tính tâm
lý dân tộc-tôn giáo của người Malay Hồi giáo. Những tư tưởng phê phán
các Quốc vương của nhóm trí thức tôn giáo và bình dân không giành được
sự ủng hộ của quần chúng là toàn bộ người Malay theo Hồi giáo luôn trung
thành tuyệt đối với các Quốc vương. Chủ nghĩa cộng đồng lại khiến các
phong trào hướng mũi nhọn đấu tranh vào người Hoa là đặc điểm tiếp theo.
Mặc dù phong trào của giới trí thức quý tộc chiếm vai trò chủ đạo nhưng
chúng tôi cho rằng không nên và không thể bỏ qua một số yếu tố dù mới chỉ
trên phương diện tư tưởng do KMM đề xuất về tinh thần “thống nhất”, về ý
12
niệm “một dân tộc Malay”, “một quốc gia Malaya” trong bối cảnh người
Malay ở mỗi bang (là các Sultanate trước đây) chỉ gìn giữ lòng trung thành
với Quốc vương và với bang của mình, hay tinh thần chống đế quốc thực
dân, giành độc lập dân tộc. Bởi vì tất cả những ý tưởng này không chỉ trở
thành hiện thực ở Malaya, mà thậm chí chúng còn được nhận diện là dấu
hiệu trưởng thành chính trị vượt bậc của người Malay/Malaya ở giai đoạn
hậu chiến, giai đoạn bản lề trong quá trình lựa chọn dứt khoát một con
đường đấu tranh giành độc lập dân tộc cho Malaya.
Chương 4
CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA
TỪ SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II ĐẾN NĂM 1957
4.1. TÁC ĐỘNG CỦA GIAI ĐOẠN NHẬT BẢN CHIẾM ĐÓNG MALAYA (1942-1945)
4.1.1. Tầm quan trọng của Malaya trong chiến lược Đại Đông Á của Nhật Bản
Bán đảo Malaya là mục tiêu hàng đầu của đế quốc Nhật Bản trong cuộc
chinh phục ĐNA vì ngoài ý nghĩa là trục trung tâm thông tin liên lạc, giao lưu
kinh tế cho cả khu vực, là thành trì về quân sự của đế quốc Nhật Bản ở
Đông Nam Á mà Malaya với cứ điểm Singapo còn đóng vai trò là đầu não bộ
máy chiến tranh của Nhật ở ĐNA. Với ý nghĩa đó, các chính sách Nhật Bản
triển khai ở Malaya chắc chắn sẽ đưa lại nhiều tác động trên nhiều phương
diện.

bang của mình được khắc sâu trong tâm trí ý chí thép bảo vệ bán đảo, được
nuôi dưỡng khát vọng phục vụ đất nước, góp sức mình xây dựng sự thịnh
vượng cho bán đảo. Ý thức về sự đoàn kết là một chuyển biến rất đáng chú ý
của người Malay trước hành động của MMA trao 4 bang phía bắc bán đảo cho
Thái Lan làm cán cân dân số nghiêng về phía người Hoa, đặc biệt là Kế hoạch
độc lập cho Malaya nhưng lại căn cứ trên tình hình dân số của người Hoa nhập
cư. Nhìn chung, giai đoạn Nhật Bản chiếm đóng đã thực sự biến Malaya từ
“một vùng đất vốn bị tù túng về chính trị” trở thành “một vùng xoáy về chính
trị”.
4.2. MALAYA NGAY SAU CHIẾN TRANH THẾ GIỚI II: CHÍNH SÁCH CỦA
ANH VÀ TÌNH TRẠNG PHÂN CỰC CỦA NỀN CHÍNH TRỊ MALAYA
4.2.1. Bối cảnh quốc tế thời hậu chiến
CTTGII đã làm suy giảm ảnh hưởng quốc tế của các cường quốc thực dân
truyền thống. Quyền lực chuyển từ Anh, Pháp sang hai siêu cường mới là Mĩ
và Liên Xô. ĐNA sau chiến tranh cũng trở thành mối quan tâm đặc biệt của
Mĩ, nhưng Mĩ buộc phải chấp nhận để ĐNA thuộc phạm vi ảnh hưởng
14
truyền thống của các nước phương Tây như thời kì trước chiến tranh, mở
đường cho việc quay trở lại tái chiếm thuộc địa của thực dân phương Tây.
4.2.2. Từ “Liên hiệp Malaya” đến “Liên bang Malaya”: vai trò của Tổ
chức Dân tộc Thống nhất Malay
Kế hoạch Liên hiệp Malaya năm 1946 với ba trụ cột là hợp nhất toàn
Malaya dưới sự cai trị trực tiếp của Chính quyền quân sự Anh (BMA), vương
quyền của Quốc vương Malay trao cho Hoàng gia Anh và quyền công dân bình
đẳng cho tất cả các cộng đồng dân tộc ở Malaya đã gây nên những phản ứng
quyết liệt “chưa từng có tiền lệ” trong lịch sử của người Malay. Tổ chức Dân
tộc Thống nhất Malay (UMNO) được thành lập 5/1946 đã tập hợp toàn thể
người Malay đấu tranh buộc BMA phải thay thế Liên hiệp Malaya bằng thể
chế Liên bang Malaya vào năm 1948 với các cam kết tiếp tục bảo đảm quyền
đặc biệt của người Malay, trao lại vương quyền cho các Quốc vương Malay.

Raya (bao gồm 2 lãnh thổ Malaya và Inđônêsia) đều vượt quá thế giới quan
của người Malay vốn bị hạn chế trong lòng trung thành với bang và chỉ với
cộng đồng Malay của bang đó. Quan trọng là các nhà lãnh đạo cộng đồng
không chấp nhận lý tưởng của MNP. Trong khi đó, mục tiêu UMNO (bảo vệ
đặc quyền của người Malay, duy trì vai trò của các Quốc vương) lại phù hợp
với lợi ích của người Malay, cách thức đấu tranh ôn hòa của UMNO được các
Quốc vương Malay ủng hộ. Trong bối cảnh đó, con đường đấu tranh ôn hòa,
hợp hiến của UMNO đã trở thành con đường duy nhất có tính khả thi ở
Malaya vào cuối những năm 1940.
4.3. ĐẢNG LIÊN MINH ĐẤU TRANH GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC TRONG
NHỮNG NĂM 1950
4.3.1. Quan điểm mới trong chính sách thuộc địa Malaya của chính quyền
Anh từ cuối thập niên 1940
Với ý chí duy trì Đế chế, quan điểm mới trong chính sách thuộc địa của Anh
nhấn mạnh vào sự tiến bộ chính trị ở các thuộc địa để tiến tới tự trị trong khuôn
khổ của Đế chế. Từ năm 1948 Malaya được nhận định là một phòng tuyến ở
phía Nam trong cuộc chiến chống cộng sản ở ĐNA. Vì vậy, chính sách của
Anh trong thời gian tiếp theo là không đối kháng với lực lượng theo chủ nghĩa
dân tộc ôn hòa mà nhất định phải sử dụng các lực lượng đó để chống cộng
sản. Chính quyền Anh một mặt xích gần lại với cộng đồng Malay qua UMNO,
mặt khác khuyến khích giới tư sản người Hoa Malaya thành lập Hiệp hội
người Hoa Malaya (MCA) nhằm lôi kéo quần chúng người Hoa ra khỏi sự
ảnh hưởng của MCP, đồng thời là một giải pháp kiềm chế UMNO trên sân
khấu chính trị Malaya.
16
4.3.2. Từ những thử nghiệm với ý tưởng “phi cộng đồng” đến sự hình
thành Liên minh UMNO - MCA - MIC
4.3.2.1. Cuộc thử nghiệm trên quan điểm của người Anh với “Ủy ban Liên
lạc các cộng đồng”
Ý tưởng “phi cộng đồng” là ý tưởng tạo sự kết nối giữa các cộng đồng

bang có thêm sự tham gia của Đại hội Ấn kiều Malaya (MIC) vào Liên minh.
Đảng Liên minh sau đó giành thắng lợi tuyệt đối trong cuộc bầu cử Liên bang
năm 1955. Kết quả của cuộc bầu cử ngày 27/7/1955 nằm ngoài sự mong đợi
của Liên minh với chiến thắng áp đảo: 51/52 ghế trong HĐLPLB đã thuộc
về Liên minh. Đảng Liên minh nắm chính quyền với Tunku Abdul Rahman
làm Thủ tướng.
4.3.3. Đảng Liên minh đàm phán độc lập
Chiến thắng áp đảo của Đảng Liên minh trong cuộc bầu cử năm 1955
chính là “phép thử” chính xác nhất đối với khát vọng độc lập của người dân
Malaya. Trên cơ sở đó, Đảng Liên minh tiến thêm một bước quan trọng - chủ
động đối thoại trực tiếp với lãnh đạo của MCP là Chin Peng (12/1955) để tiến
tới kết thúc Tình trạng Khẩn cấp - luôn là một cái cớ để chính quyền Anh trì
hoãn tiến trình độc lập cho Malaya. Hành động đó cùng với thái độ cương
quyết của Tunku Abdul Rahman: “hoặc là một nền độc lập hoàn toàn hoặc
không gì cả” trước đề nghị của Bộ Thuộc địa Anh về “tự trị hoàn toàn”, đã đưa
đến thành công cho Liên minh trong cuộc đàm phán London (1-2/1956). Ngày
31/7/1957, Nghị viện Anh thông qua Đạo luật về nền độc lập của Liên bang
Malaya. Ngày 5/8, Hiệp định Liên bang Malaya đã được kí kết. Buổi lễ tuyên
bố độc lập của Malaya diễn ra vào ngày 31/8/1957 tại Quảng trường Độc Lập
ở thủ đô Kuala Lumpur.
4.4. MỘT SỐ NHẬN XÉT
4.4.1. Về phía thực dân Anh
Chính sách cai trị của thực dân Anh ở Malaya dựa trên nền tảng của sự
chuyển đổi từ chính sách “Chia để trị” giai đoạn trước Chiến tranh thế giới
II sang “Hợp để trị” ở giai đoạn sau. Sự chuyển hướng chính sách của Anh
cũng được thể hiện ở việc tập trung nhấn mạnh lợi ích của chính quốc ở
thuộc địa hơn là bản thân thuộc địa.
4.4.2. Về phía người Malay/Malaya
Những phân tích trong chương 2 và 3 cho phép chúng tôi hình dung một
cách logic và hệ thống về sự chuyển biến ý thức chính trị của người Malay

khứ xa xưa của vùng bán đảo trước khi có những ảnh hưởng đầu tiên của
người phương Tây là Hồi quốc Malacca. Bởi lẽ không một nhà nghiên cứu
nào về Malaya/Malaysia lại không hiểu một điều dường như đã trở thành
chân lý lịch sử của đất nước: “thông qua tiểu quốc Malacca, người ta có thể
thấy được sự thống nhất cơ bản trong lịch sử Malaysia”, nói một cách khác,
19
“Lịch sử Malaysia gắn liền với nền văn hóa, văn minh của người Malay, mà
xuất phát điểm của nền văn hóa, văn minh đó là Malacca…” [138; tr.xv-
xviii] Chúng tôi cho rằng để tìm hiểu con đường đấu tranh giành độc lập
dân tộc với trường hợp Malaya, không thể không trở về những điểm khởi
đầu của đất nước trên các phương diện dân tộc, tôn giáo, văn hóa, cùng
những đặc tính tâm lý tộc người/các tộc người ở Malaya. Những vấn đề như
thế tiếp tục được phân tích trong suốt luận án ở từng nội dung có liên quan,
đặt trong nhiều bối cảnh về thời gian và không gian, dưới nhiều tác động
khách quan và chủ quan… Chỉ trên cơ sở đó, chúng tôi mới có thể hình
dung được một cách thỏa đáng sự phát triển của tình cảm dân tộc, ý thức
quốc gia-dân tộc Malaya, sự phát triển của nội dung dân tộc của các phong
trào dưới sự lãnh đạo của các lực lượng dân tộc được phân tuyến triệt để
không chỉ theo tiêu chí tộc người, mà theo tiêu chí về tư tưởng (tôn giáo đạo
Hồi, dân chủ tư sản hay vô sản), tiêu chí về phương thức đấu tranh (ôn hòa
hay cấp tiến)… Cuối cùng, những đường nét cơ bản nhất về con đường đấu
tranh giành độc lập dân tộc của Malaya cũng dần hiện rõ. Đó chính là
những nội dung chúng tôi cố gắng tập trung phân tích và lý giải trong 3
chương chính của Luận án.
2. Tại quốc gia Malaya, Hồi giáo là tôn giáo dân tộc của cộng đồng
người Malay bản địa vì vậy cần có một đánh giá về vai trò của Đạo Hồi trên
con đường hướng đến độc lập của Malaya. Không thể phủ nhận rằng, Đạo
Hồi chính là nhân tố mở đường cho chủ nghĩa dân tộc của người Malay Hồi
giáo, phong trào cải cách do các trí thức tôn giáo khởi xướng đã góp phần
chính trị hóa tư tưởng của người Malay ở giai đoạn đầu, nhưng càng về sau

nước. Vì vậy, trong quá trình thực dân hóa xã hội Malaya, chính quyền Anh
rất quan tâm đến chính sách lôi kéo các nhà lãnh đạo cộng đồng Hồi giáo
bởi chính bộ phận trung gian này sẽ giúp chính quyền kiểm soát quần chúng
Malay. Tuy nhiên, đây không chỉ là vấn đề quan tâm của người Anh, chính
sách lôi kéo các Quốc vương cũng là mối quan tâm của các nhà lãnh đạo
phong trào dân tộc của người Malay. Nếu mục đích của Anh là kiểm soát
quần chúng thì mục đích của các nhà dân tộc chủ nghĩa là tập hợp quần
chúng. Ý nghĩa của vấn đề trở nên quan trọng hơn nhiều ở giai đoạn sau
Chiến tranh thế giới II - giai đoạn bản lề của cuộc đấu tranh giành độc lập
của Malaya. Trong cuộc cạnh tranh với các lực lượng dân tộc của chính
cộng đồng người Malay, các nhà lãnh đạo UMNO mà trước hết là Tunku
Abdul Rahman ý thức sâu sắc rằng Quốc vương Malay chính là biểu tượng
của sự đoàn kết cộng đồng Malay, có được sự ủng hộ của các Quốc vương
21
đồng nghĩa với việc có sự hậu thuẫn to lớn của quần chúng người Malay.
Mặt khác, bản thân người Malay cũng luôn tin tưởng tuyệt đối vào việc bảo
vệ vương quyền của các Quốc vương Malay cũng có nghĩa là bảo vệ vị trí
đặc biệt của người Malay và bảo vệ Hồi giáo. Tổ chức Dân tộc Thống nhất
Malay (UMNO) đã giành chiến thắng trước Đảng Dân tộc Malay (MNP)
một phần rất quan trọng chính là nhờ yếu tố này. Nhìn lại các phong trào
dân tộc giai đoạn giữa hai cuộc chiến tranh thế giới của giới trí thức cấp tiến
và giới trí thức tôn giáo, chĩa mũi nhọn đấu tranh hay phê phán các Quốc
vương và giới quyền uy truyền thống không bao giờ là sự lựa chọn của số
đông người Malay Hồi giáo. Tương tự như thế, trong quá trình thương
thuyết với các Đảng cộng đồng của người Hoa, người Ấn Độ là Hiệp hội
người Hoa Malaya (MCA) và Đại hội Ấn kiều Malaya (MIC) trong nội bộ
Đảng Liên minh và trong các cuộc đàm phán giữa Đảng Liên minh với
chính quyền Anh để tiến tới độc lập, UMNO luôn kiên trì sứ mệnh bảo vệ
địa vị lãnh đạo cộng đồng của các Quốc vương Malay. Kết quả là Đạo luật
về nền độc lập của Liên bang Malaya cũng như Hiến pháp Liên bang

yếu tố quyết định để giành thắng lợi, lực lượng nào thành công trong việc
có được sự ủng hộ đông đảo của quần chúng nhân dân, lực lượng đó sẽ
quyết định con đường đi đến độc lập dân tộc.
5. Trở lại với câu hỏi nghiên cứu được đưa ra lúc đầu: Có phải Malaya
đã đạt được nền độc lập đơn giản chỉ từ sự “trao trả” của thực dân Anh, không
khát vọng độc lập, không đoàn kết lực lượng dân tộc? Hay nhờ vào một phép
màu chuyển biến chỉ diễn ra từ 1945 đến 1957? Hoặc trong thời gian 12 năm
ấy, hẳn đã có cú hích thần kỳ nào đó thúc đẩy nhanh chóng quá trình đi tới độc
lập của Malaya? Như những phân tích trong phần 2.2, dưới tác động của
chủ nghĩa thực dân, các yếu tố từ kinh tế-xã hội, văn hóa-giáo dục đến ý
thức chính trị ở Malaya đều đã có sự vận động song mức độ vận động và tỉ
lệ biến đổi của quá trình này không thể so sánh với những gì đã diễn ra ở
một số quốc gia khác Đông Nam Á khác, đặc biệt như Việt Nam hay
Inđônêsia. Do đó, nếu giai đoạn 1920-1945 ở hầu hết các quốc gia Đông
Nam Á là giai đoạn bản lề cho quá trình lựa chọn một con đường đấu tranh
phù hợp với điều kiện của đất nước để đi đến đích cuối cùng là đánh đổ chủ
nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc (thậm chí ngay sau Chiến tranh thế
giới II kết thúc, Inđônêsia, Việt Nam, Lào đã tuyên bố nền độc lập với thế
giới); thì ở Malaya thuộc Anh, tình hình này chỉ thực sự diễn ra ở giai đoạn
sau năm 1945. Chính sự chi phối của chủ nghĩa cộng đồng và đặc tính tâm
lý dân tộc-tôn giáo là nguyên nhân khiến cho chủ nghĩa dân tộc của người
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status