VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ TƯỜNG VÂN
CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA
TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1957
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH LỊCH SỬ
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÝ TƯỜNG VÂN
CON ĐƯỜNG ĐẤU TRANH
GIÀNH ĐỘC LẬP DÂN TỘC CỦA MALAYA
TỪ CUỐI THẾ KỈ XIX ĐẾN NĂM 1957
Chuyên ngành: Lịch sử Thế giới cận đại và hiện đại
Mã số: 62.22.50.05
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÀNH LỊCH SỬ
Người hướng dẫn khoa học:
1. PGS.TSKH. Trần Khánh
2. TS. Vũ Công Quý
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan: Luận án này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.
Các kết quả và số liệu được nêu trong luận án là trung thực. Những kết luận
của Luận án chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả Luận án Lý Tường Vân
Lời cảm ơn
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ……………………………………………… i
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BẢNG BIỂU ………………………………… ii
MỞ ĐẦU ……………………………………………………………………… 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ………………
1.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước …………………………………
1.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài …………………………………
Nhận xét
10
10
14
25
Chương 2: MALAYA DƯỚI TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH THỰC DÂN CỦA ANH
(CUỐI THẾ KỈ XIX - ĐẦU THẾ KỈ XX)
27
2.1. Từ Vương quốc Hồi giáo Malacca đến thuộc địa Malaya của Anh 27
2.1.1. Hồi quốc Malacca và những thế kỉ đầu tiếp xúc với phương Tây (1400-1786)
……………………………………………………………
27
2.1.2. Malaya trở thành thuộc địa của Anh (1786-1914) ………… 31
2.1.2.1. Thành lập Khu định cư Eo biển (Straits Settlements) ……………… 32
2.1.2.2. Quá trình mở rộng can thiệp vào các tiểu quốc Malay và củng cố chế độ cai
trị ở Malaya …………………………………… 33
2.2. Tác động của chính sách thực dân của Anh ở Malaya………………. 40
2.2.1. Biến đổi cơ cấu kinh tế với vai trò chủ thể của ngoại kiều ……………… 40
2.2.2. Hình thành xã hội đa tộc người và các nguyên nhân mâu thuẫn tộc người 43
2.2.3. Sự phát triển của đội ngũ trí thức người Malay ………………………. 47
2.2.4. Sự phát triển của báo chí bản địa ……………………………………… 53
Tiểu kết chương 2 …………………………………………………………. 56
Chương 3: PHONG TRÀO DÂN TỘC CỦA NGƯỜI MALAY TRONG NHỮNG NĂM
GIỮA HAI CUỘC CHIẾN TRANH THẾ GIỚI ……………… 58
cộng đồng” ………………………………………………… 121
4.3.2.2. Cuộc thử nghiệm trên quan điểm của người Malay với “Tổ chức Dân tộc
thống nhất Malay” và “Đảng Malaya Độc lập” ………… 122
4.3.2.3. Hình thành Liên minh UMNO - MCA - MIC … 123
4.3.3. Đảng Liên minh đàm phán độc lập ………………………………… 130
4.4. Một số nhận xét ……………………………………………………… 137
4.4.1. Về phhía thực dân Anh ………………………………………………. 137
4.4.2. Về phía người Malay/Malaya…………………………………………. 138
4.4.3. Về sự lựa chọn khác nhau các con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc 140
KẾT LUẬN 146
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 152
TÀI LIỆU THAM KHẢO 153
PHỤ LỤC 167
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
API - Angkatan Pemuda Insaf (Youth for
Justice Corps)
Đội quân thanh niên vì công lý
BMA - British Military Administration Chính quyền quân sự Anh
CLC - Communities Liaison Committee Ủy ban Liên lạc các cộng đồng
EIC - British East India Company Công ty Đông Ấn Anh
FMS (Federation of Malay States) Liên bang các bang Malay
HĐLPLB Hội đồng Lập pháp Liên bang
IMP - Independence of Malaya Party Đảng Malaya Độc lập
KMM - Kesatuan Malayu Muda (The Union
of Malay Youths)
Liên hiệp Thanh niên Malay
KMS - Kesatuan Melayu Singapura Hiệp hội người Malay Singapore
KMT - Koumintang Malaya Quốc Dân Đảng (Malaya)
MCA - Malayan Chinese Association) Hiệp hội người Hoa Malaya
MCP - Malayan Communist Party Đảng Cộng sản Malaya
Bảng 2.3: Tương quan dân số giữa các cộng đồng tộc người ở UMS 172
Bảng 2.4: Tỉ lệ người Malay và người Hoa, người Ấn ở UMS (%) 172
Bảng 2.5: Số liệu phản ánh tình hình kinh tế ở các bang UMS 173
Bảng 2.6: Số lượng trường Malay ở Liên bang các bang Malay (1901 - 1931) 173
Bảng 2.7: Tổng số học sinh được tuyển vào các trường Anh ở FMS 174
Bản đồ Liên bang Malaysia ngày nay
Bản đồ Malaya thời kì thuộc Anh
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình lịch sử của Malaya/Malaysia dường như chịu ảnh hưởng bởi yếu
tố địa lý mạnh hơn bất cứ yếu tố nào khác, đặc biệt dưới thời kì cận đại của lịch
sử thế giới. Với eo Malacca giữ vị trí địa chiến lược trên con đường hàng hải từ
Ấn Độ Dương sang Thái Bình Dương, vương quốc Malacca nhanh chóng được
hình thành và phát triển thành một trung tâm thương mại xuất nhập khẩu hàng
đầu thế giới với các nguồn thương phẩm đặc biệt hấp dẫn. Tuy nhiên, chính sự
hấp dẫn đó lại là lý do khiến cho bán đảo Malaya được ví như một “cánh cửa
quay”
1
của những cuộc “đến” rồi “đi” của nhiều thực dân trong suốt hơn 4 thế
kỉ. Có thể so sánh điều này với một số quốc gia khu vực: Trong khi Inđônêsia chỉ
là thuộc địa của Hà Lan, Đông Dương luôn là thuộc địa của Pháp, Mianma và Ấn
Độ là các thuộc địa của Anh trong nhiều thế kỉ, Philippin trở thành thuộc địa của
Mĩ cho đến khi độc lập hoàn toàn sau 300 năm dưới ách thống trị của Tây Ban
Nha, thì trường hợp Malaya có thể được xem như là một ngoại lệ. Bồ Đào Nha là
thực dân châu Âu đầu tiên bước vào “cánh cửa” này vào năm 1511, cai trị
Malacca trong suốt 130 năm. Hà Lan thay thế Bồ Đào Nha ở Malacca từ năm
1641. Năm 1795, nhân cơ hội được tạm quyền sở hữu Malacca, Anh đã tiến lên
loại bỏ hoàn toàn quyền lực Hà Lan ra khỏi bán đảo. Hiệp ước Anh - Hà Lan năm
1824 phân “thế giới Malay” ra thành Inđônêsia thuộc Hà Lan và bán đảo Malaya
thuộc Anh. Hơn 130 năm tiếp theo, Malaya tồn tại dưới cái tên “Malaya thuộc
mạng vô sản là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với bối cảnh Việt Nam từ đầu thế
kỉ XX, nhưng đó không phải là con đường chung cho tất cả các dân tộc thuộc địa.
Con đường đi đến độc lập của Malaya như đã được thừa nhận bấy lâu nay là con
đường dân chủ tư sản, con đường đấu tranh ôn hòa. Nhưng đó mới chỉ là xét về
hình thức, xét về mặt bản chất, xã hội Malaya có rất nhiều lý do chi phối quá
trình lựa chọn và tiến hành con đường đấu tranh của mình nhưng lại chưa được
làm sáng tỏ. Bởi vậy, vấn đề này nên được nghiên cứu, lý giải.
2. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Trong bối cảnh cả nhân loại tiến bộ đang lấy thập kỉ 2011-2020 là thập kỉ
quốc tế thứ ba loại trừ chủ nghĩa thực dân
3
theo tuyên bố của Ủy ban Chính trị
2
Chính Thủ tướng Malaysia Mahathir Mohammad trong The Malay Dilemma (tạm dịch là Thế tiến thoái
lương nan của người Malay) được xuất bản ngay sau cuộc xung đột giữa hai dân tộc Malay - Hoa lớn
nhất trong lịch sử Malaysia tháng 5/1969, ông đã đổ lỗi cho các chính sách thực dân của Anh trong thời kì
thuộc địa là căn nguyên của tình trạng xã hội hiện tại của Malaysia.
3
Khóa họp này thông qua 12 Nghị quyết về Phi thực dân hóa, kêu gọi các nước thành viên Liên Hợp Quốc
tăng cường các biện pháp tập thể, thúc đẩy các bên có liên quan nỗ lực hành động để kết thúc tiến trình phi
thực dân hoá đối với các vùng lãnh thổ còn lại trên thế giới hiện vẫn là thuộc địa hay nằm dưới quyền ủy trị của
các nước khác.
Như vậy, dù đã qua hơn hai thập kỉ quốc tế nỗ lực thực hiện phi thực dân hóa nhưng tiến trình
xem ra vẫn rất trì trệ nếu so sánh với khoảng thời gian gần 5 thập kỉ trước (từ năm 1961 đến năm 2009) với
khoảng 750 triệu người trên 80 vùng lãnh thổ một thời là thuộc địa đã giành được độc lập, được hưởng các
quyền tự do và tự quyết chính đáng. Theo www.vietnamplus.vn/Home/LHQ-thong-qua-12-nghi-quyet-ve-
chu-nghia-thuc-dan/201010/64078.vnplus và www.vietnamplus.vn/Home/Can-ket-thuc-nhanh-qua-trinh-
phi-thuc-dan-hoa/200910/20057.vnplus
và Phi thực dân hóa tại phiên họp thứ 65 của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc năm
Clive Christie chỉ ra rằng, trong số các quốc gia Đông Nam Á lục địa, 3 nước chủ
yếu Thái Lan, Mianma, Việt Nam ngay từ thời kì tiền thuộc địa mặc dù đều chịu
ảnh hưởng văn hóa và tôn giáo từ bên ngoài nhưng cả ba đều có ý thức độc lập
mãnh liệt. Mianma và Việt Nam cùng được thừa hưởng một quốc gia hùng mạnh
và một bản sắc dân tộc, tôn giáo rõ ràng - những yếu tố cần thiết để tạo nên nền
tảng cho các phong trào dân tộc hiện đại hình thành ở Mianma và Việt Nam vào
đầu thế kỉ XX. [87, tr.7] Tuy nhiên, cả hai nước này - một là thuộc địa của Anh,
một là thuộc địa của Pháp - đều phải tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài, thậm chí
với Việt Nam là rất lâu dài và gian khổ mới có thể tiến đến nền độc lập và toàn
vẹn lãnh thổ. Ở vùng Đông Nam Á hải đảo, ý thức độc lập dân tộc của Inđônêsia
đã xuất hiện ngay từ thập niên đầu tiên của thế kỉ XX và luôn là mục tiêu cao
nhất của tất cả các phong trào dù dưới ảnh hưởng của trào lưu vô sản hay dân chủ
tư sản. Mặc dù vậy, Inđônêsia vẫn phải trải qua một chặng đường dài gần nửa thế
kỉ mới đạt được nền độc lập. Với trường hợp Malaya, tính đến thời điểm ngay
sau Chiến tranh thế giới II kết thúc, độc lập dân tộc chưa bao giờ là mối quan tâm
sâu sắc của người bản địa Malay dù dưới sự thống trị của bất kì thực dân nào -
Bồ Đào Nha, Hà Lan hay Anh (ngoại trừ tư tưởng cấp tiến của nhóm trí thức
bình dân Malay từ cuối những năm 1930). Vậy mà, “Quá trình tiến đến độc lập
của Liên bang Malaya chưa kể đến những tiến bộ kinh tế sau đó, là nhanh nhất so
với bất cứ lãnh thổ phụ thuộc nào ở thời kì hậu chiến” [34, tr.1247]. Thực tế đó
khiến người ta phải kinh ngạc “Tại sao người Malay có thể giành được độc lập
nhanh đến như vậy” vào năm 1957? [163, tr.133-134] Cũng có nhiều câu hỏi
được đặt ra với cá nhân tôi: Có phải Malaya đã có được nền độc lập từ con số 0:
không khát vọng độc lập, không đoàn kết lực lượng dân tộc, nghĩa là nền độc lập
của Malaya năm 1957 đơn giản chỉ là sự “trao trả” của thực dân Anh như bấy lâu
nay nó vẫn được thừa nhận? Hoặc đã có một “phép màu” chuyển biến chỉ diễn ra
trong vòng 12 năm? Hay Malaya phải trải qua một chặng đường chuyển biến dài
hơn thế nhưng lại không dễ quan sát hoặc chưa quan sát được? Việc nghiên
cứu, phân tích để làm sáng tỏ những vấn đề vừa nêu bằng hiện thực của lịch sử
xã hội Malaya sẽ làm nên ý nghĩa khoa học của đề tài Luận án.
Mở đầu và Tổng quan theo đúng tên gọi của đất nước trong từng giai đoạn lịch
sử để tiện cho việc theo dõi. Trong phần nội dung, Luận án sử dụng “Malaya” là
tên gọi của đất nước trong suốt thời kì thuộc Anh. Thuật ngữ “người Malay” chỉ
cộng đồng người Malay bản địa để phân biệt với hai cộng đồng nhập cư là
“người Hoa” và “người Ấn Độ”. Luận án sử dụng thuật ngữ “người Malaya” với
nghĩa bao gồm toàn bộ người dân sinh sống ở đất nước Malaya.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: “Malaya thuộc Anh” có giới hạn địa lý là toàn bộ phần phía
Tây của lãnh thổ Malaysia ngày nay.
- Về thời gian: Khung thời gian nghiên cứu của đề tài Luận án là từ cuối thế kỉ
XIX - khi thực dân Anh hoàn thành về cơ bản quá trình bành trướng thuộc địa ở
bán đảo Malaya đến năm 1957 là năm Malaya tuyên bố độc lập.
- Về phạm vi vấn đề nghiên cứu:
Đề tài phân tích quá trình định hình một con đường đấu tranh giành độc lập
của Malaya thông qua sự vận động, phát triển của các yếu tố đặc thù trong xã hội
Malaya như đã nêu ở trên, qua đó chỉ ra khả năng tối ưu của con đường được lựa
chọn trong việc đáp ứng các yêu cầu thực tiễn của đất nước Malaya và của hoàn
cảnh lịch sử. Trong quá trình đó, một số vấn đề và nội dung có liên quan được
đặt trong mối liên hệ với Inđônêsia - quốc gia trong cùng “thế giới Malay”, “thế
giới Hồi giáo” và có nhiều tác động trực tiếp với Malaya. Vấn đề so sánh giữa
các con đường đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa đòi hỏi phải hết
sức thận trọng vì như học giả D.G. Hall trong phần nghiên cứu về phong trào dân
tộc ở Đông Nam Á đã cho rằng “khó có thể so sánh giữa các phong trào khác
nhau và khái quát hóa sẽ rất nguy hiểm” [34, tr.1043]. Chúng tôi cũng cho rằng
không đơn giản chỉ là trả lời các câu hỏi chủ nghĩa thực dân là ai, chính sách cai
trị như thế nào, trên cơ sở đó các dân tộc thuộc địa đã lựa chọn con đường đấu
tranh ra sao, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển của các lực lượng dân
tộc, sự chi phối của các yếu tố tộc người, truyền thống lịch sử-văn hóa, tôn
giáo… cũng là những lý do quan trọng góp phần vào sự định hình con đường đấu
tranh và cách thức tiến hành con đường đấu tranh giành độc lập. Bởi vậy trong
Nguồn tài liệu gốc chúng tôi tiếp cận và khai thác từ các cơ quan Lưu trữ
quốc gia của Malaysia và Singapo. Đó là những tài liệu chính thức được công bố
bởi Bộ Thuộc địa, Bộ Quốc phòng, Chính quyền Hoàng gia Anh, bên cạnh đó là
những tài liệu được công bố bởi chính quyền Liên hiệp Malaya (1946-1948), và
chính quyền Liên bang Malaya (1948-1957). Nguồn tài liệu này gồm các báo cáo
(Official Report), các kế hoạch/dự thảo kế hoạch (Proposal), dự luật (Bill), bài
phát biểu (Speech) hoặc điện tín (Telegram), tài liệu về các cá nhân và các tổ
chức chính trị (Papers). Chúng tôi cũng sử dụng những tư liệu lưu trữ được xuất
bản dưới dạng Documentary Collection. Qua đó, tác giả có điều kiện được tham
khảo khối tài liệu lưu trữ của Lưu trữ Quốc gia Anh trong Bitish documents on
the end of Empire: Malaya [173] do A.J. Stockwell tập hợp và biên soạn.
Ngoài nguồn tài liệu lưu trữ, các tài liệu khác được sử dụng trong Luận án
gồm các sách chuyên khảo, chuyên luận, luận án tiến sĩ, các bài nghiên cứu đăng
trên các tạp chí chuyên ngành ở hai khối ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Anh. Bên
cạnh đó, chúng tôi cũng sử dụng một số tờ báo bằng tiếng Anh ở Malaya như
Malay Mail, Straits Times và Syonan Sinbun.
6. Đóng góp của đề tài Luận án
- Luận án phân tích sự chuyển biến ý thức chính trị của người Malay qua các
lần tác động (lần thứ nhất của chính sách thực dân của Anh và lần thứ hai của
giai đoạn chiếm đóng của phát xít Nhật), đồng thời làm rõ sự phát triển của nội
dung dân tộc chủ nghĩa trong các phong trào dân tộc của người Malay ở giai
đoạn trước và sau Chiến tranh thế giới II.
- Phân tích quá trình phát triển ý thức quốc gia-dân tộc Malaya trong bối
cảnh chịu sự chi phối sâu sắc của chủ nghĩa cộng đồng, qua đó làm rõ vai trò
chính trị của các Đảng cộng đồng của người Malay và người Hoa trong trạng thái
phân cực của nền chính trị Malaya. Sự phát triển ý thức quốc gia-dân tộc Malaya
chính là nền tảng của sự hợp tác giữa các Đảng cộng đồng và giữa quần chúng
của các cộng đồng. Đó cũng đồng thời quá trình định hình dần một con đường
trong cuộc đấu tranh giành độc lập của người Malaya.
- Phân tích con đường hướng đến nền độc lập của Malaya sau Chiến tranh thế
trực tiếp nhất đến sự hình thành và phát triển của phong trào dân tộc của người
Malay cũng như liên quan tới quá trình lựa chọn con đường đấu tranh giành độc
lập dân tộc của Malaya. Bốn tác động đó gồm: biến đổi cơ cấu kinh tế với vai trò
chủ thể của ngoại kiều, hình thành xã hội đa tộc người và các nguyên nhân mâu
thuẫn tộc người, sự phát triển của đội ngũ trí thức người Malay và báo chí bản
địa.
Chương 3. Phong trào dân tộc của người Malay trong những năm giữa hai
cuộc chiến tranh thế giới: phân tích các nhân tố khách quan và chủ quan tác động
tới phong trào dân tộc của người Malay, phân tích ba phong trào dưới sự lãnh
đạo của ba nhóm trí thức là sản phẩm của ba dòng giáo dục gồm đội ngũ trí thức
tôn giáo, đội ngũ trí thức chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Anh và đội ngũ trí
thức được đào tạo bởi nền giáo dục bản địa. Chúng tôi cố gắng chỉ ra những các
yếu tố đã chi phối nội dung dân tộc chủ nghĩa của các phong trào (như yếu tố tôn
giáo và đặc tính tâm lý dân tộc-tôn giáo, yếu tố đa cộng đồng và chủ nghĩa cộng
đồng) tạo điều kiện nhận diện chiều hướng phát triển chính trị, cũng là cơ sở để
định hình con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya ở giai đoạn sau.
Chương 4. Con đường đấu tranh giành độc lập dân tộc của Malaya (từ sau
Chiến tranh thế giới II đến năm 1957) được luận giải theo 2 hướng: (1). Về phía
người Malay là sự chuyển biến ý thức chính trị dưới tác động của giai đoạn Nhật
Bản chiếm đóng, là sự khẳng định vai trò của UMNO trong cuộc cạnh tranh với
các lực lượng chính trị-xã hội ở Malaya giai đoạn hậu chiến, đồng nghĩa với việc
khẳng định một con đường đấu tranh có khả năng tối ưu nhất trong việc đáp ứng
các yêu cầu của lịch sử và tình hình thực tiễn của đất nước để tiến tới mục tiêu
độc lập; (2). Về phía thực dân Anh là quá trình điều chỉnh chính sách để thích
ứng với những hoàn cảnh mới sau Thế chiến II, song điều đáng nói là, sự điều
chỉnh chính sách của Anh chịu tác động rất lớn từ một UMNO ngày càng trưởng
thành và sức mạnh chính trị của Đảng Liên minh được củng cố bởi các Đảng
cộng đồng của người Malay, người Hoa và người Ấn. Kết quả của sự đoàn kết
thống nhất giữa các Đảng cộng đồng và quần chúng của các cộng đồng đã đem
lại thành quả là nền độc lập cho Malaya vào tháng 8/1957.
khảo cứu một lĩnh vực rất cụ thể là lĩnh vực tôn giáo dựa trên cách tiếp cận lịch
sử. Cũng theo hướng nghiên cứu chuyên sâu đó nhưng với cách tiếp cận xã hội
học lịch sử là công trình Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan
6
. Cái nhìn lịch sử
4
Nguyễn Đức Ninh (2003), “Thành tựu nghiên cứu Malaixia” trong Phạm Đức Thành, cb., Viện Nghiên
cứu Đông Nam Á: 30 năm xây dựng và trưởng thành (1973-2003), NXB. KHXH. Hà Nội, tr. 345-353.
5
Chẳng hạn, trang 65 viết: “Cuộc đấu tranh do Đảng Cộng sản Malaya tiến hành dù không thành công nhưng
cũng có tác động mạnh mẽ đến phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân Malaya, góp phần không
nhỏ vào việc làm suy yếu hệ thống thuộc địa của thực dân Anh nói chung và ách thống trị thực dân ở Malaya
nói riêng. Đứng trước xu thế hướng tới độc lập ngày càng mạnh mẽ của nhân dân Malaya, thực dân Anh không
còn con đường nào khác là trao trả độc lập cho đất nước này”.
6
Lê Thị Thanh Hương cb. (2009), Xã hội dân sự ở Malaysia và Thái Lan, NXB. KHXH., Hà Nội.
ở khía cạnh xã hội dân sự Malaysia thời kì thuộc địa được coi là tiền đề của xã
hội dân sự hậu thuộc địa và xã hội hiện đại ngày nay là nội dung chúng tôi có thể
kế thừa.
Một số công trình lịch sử Đông Nam Á với cách tiếp cận khu vực, trong đó
Malaya được đặt trong “chỉnh thể khu vực Đông Nam Á” được tác giả Luận án
quan tâm khảo cứu. Hai công trình tiêu biểu theo hướng nghiên cứu này gần đây
có Lịch sử Đông Nam Á, tập IV Đông Nam Á trong thời kì thuộc địa và phong
trào đấu tranh giành độc lập dân tộc từ thế kỉ XVI đến năm 1945 [37] do
PGS.TSKH. Trần Khánh chủ biên
7
có giá trị tham khảo trực tiếp đối với đề tài
Luận án; Được xuất bản vào năm 2005 là cuốn Lịch sử Đông Nam Á do GS.
Lương Ninh chủ biên [41]. Qua những “lát cắt” của lịch sử có thể thấy rõ quá
trình thực dân hóa vùng bán đảo Malaya của chủ nghĩa thực dân Anh và sau đó là
chỉ nên gọi tên sách là ‘Sơ giản lịch sử các nước Đông Nam Á’, thực tế cũng không phải là các nước mà là một
điểm quan trọng, chúng tôi luôn trở về với bản gốc bằng tiếng Anh
9
vì đôi chỗ
bản dịch tiếng Việt không thể chuyển tải hết được tinh thần của các nhà nghiên
cứu. Cũng là tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài, Lịch sử phát triển Đông Nam Á
của Mary Sommers Heidhues [40], tuy không dày dặn như công trình của Hall,
cũng không chuyên sâu như công trình của Christie nhưng vẫn phản ánh được
nhiều phương diện của lịch sử khu vực. Nhìn chung, trong những công trình này,
nhiều trang tư liệu về Malaya đã được các tác giả phân tích, lý giải từ cách tiếp
cận khu vực nên vừa mang màu sắc riêng của Malaya cũng vừa mang những đặc
điểm chung của khu vực. Trong số những tài liệu liên quan đến chủ nghĩa tư bản
Anh, chúng tôi đặc biệt lưu tâm đến công trình Lịch sử chủ nghĩa tư bản từ 1500
đến 2000 của Michel Beaud [39] phân tích sự phát triển của chủ nghĩa tư bản nói
chung và chủ nghĩa tư bản Anh nói riêng trên khía cạnh lịch sử kinh tế thời kì
cận-hiện đại, trong đó xâm lược thuộc địa được coi là phương thức tối quan trọng
để phát triển kinh tế đặc biệt ở giai đoạn đế quốc chủ nghĩa. Các Luận án Tiến sĩ
ngành Lịch sử của Lê Thanh Thủy “Quá trình xâm nhập Đông Nam Á của công
ty Đông Ấn Anh từ đầu thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XIX” nghiên cứu quá trình
viễn chinh Đông Nam Á và vai trò của Công ty đối với việc hình thành đế chế
Anh ở phương Đông và Luận án của Trần Thị Thanh Vân “Chính sách thực dân
của Anh ở Ấn Độ từ thế kỉ XVII đến giữa thế kỉ XX” cung cấp cho chúng tôi
những hiểu biết tốt hơn về chính sách cai trị của Anh ở một thuộc địa khác là Ấn
Độ.
Chuyên luận Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ XX - Một cách
tiếp cận [32] của tác giả Đỗ Thanh Bình bao quát những nét chung cả về lý luận
lẫn thực tiễn của các phong trào ở châu Á, châu Phi, và Châu Mĩ Latinh.
10
Không
chỉ dừng lại ở việc phân tích quá trình thực dân hóa của các nước thực dân,
cận-hiện đại” của Đỗ Thanh Bình và bài “Cần đổi mới nhận thức và biên soạn
giáo trình lịch sử thế giới cận đại” của Nguyễn Văn Hồng.
11
Chúng tôi cũng dành
sự chú ý đặc biệt đến các bài nghiên cứu “Vài nét cơ bản của quan hệ quốc tế ở
Đông Nam Á từ giữa thế kỉ XIX đến giữa thế kỉ XX” [42], “Chính sách thống trị
của thực dân Anh ở Miến Điện trong những năm cuối thế kỉ XIX - nửa đầu thế kỉ
XX và tác động của nó tới phong trào giải phóng dân tộc” [46], đặc biệt là bài
“Nhìn lại cuộc đấu tranh giành độc lập của Đông Nam Á thế kỉ XX” của tác giả
Vũ Dương Ninh [43]. Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với ý kiến của Giáo sư: “Các
nước Đông Nam Á dù chọn con đường nào thì cuối cùng cũng đã thành công
trong việc thành lập nhà nước độc lập và đạt nhiều thành tựu trong công cuộc xây
dựng đất nước. Điều đó cho thấy không nên coi con đường nào là duy nhất đúng
mà tất cả phụ thuộc vào tầm nhìn và năng lực lãnh đạo biết chọn lựa con đường
phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của từng nước.” [43, tr.20] Nhìn chung, các bài
viết trên đây tuy vẫn không phải là những trang tư liệu trực tiếp về Malaya
11
Bài viết của GS. Đỗ Thanh Bình trong Nghiên cứu Đông Nam Á, số 5 (110), tr.33-39 bàn về cách tiếp cận và
sự phân kì trong biên soạn lịch sử phong trào giải phóng dân tộc. Bài của PGS. Nguyễn Văn Hồng trong
Nghiên cứu Đông Nam Á, số 11 (140), tr.12-15 nêu lên sự cần thiết phải đổi mới tư duy nhận thức về sứ mạng
lịch sử của chủ nghĩa thực dân đối với châu Á lạc hậu, về vai trò của trí thức trong đấu tranh giành độc lập.
nhưng đề cập đến vấn đề nghiên cứu là phong trào đấu tranh giành độc lập dân
tộc được nhìn trên bình diện khu vực, đặc biệt có một số vấn đề được nhìn nhận
lại, nhìn nhận mới bằng những quan điểm khoa học mới đã tạo điều kiện cho
chúng tôi mạch lạc hơn trong ý tưởng cũng như triển khai các luận giải cho vấn
đề nghiên cứu của mình.
1.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Ở NƯỚC NGOÀI
Ngành Malaya học ở Anh được khởi động bởi những nghiên cứu đầu tiên là
về ngôn ngữ - tiếng Malay - được mở ra từ thế kỉ XVII. Sự khởi đầu này hoàn
toàn trùng với thời điểm người Anh bắt đầu quan tâm đến thương mại ở “thế giới