quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở việt nam từ đầu thế kỉ xx đến năm 1945 - Pdf 11


LUẬN VĂN:

Quá trình nhận thức lý luận về
văn hóa ở Việt Nam
từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 Mở đầu

1. Tính cấp thiết của đề tài
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế như thời
gian gần đây. Sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa và vai trò ngày càng tăng của nó trong

thành tựu các lý thuyết văn hóa của thế giới đương đại thì việc khai thác những kết quả
nghiên cứu văn hóa trong nước từ trước đến nay rất có ý nghĩa đối với công tác nghiên
cứu hiện nay. Những kết quả này gắn liền với thế kỷ XX - thế kỷ đánh dấu những bước
chuyển to lớn của văn hóa Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Quá trình nhận thức lý luận về văn
hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Văn hóa học.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nửa thế kỷ nghiên cứu văn hóa với nhiều giai đoạn khác nhau đã tạo nên một khối
lượng lớn các công trình nghiên cứu. Cho đến nay, các kết quả này được đề cập đến chủ
yếu thông qua những phương diện sau:
Thứ nhất là các công trình sưu tập, biên soạn tác phẩm, các bài viết về văn hóa
theo những chủ đề nhất định. Có thể kể đến cuốn sách Luận về Quốc học (nghiên cứu và
cảo luận) do Trung tâm Quốc học biên soạn, tập hợp những bài viết từ đầu thế kỷ cho đến
năm 1945 về văn hóa dân tộc. Trên cơ sở nghiên cứu các bài viết đăng trên tạp chí Nam
Phong từ năm 1917 đến năm 1934, tác giả Phạm Thị Ngoạn trong cuốn sách Tìm hiểu về
Nam Phong tạp chí dành một chương Nền văn hóa Quốc gia để tổng luận những vấn đề
liên quan đến văn hóa. Mới đây, nhà xuất bản Lao động đã cho ra cuốn sách “Tranh luận
văn nghệ thế kỷ XX” gồm 2 tập, tập hợp những bài viết xung quanh các cuộc tranh luận
lớn đầu thế kỷ XX về văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhiều bài viết trực tiếp đề cập đến
văn hóa.

Thứ hai là những công trình đề cập đến một xu hướng lý luận văn hóa cụ thể. Đó
là các cuốn sách nghiên cứu về “Đề cương văn hóa Việt Nam” như:
50 năm Đề cương văn hóa Việt Nam - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb Khoa
học xã hội, 1995
60 năm Đề cương văn hóa với văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay- Đỗ Thị
Minh Thúy - Nxb Văn hóa thông tin, 2003
Thứ ba là các công trình khái quát những thành tựu nghiên cứu văn hóa ở Việt
Nam. Trong “Hành trình vào văn hóa học”, tác giả Bùi Quang Thắng đã tổng quan về

 Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về lý luận văn hóa ở Việt Nam trong nửa đầu thế
kỷ XX gắn liền với các xu hướng nghiên cứu lý luận văn hóa.
- Chỉ ra tính quy luật của sự vận động trong nhận thức về văn hóa ở Việt Nam nửa
đầu thế kỷ XX
- Bước đầu rút ra ý nghĩa của những kết quả này đối vớí công tác nghiên cứu lý
luận văn hóa hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tìm hiểu những quan điểm về lý luận văn hóa trong các sách, báo, tạp
chí của các tác giả Việt Nam và trong các công trình dịch thuật ở Việt Nam từ đầu thế kỷ
đến năm 1945. Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, luận văn không khảo cứu các
lý thuyết văn hóa trong các công trình dân tộc học, lịch sử văn hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa
duy vật lịch sử và kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp thống kê tư liệu và so sánh, phương pháp chuyên gia… để thực hiện
mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn.

5. Đóng góp mới về khoa học
Lần đầu tiên, luận văn tập trung hệ thống hóa những quan điểm về văn hóa ở nước
ta trong nửa đầu thế kỷ XX, trên cơ sở đó khái quát xu hướng vận động của những quan
điểm này, đồng thời rút ra ý nghĩa đối với việc phát triển nghiên cứu lý luận văn hóa ở n-
ước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chư-
ơng 8 tiết.

Chương 1
Cơ sở hình thành những nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam giai đoạn đầu thế kỷ

Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.
Thuộc về lĩnh vực tinh thần, văn hóa ra đời từ khi con người xuất hiện trên trái đất
này. Tuy nhiên cũng như nhiều hiện tượng khác, mãi đến sau này nó mới trở thành đối
tượng nghiên cứu riêng biệt của khoa học, khi có hàng loạt những tiền đề cho sự ra đời
của các khoa học văn hóa.
Một là, sự biến chuyển sâu sắc của đời sống chính trị - xã hội và tinh thần ở châu
Âu thế kỷ XVIII, XIX gắn liền với việc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được xác
lập và phát triển. Những quan hệ kinh tế tư bản đã quy định những yếu tố cơ bản của văn
hóa thời kỳ này. Hàng loạt các vấn đề văn hóa mới nảy sinh, niềm tin, hệ giá trị, đạo đức
trong xã hội trung cổ tan rã nhanh chóng bởi quá trình công nghiệp hóa và kinh tế thị
trường, làm cho đời sống văn hóa xã hội có những xáo động, bất ổn. Các khoa học văn
hóa ra đời để nghiên cứu những biến chuyển trong lĩnh vực văn hóa nhằm phục vụ cho sự
ổn định xã hội, giữ gìn truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, tránh sự nghèo nàn về văn
hóa của các dân tộc.
Hai là, với các phát kiến địa lý vĩ đại, châu Âu đã phát hiện ra nhiều vùng đất mới,
“như vừa thức tỉnh từ giấc mơ trung cổ cả một thế giới mới được mở ra chứa đầy sự đa
dạng của các hình thức văn hóa và những đặc biệt của lối sống” [7, tr.10]. Sau đó là công
cuộc chinh phục các nước thuộc địa được mở rộng từ châu á sang châu Phi đã đem lại
kho tư liệu dân tộc học hết sức phong phú. Đồng thời, quá trình đó đã sản sinh ra nhu cầu
nghiên cứu văn hóa của các dân tộc này nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc khai thác thuộc
địa.
Ba là, hàng loạt những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học lịch sử, khảo cổ,
địa lý…ra đời trong giai đoạn này đã tác động mạnh mẽ đến những nhận thức, quan niệm
về văn hóa, là cơ sở cho sự ra đời của nhiều lý thuyết văn hóa nổi tiếng. Tiêu biểu là học

thuyết tiến hóa của Ch. Đácuyn, học thuyết đã xóa đi ranh giới giữa các giống loài mà coi
đó là kết quả sự phát triển liên tục của tự nhiên. Tư tưởng này đã được các nhà nghiên
cứu văn hóa xem xét trong quá trình phát triển của văn hóa và xã hội loài người. Đó là
cội nguồn cho sự ra đời của các lý thuyết tiến hóa luận về văn hóa với các tên tuổi như
L.M.Morgan, E.B.Taylor…

trường phái này thừa nhận khuếch tán như là yếu tố cơ bản trong sự phát triển văn hóa.
Văn hóa được coi là một tổng thể các hiện tượng không lặp lại, đơn nhất.
Trường phái dân tộc học Xôviết quan niệm dân tộc học là “bộ môn khoa học lịch
sử, chủ yếu dùng phương pháp trực tiếp quan sát để nghiên cứu sinh hoạt và phong tục
tập quán, sự phân bố và quan hệ văn hóa và lịch sử của các dân tộc trên thế giới” [13,
tr.3]. Đối tượng của nó là nghiên cứu nguồn gốc dân tộc, nghiên cứu lịch sử hình thành
các đặc điểm văn hóa và sinh hoạt dân tộc, lịch sử phân bố và di cư các dân tộc.
Ngày nay, dân tộc học đã có những bước phát triển mới, tuy còn tồn tại nhiều
quan niệm khác nhau, nhưng nhiều nhà dân tộc học trên thế giới đã đi đến nhận thức
chung về đối tượng của dân tộc học là “tất cả các dân tộc, dù ở thang bậc phát triển thấp
hay cao, thiểu số hay đa số, đã tồn tại trong quá khứ hay là đang tồn tại hiện nay” [23,
tr.8]. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và với các nội dung nghiên cứu phong
phú và đa dạng nhất được các nhà dân tộc học đặc biệt quan tâm là nghiên cứu các đặc
trưng sinh hoạt - văn hóa truyền thống và hiện đại, vạch ra cho được diện mạo của tộc
người, không phải chỉ có các đặc trưng phân biệt nó, mà cả các đặc điểm chung với các
tộc người khác. Đó là hàng loạt những đặc trưng thuộc lĩnh vực văn hóa: nếp sống cổ
truyền như nhà cửa truyền thống, thành phần thức ăn, tập quán của đời sống gia đình, hôn
nhân và các phong tục, trong các hành vi hàng ngày của các thành viên. Đối với đặc thù
tộc người của các dân tộc hiện đại là sự xuất hiện của những truyền thống mới trong
khuôn khổ của đời sống văn hóa hàng ngày như văn hóa tinh thần nghề nghiệp.
Như vậy, dân tộc học đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu một trong những khía
cạnh cơ bản của toàn bộ lịch sử văn hóa nhân loại, nó đóng vai trò quan trọng trong sự tái

tạo lại lịch sử văn hóa của các giai đoạn phát triển sớm của xã hội. Cho nên có thể nói
rằng, dân tộc học là một bộ môn khoa học về nghiên cứu văn hóa.
Trong nghiên cứu các vấn đề hiện đại, công việc của các nhà dân tộc học có liên
hệ chặt chẽ tới xã hội học, cả hai bộ môn này đều quan tâm đến một số hay nhiều lĩnh
vực của đời sống xã hội. Xã hội học là một môn khoa học nghiên cứu về những con
người trong mối tương quan với những con người khác. Nó đã tiếp nhận từ dân tộc học
nhiều khái niệm như thể chế, các hệ thống xã hội - cơ cấu xã hội, chuẩn mực, giá trị, biểu

Dựa trên những thành tựu của các môn khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học,
xã hội học và tâm lý học so sánh, một bộ môn khoa học về “sự phát triển của con người
dưới hình thức những nền văn hóa của các nhóm dân tộc khác nhau” ra đời, đó chính là
nhân học văn hóa. Nhân học văn hóa ra đời khi mà các nhà khoa học nhận ra rằng không
thể dùng những yếu tố như chủng tộc hay sinh học để giải thích nguyên nhân khác nhau
về trang phục, ngôn ngữ, tín ngưỡng… của con người trên thế giới. Phải có một cái gì tạo
nên những sự khác biệt này, đó chính là văn hóa - những hành vi và quan niệm con người
học hỏi với tư cách là thành viên của xã hội. Nhân học văn hóa tiếp thu những tài liệu do
dân tộc học đem lại về: hoàn cảnh địa lý, lịch sử, ngôn ngữ, đặc điểm nhân chủng,
phương thức sản xuất, cái ăn, cái mặc, cái ở, cách cư trú, tín ngưỡng, lễ nghi tập tục
những biểu hiện có tính nghệ thuật, mối quan hệ qua lại giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá
nhân với cộng đồng, những chuẩn mực trong hành vi, cung cách ứng xử… Trên cơ sở đó,
các nhà nhân học văn hóa so sánh phân tích các thiết chế xã hội chủ yếu (chính trị và
kinh tế, tín ngưỡng, pháp lý, hôn nhân, sinh đẻ), tiến hành tổng hợp xã hội học, giải thích
nguyên nhân giống nhau và khác nhau, mức độ ổn định trong sự phát triển văn hóa của
các nhóm dân tộc. Như vậy, nhân học văn hóa là kết quả của sự giao thoa giữa dân tộc
học và xã hội học. Nếu như xã hội học đã tiếp nhận những khái niệm của dân tộc học thì
đến nhân học văn hóa lại kế thừa những khái niệm của xã hội học làm công cụ cho quá
trình khái quát hóa, tổng hợp của mình. Điều này giúp cho các nhà nhân học văn hóa đã
đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu bước khởi đầu quá trình biến đổi, phát triển của văn hóa, sự
khác biệt về mặt văn hóa giữa các dân tộc, khu vực, quốc gia và các loại hình văn hóa

khác nhau. Những hoạt động mà các nhà nhân học văn hóa đã tiến hành đóng góp quan
trọng đối với việc xây dựng cơ sở lý thuyết của sự hình thành bộ môn văn hóa học.
Trước yêu cầu phải có cách nhìn toàn diện đối với một đối tượng phức tạp như văn
hóa, phải có “kiến thức đồng bộ, tư duy tổng hợp và phương pháp tiếp cận liên ngành trên cơ
sở tích hợp các dữ liệu của nhiều khoa học”[61, tr.5], văn hóa học đã ra đời. Thuật ngữ này
xuất hiện lần đầu tiên năm 1909 do W. Ostwld đề xướng. Xuất phát từ quan niệm cho
rằng văn hóa là những gì phân biệt con người với động vật, hoạt động văn hóa là hoạt
động chỉ con người mới có, nhà triết học Đức đưa ra khái niệm văn hóa học là “khoa học

Văn hóa học khái quát các nỗ lực của nhiều ngành khác nhau nhằm tạo nên cơ
sở lý thuyết chung, tìm ra những quy luật tổng quát sự hình thành, phát triển
và vận hành của văn hóa [45, tr. 570].
Trên cơ sở coi văn hóa là tất cả những gì nhân tạo, đồng nhất với hoạt động con
người, với tồn tại, V.A. Kutyrev cho rằng: văn hóa học là học thuyết chung về thế giới.
Nó bao gồm văn hóa học lý luận và lịch sử (văn hóa học lý thuyết) và văn hóa học ứng
dụng.
ở Việt Nam, mặc dù văn hóa học mới được đề cập đến nhưng nhanh chóng thu hút
được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn hóa. Trong cuốn sách “Từ văn hóa đến văn
hóa học” GS Phạm Đức Dương xác định đối tượng của văn hóa học là thế giới biểu
tượng. GS Trần Ngọc Thêm với các góc độ khác nhau chia văn hóa học thành các phân
môn: Lịch sử văn hóa, Địa văn hóa, Văn hóa học đại cương, Cơ sở văn hóa. GS Đặng
Đức Siêu quan niệm văn hóa học tương ứng với các phân môn: Văn hóa học lý thuyết,
Văn hóa học lịch sử và Văn hóa học ứng dụng.
Như vậy, có thể nói rằng đang tồn tại nhiều lý luận về văn hóa và quan niệm về
văn hóa học là không thuần nhất. Đúng như một nhà văn hóa học đã từng nhận định
“Không có một văn hóa học, có bao nhiêu nhà văn hóa học lớn thì cũng có bấy nhiêu lý
luận văn hóa, mỗi khuynh hướng văn hóa học độc đáo đều quy định cách tiếp cận và đối

tượng của mình” [45, tr.66]. Trong điều kiện đó, chúng tôi lựa chọn quan niệm chia văn
hóa học thành một số ngành là văn hóa học lý thuyết (lý luận văn hóa), văn hóa học lịch
sử và văn hóa học ứng dụng. Trong phạm vi hạn hẹp của luận văn, chúng tôi sử dụng lý
luận văn hóa làm khái niệm công cụ để tiếp cận với những nhận thức lý luận về văn hóa ở
Việt Nam từ đầu thế kỷ XX cho đến năm 1945.
1.1.2. Lý luận văn hóa và đối tượng nghiên cứu của nó
Lý luận, có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp theoria có nghĩa là quan sát, nghiên cứu.
Theo Từ điển triết học do M.Rôđentan và P.Iuđin chủ biên thì lý luận được hiểu
theo 3 nghĩa:
Thứ nhất: hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức.
Thứ hai: kinh nghiệm của loài người đã được khái quát.

quy luật của quá trình phát triển văn hóa tinh thần nhờ các khái niệm và phạm trù khoa
học đặc trưng cho các khía cạnh và yếu tố khác nhau của nó [5, tr.14].
GS Hoàng Vinh quan niệm lý luận văn hóa là môn học nghiên cứu những vấn đề
mang tính quy luật trong sự nghiệp xây dựng văn hóa. Đó là quá trình sản xuất, bảo quản,
phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa - những yếu tố chức năng tạo nên đời sống
văn hóa của một cộng đồng xã hội.
Cũng theo GS Hoàng Vinh “Lý luận văn hóa là một tập hợp khái niệm, đặt trong một
cấu trúc xác định, nhờ hệ khái niệm đó con người có thể nắm bắt hiện thực văn hóa - xã hội,
gần đúng với sự tồn tại khách quan của nó” [71, tr.24].
Trong các cuốn sách về văn hóa đã xuất bản ở nước ta có đề cập đến lý luận văn
hóa như: Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Tìm về bản sắc văn
hóa Việt Nam, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện nay…
các tác giả ít đề cập đến khái niệm lý luận văn hóa. Nhưng thông qua việc trình bày nội

dung phần lý luận văn hóa, có thể khái quát những vấn đề mà lý luận văn hóa đề cập đến
là:
Khái niệm văn hóa, mối quan hệ của khái niệm này với một số khái niệm liên
quan.
Nguồn gốc của văn hóa
Cấu trúc và chức năng của văn hóa
Các quy luật vận động của văn hóa
Trên cơ sở những nghiên cứu trên đây, có thể hiểu lý luận văn hóa theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng, lý luận văn hóa bao gồm toàn bộ những tri thức về văn hóa được khái
quát thông qua quá trình nghiên cứu văn hóa. Nói một cách khác, đó là thành quả của
các khoa học nghiên cứu văn hóa như dân tộc học, xã hội học văn hóa, nhân học văn
hóa, văn hóa học…
Nghĩa hẹp, lý luận văn hóa là một phân môn của văn hóa học đi sâu vào bản thể
của văn hóa, tìm hiểu bản chất của văn hóa thông qua hệ thống các khái niệm, quy luật
vận động, phát triển của văn hóa.
Như vậy, đối tượng của lý luận văn hóa (luận văn đề cập đến) là văn hóa ở khía

dân tộc phương Đông vốn lâu nay thực hiện bế quan tỏa cảng, không giao lưu tiếp xúc
với bên ngoài, trong đó có Việt Nam. ở đây, luận văn chỉ đề cập đến những tác động trực
tiếp của thế giới, cả ở châu Âu và châu á đối với việc xuất hiện những nhận thức lý luận
về văn hóa ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX.
Trước hết là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các khoa học nghiên cứu văn hóa
ở các nước phương Tây. Mặc dù trong buổi đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây nhưng
qua các con đường khác nhau những lý thuyết văn hóa của thế giới ít nhiều đã thâm nhập
vào Việt Nam mà biểu hiện rõ nhất là thuyết Tiến hóa văn hóa và thuyết Truyền bá văn
hóa.

Như đã trình bày, những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ này là cơ sở cho
sự ra đời của nhiều ngành khoa học văn hóa, trong đó có Tiến hóa luận văn hóa. Xuất
phát từ quan niệm cho rằng học thuyết tiến hóa cũng chi phối quá trình phát triển của văn
hóa và xã hội loài người, cả L.H. Morgan và E.B. Taylor đều cho rằng “Văn hóa là
phương thức riêng biệt của nhân loại nhằm thích ứng với hoàn cảnh, văn hóa là một dạng
thức tâm lý của tộc người, tâm lý này và xã hội mà nó gắn bó đều phát triển tiến hóa theo
các giai đoạn từ thấp đến cao” [57, tr.18]. Khảo sát bước tiến hóa nhân loại, Morgan đã
xác định những nấc thang phổ biến trong quá trình phát triển văn hóa và xã hội của loài
người là “Mông muội” - “Dã man” - “Văn minh”. Tylor cũng quan niệm rằng “Dã man”
và “Văn minh” là giai đoạn thấp và giai đoạn cao của quá trình tiến hóa, có mối liên hệ
chặt chẽ với nhau tuần tự trước sau nối tiếp nhau. Trong tác phẩm “Những nghiên cứu
trong lĩnh vực cổ đại của loài người” công bố năm 1865, Tylor đã đưa ra những kết luận
về sự tiến hóa của văn hóa:
Lịch sử văn hóa cho thấy sự tiến bộ không ngừng từ trạng thái hoang dã nguyên
thủy đến văn minh hiện đại.
Những sự khác nhau về sinh hoạt của các dân tộc trên trái đất không phải là do
nguồn gốc chủng tộc, mà là do sự khác nhau về những nấc văn hóa đạt được của các xã
hội khác nhau.
Tất cả các yếu tố văn hóa là sản phẩm của sự phát minh độc lập, hoặc là của sự
thừa kế từ tổ tiên.

sang thời cận đại, từ xã hội phong kiến chuyển sang xã hội tư sản. Sự phát triển của khoa
học kĩ thuật là động lực, là căn nguyên vượt trội của phương Tây. Trong khi đó, phương
Đông tự ru ngủ mình trong vòng hào quang của quá khứ trở thành trì trệ, bảo thủ, bị
phương Tây vượt qua rất nhanh, buộc chấp nhận là người đi trước về sau. Đứng trước
nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, phương Đông phải đi tìm câu trả
lời cho con đường độc lập và phát triển của mình. Phong trào Tân thư - hiện tượng chung
của các nước châu á ra đời trong bối cảnh đó. Theo nghĩa gốc tiếng Hán, Tân thư là sách
mới, Tân học là nội dung học và cách học mới. Nhưng về bản chất lịch sử, đó là “hiện

tượng tư tưởng, văn hóa, lịch sử, khảo cứu và trên tất cả là chính trị, kinh tế, văn hóa xã
hội” [15, tr.234]. Nội dung Tân thư phản ánh sự giao lưu văn hóa, đổi mới tư tưởng,
chuẩn bị cho những cuộc cải cách xã hội theo con đường văn minh. Phong trào này đặc
biệt phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản và đã có tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.
Nhật Bản là quốc gia châu á sớm hướng tới phương Tây. Ngay từ thời Minh Trị đã
tiến hành nhiều cải cách theo mô hình phương Tây, tiếp thu khoa học kĩ thuật của phương
Tây với tinh thần Hòa hồn, Dương tài (tinh thần Nhật Bản cùng với khoa học kỹ thuật
của phương Tây). Các nhà cải cách chủ trương tách Nhật Bản ra khỏi vòng ảnh hưởng
của văn hóa Nho giáo, thực hiện “thoát á nhập Âu”. Họ cho dịch rất nhiều sách, phổ biến
là sách khoa học - kỹ thuật, sách tư tưởng, triết học, thể chế xã hội, văn hóa nghệ thuật từ
phương Tây (chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp) sang tiếng Nhật, tính đến năm 1890 số
sách đó lên đến hàng nghìn cuốn. Với việc phiên dịch này, Nhật Bản đã xây dựng được
một hệ thống các thuật ngữ khoa học trên khắp các lĩnh vực, trong đó có thuật ngữ chúng
ta đang sử dụng: văn hóa. Sự chủ động tiếp thu văn hóa, khoa học kỹ thuật của phương
Tây đã đưa Nhật Bản tránh khỏi thân phận nô lệ, trở thành một cường quốc mới, vượt xa
các nước có chung văn hóa gốc Hán. Tấm gương Nhật Bản đã có sự ảnh hưởng mạnh mẽ
với nhiều quốc gia châu á, trong đó có Việt Nam. Có thể nói, con đường Tân thư bắt đầu
từ Nhật Bản, sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam. Một nhân vật nổi tiếng trong phong
trào Tân thư của Nhật Bản là Phúc Trạch Dụ Cát (1831 -1901), ông đã viết hàng trăm
cuốn sách giới thiệu về văn minh phương Tây, trong đó có tác phẩm “Văn minh luận chi
khái lược”. Cuốn sách này cùng với mô hình trường Khánh ưng nghĩa thục do Phúc

đã tỉnh dậy khỏi “giấc mơ giáo điều phương Đông”, tiếp nhận phong trào Tân thư ở Nhật
Bản, Trung Quốc để tìm hướng đi mới cho dân tộc. Nhu cầu muốn thức tỉnh dân tộc, tự
phê phán mình đã dẫn đến kết quả là các thế hệ trí thức Việt nam, từ những sĩ phu tiến bộ
ở cuối thế kỷ XIX cho đến những sĩ phu tư sản hóa ở đầu thế kỉ XX và thế hệ trí thức Tây
học đều chịu ảnh hưởng của Tân thư. Họ đã tiếp nhận một cách nồng nhiệt những tư
tưởng mới từ những sách báo của các nhà cải cách Nhật Bản, Trung Quốc với những tên
tuổi rất hấp dẫn thời bấy giờ như Phúc Trạch Dụ Cát, Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu…
Không chỉ thế, qua Tân thư, trí thức Việt Nam đã tiếp cận với những tác phẩm của các

nhà khai sáng Pháp (J.J. Rutxô, Mongtetxkiơ…) và các nhà triết học châu Âu, Mỹ thế kỷ
XIX, đầu thế kỷ XX, nhất là các tác giả đề xướng thuyết Tiến hóa. Đây là điều kiện thuận
lợi cho trí thức dân tộc tiếp xúc với khoa học, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội
nhân văn, điều chưa từng xảy ra trong hàng ngàn năm phong kiến. Tinh thần say mê học
tập tư tưởng mới trong một bộ phận giới sĩ phu, trí thức Việt Nam giúp họ nhanh chóng
từ bỏ tư tưởng cũ một cách thuận lợi. Nếu như thế hệ trí thức thời Lê Quý Đôn mong
muốn khẳng định văn hóa Việt Nam bằng cách làm cho nó trở nên giống văn hóa Trung
Hoa thì bây giờ những trí thức đầu thế kỷ muốn nâng văn hóa Việt Nam ngang bằng với
thế giới, giống thế giới và dĩ nhiên thế giới đó không chỉ là Trung Hoa. Một cuộc phong
trào vận động văn hóa do các sĩ phu với mục đích duy tân đã diễn ra rầm rộ ở đầu thế kỷ
XX và nhanh chóng có sức lan tỏa trong xã hội được định hướng bởi một tác phẩm có
tính chất cương lĩnh của phong trào, đó là “Văn minh tân học sách”. Nếu qua Tân thư, trí
thức Việt Nam được tiếp cận với những lý thuyết khoa học phương Tây thì phong trào
Duy tân đã tạo cơ sở xã hội, môi trường cho những lý thuyết đó thâm nhập sâu rộng trong
đời sống xã hội. Đây là tiền đề quan trọng để những nhận thức lý luận về văn hóa sau này
xuất hiện.
1.2.2. Bối cảnh trong nước
Thứ nhất, cuộc giao lưu văn hóa Việt Pháp và nhu cầu tìm hiểu lý luận về văn hóa.
Như đã trình bày ở trên, giống như nhiều quốc gia châu á khác, cuối thế kỷ XIX, dân tộc
ta phải đối diện với văn minh phương Tây theo gót chân xâm lược của thực dân Pháp.
Một cuộc giao lưu mới mà chính nó là cuộc biến thiên lớn nhất lịch sử Việt Nam trong

đại mà “không đến nỗi lạc hậu nhưng cũng không bị lôi cuốn một cách lu mờ, nô lệ hóa”
[63, tr.56]. Đó là một công việc hết sức khó khăn đối với xã hội Việt Nam truyền thống.
Trong vòng ảnh hưởng của Nho giáo, nội dung học chỉ gói gọn trong Tứ thư, Ngũ kinh
cùng với chế độ khoa cử phong kiến mà trải qua bao thế kỷ nghiền ngẫm, các nhà nho
Việt Nam vẫn không khởi xướng được một học thuyết nào của người Việt Nam, hay
không ghi được một dấu ấn sắc nét hay một trào lưu tư tưởng mạnh mẽ nào khác Trung
Quốc. Những sĩ phu đầu thế kỷ XX đã bắt đầu nhận ra điều đó, và việc đầu tiên là phải ý
thức rõ về mình, ý thức rõ người, ý thức được sứ mệnh lịch sử của Việt Nam trong tương

quan về tinh thần cũng như thực tế của thế giới hiện đại. Yêu cầu đó đặt ra vấn đề phải
tìm hiểu về văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa của nhân loại… Đúng như học giả Đào
Duy Anh đã từng nhận định:
Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ
truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương.
Cuộc xung đột ấy sẽ giải quyết thế nào, đó là một vấn đề quan hệ đến cuộc sinh
tử tồn vong của dân tộc ta vậy. Nhưng muốn giải quyết thì phải nhận rõ chân
tướng của bi kịch ấy, tức là một mặt phải xét lại cho biết nội dung của văn hóa
xưa là thế nào, một mặt phải nghiên cứu cho biết chân giá trị của văn hóa mới [2,
tr.7].
Rõ ràng là, với cái vốn tích lũy qua hàng ngàn năm phong kiến không thể giúp gì
nhiều cho những trí thức của dân tộc lúc đó. Như một lẽ đương nhiên, họ phải tìm đến
khoa học, tiếp thu những thành tựu lý luận của thế giới để góp phần giải đáp những câu
hỏi của dân tộc mình. Những đóng góp của khoa học phương Tây cho trí thức Việt Nam
là rất lớn, đặc biệt trong việc hình thành tư duy khoa học. Phương pháp khoa học đã đem
lại những thành tựu trong buổi ban đầu của giới nghiên cứu Việt Nam, quan trọng hơn là
một cách nhìn mới đối với thế giới, xã hội và con người. Trong xã hội mau chóng hình
thành một thái độ đề cao khoa học, thậm chí sùng bái khoa học. Nhiều trí thức lúc đó đã
nhận thức được vai trò quan trọng của khoa học đối với sự phát triển của đất nước. Họ
cho rằng điều cần thiết có thể học được từ phương Tây chính là phương pháp khoa học vì
“Phương pháp khoa học là cái mà người Việt Nam chúng ta không có và chưa có” [30,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status