LUẬN VĂN: Quá trình nhận thức lý luận về văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945 doc - Pdf 15


LUẬN VĂN: Quá trình nhận thức lý luận về
văn hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ
XX đến năm 1945 Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chưa bao giờ vấn đề văn hóa lại thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế như
thời gian gần đây. Sự phát triển mạnh mẽ của văn hóa và vai trò ngày càng tăng của nó

cầu của sự phát triển đất nước là vấn đề đang đặt ra hiện nay. Bên cạnh việc tiếp thu
các thành tựu các lý thuyết văn hóa của thế giới đương đại thì việc khai thác những kết
quả nghiên cứu văn hóa trong nước từ trước đến nay rất có ý nghĩa đối với công tác
nghiên cứu hiện nay. Những kết quả này gắn liền với thế kỷ XX - thế kỷ đánh dấu
những bước chuyển to lớn của văn hóa Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Quá trình nhận thức lý luận về văn
hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Văn hóa học.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nửa thế kỷ nghiên cứu văn hóa với nhiều giai đoạn khác nhau đã tạo nên một
khối lượng lớn các công trình nghiên cứu. Cho đến nay, các kết quả này được đề cập
đến chủ yếu thông qua những phương diện sau:
Thứ nhất là các công trình sưu tập, biên soạn tác phẩm, các bài viết về văn hóa
theo những chủ đề nhất định. Có thể kể đến cuốn sách Luận về Quốc học (nghiên cứu
và cảo luận) do Trung tâm Quốc học biên soạn, tập hợp những bài viết từ đầu thế kỷ
cho đến năm 1945 về văn hóa dân tộc. Trên cơ sở nghiên cứu các bài viết đăng trên tạp
chí Nam Phong từ năm 1917 đến năm 1934, tác giả Phạm Thị Ngoạn trong cuốn sách
Tìm hiểu về Nam Phong tạp chí dành một chương Nền văn hóa Quốc gia để tổng luận

những vấn đề liên quan đến văn hóa. Mới đây, nhà xuất bản Lao động đã cho ra cuốn
sách “Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX” gồm 2 tập, tập hợp những bài viết xung quanh
các cuộc tranh luận lớn đầu thế kỷ XX về văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhiều bài
viết trực tiếp đề cập đến văn hóa.
Thứ hai là những công trình đề cập đến một xu hướng lý luận văn hóa cụ thể.
Đó là các cuốn sách nghiên cứu về “Đề cương văn hóa Việt Nam” như:
50 năm Đề cương văn hóa Việt Nam - Viện Khoa học xã hội Việt Nam, Nxb
Khoa học xã hội, 1995
60 năm Đề cương văn hóa với văn hóa và phát triển ở Việt Nam hiện nay- Đỗ
Thị Minh Thúy - Nxb Văn hóa thông tin, 2003
Thứ ba là các công trình khái quát những thành tựu nghiên cứu văn hóa ở Việt

trong công tác nghiên cứu văn hóa hiện nay.
 Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về lý luận văn hóa ở Việt Nam trong nửa đầu
thế kỷ XX gắn liền với các xu hướng nghiên cứu lý luận văn hóa.
- Chỉ ra tính quy luật của sự vận động trong nhận thức về văn hóa ở Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
- Bước đầu rút ra ý nghĩa của những kết quả này đối vớí công tác nghiên cứu lý
luận văn hóa hiện nay.

Phạm vi nghiên cứu:

Luận văn tìm hiểu những quan điểm về lý luận văn hóa trong các sách, báo, tạp
chí của các tác giả Việt Nam và trong các công trình dịch thuật ở Việt Nam từ đầu thế
kỷ đến năm 1945. Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, luận văn không khảo
cứu các lý thuyết văn hóa trong các công trình dân tộc học, lịch sử văn hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ
nghĩa duy vật lịch sử và kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích
và tổng hợp, phương pháp thống kê tư liệu và so sánh, phương pháp chuyên gia… để
thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn.
5. Đóng góp mới về khoa học
Lần đầu tiên, luận văn tập trung hệ thống hóa những quan điểm về văn hóa ở
nước ta trong nửa đầu thế kỷ XX, trên cơ sở đó khái quát xu hướng vận động của
những quan điểm này, đồng thời rút ra ý nghĩa đối với việc phát triển nghiên cứu lý
luận văn hóa ở nước ta hiện nay.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3
chương 8 tiết.

Chương 1

Văn hóa được truyền đạt dưới dạng biểu tượng.
Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là lĩnh vực tinh thần của đời sống xã
hội.
Thuộc về lĩnh vực tinh thần, văn hóa ra đời từ khi con người xuất hiện trên trái
đất này. Tuy nhiên cũng như nhiều hiện tượng khác, mãi đến sau này nó mới trở thành
đối tượng nghiên cứu riêng biệt của khoa học, khi có hàng loạt những tiền đề cho sự ra
đời của các khoa học văn hóa.
Một là, sự biến chuyển sâu sắc của đời sống chính trị - xã hội và tinh thần ở
châu Âu thế kỷ XVIII, XIX gắn liền với việc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa
được xác lập và phát triển. Những quan hệ kinh tế tư bản đã quy định những yếu tố cơ
bản của văn hóa thời kỳ này. Hàng loạt các vấn đề văn hóa mới nảy sinh, niềm tin, hệ
giá trị, đạo đức trong xã hội trung cổ tan rã nhanh chóng bởi quá trình công nghiệp hóa
và kinh tế thị trường, làm cho đời sống văn hóa xã hội có những xáo động, bất ổn. Các
khoa học văn hóa ra đời để nghiên cứu những biến chuyển trong lĩnh vực văn hóa
nhằm phục vụ cho sự ổn định xã hội, giữ gìn truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc,
tránh sự nghèo nàn về văn hóa của các dân tộc.
Hai là, với các phát kiến địa lý vĩ đại, châu Âu đã phát hiện ra nhiều vùng đất
mới, “như vừa thức tỉnh từ giấc mơ trung cổ cả một thế giới mới được mở ra chứa đầy
sự đa dạng của các hình thức văn hóa và những đặc biệt của lối sống” [7, tr.10]. Sau
đó là công cuộc chinh phục các nước thuộc địa được mở rộng từ châu á sang châu Phi
đã đem lại kho tư liệu dân tộc học hết sức phong phú. Đồng thời, quá trình đó đã sản

sinh ra nhu cầu nghiên cứu văn hóa của các dân tộc này nhằm đẩy mạnh hơn nữa việc
khai thác thuộc địa.
Ba là, hàng loạt những thành tựu của khoa học tự nhiên, khoa học lịch sử, khảo
cổ, địa lý…ra đời trong giai đoạn này đã tác động mạnh mẽ đến những nhận thức,
quan niệm về văn hóa, là cơ sở cho sự ra đời của nhiều lý thuyết văn hóa nổi tiếng.
Tiêu biểu là học thuyết tiến hóa của Ch. Đácuyn, học thuyết đã xóa đi ranh giới giữa
các giống loài mà coi đó là kết quả sự phát triển liên tục của tự nhiên. Tư tưởng này đã
được các nhà nghiên cứu văn hóa xem xét trong quá trình phát triển của văn hóa và xã

Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX xuất hiện các trường phái dân tộc học phê
phán thuyết tiến hóa, chống lại nguyên lý của phương pháp lịch sử trong dân tộc học,
tính quy luật trong sự phát triển của các hiện tượng dân tộc học. Các nhà khoa học
thuộc trường phái này thừa nhận khuếch tán như là yếu tố cơ bản trong sự phát triển
văn hóa. Văn hóa được coi là một tổng thể các hiện tượng không lặp lại, đơn nhất.
Trường phái dân tộc học Xôviết quan niệm dân tộc học là “bộ môn khoa học
lịch sử, chủ yếu dùng phương pháp trực tiếp quan sát để nghiên cứu sinh hoạt và
phong tục tập quán, sự phân bố và quan hệ văn hóa và lịch sử của các dân tộc trên thế
giới” [13, tr.3]. Đối tượng của nó là nghiên cứu nguồn gốc dân tộc, nghiên cứu lịch sử
hình thành các đặc điểm văn hóa và sinh hoạt dân tộc, lịch sử phân bố và di cư các dân
tộc.
Ngày nay, dân tộc học đã có những bước phát triển mới, tuy còn tồn tại nhiều
quan niệm khác nhau, nhưng nhiều nhà dân tộc học trên thế giới đã đi đến nhận thức
chung về đối tượng của dân tộc học là “tất cả các dân tộc, dù ở thang bậc phát triển
thấp hay cao, thiểu số hay đa số, đã tồn tại trong quá khứ hay là đang tồn tại hiện nay”
[23, tr.8]. Một trong những nhiệm vụ quan trọng nhất và với các nội dung nghiên cứu
phong phú và đa dạng nhất được các nhà dân tộc học đặc biệt quan tâm là nghiên cứu

các đặc trưng sinh hoạt - văn hóa truyền thống và hiện đại, vạch ra cho được diện mạo
của tộc người, không phải chỉ có các đặc trưng phân biệt nó, mà cả các đặc điểm
chung với các tộc người khác. Đó là hàng loạt những đặc trưng thuộc lĩnh vực văn
hóa: nếp sống cổ truyền như nhà cửa truyền thống, thành phần thức ăn, tập quán của
đời sống gia đình, hôn nhân và các phong tục, trong các hành vi hàng ngày của các
thành viên. Đối với đặc thù tộc người của các dân tộc hiện đại là sự xuất hiện của
những truyền thống mới trong khuôn khổ của đời sống văn hóa hàng ngày như văn hóa
tinh thần nghề nghiệp.
Như vậy, dân tộc học đã tạo điều kiện cho việc nghiên cứu một trong những
khía cạnh cơ bản của toàn bộ lịch sử văn hóa nhân loại, nó đóng vai trò quan trọng
trong sự tái tạo lại lịch sử văn hóa của các giai đoạn phát triển sớm của xã hội. Cho
nên có thể nói rằng, dân tộc học là một bộ môn khoa học về nghiên cứu văn hóa.

hóa đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nó. Với nhiệm vụ “xem xét cấu trúc và hoạt
động của văn hóa trong mối liên hệ với các cơ cấu, thiết chế xã hội và được áp dụng
đối với các tình huống lịch sử cụ thể” [48, tr.80], xã hội học văn hóa đã tự khẳng định
là một chuyên ngành của xã hội học. Những kết quả nghiên cứu mà nó đem lại ngày
càng có ý nghĩa và đóng góp quan trọng cho các khoa học xã hội và nhân văn.
Dựa trên những thành tựu của các môn khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học,
xã hội học và tâm lý học so sánh, một bộ môn khoa học về “sự phát triển của con
người dưới hình thức những nền văn hóa của các nhóm dân tộc khác nhau” ra đời, đó
chính là nhân học văn hóa. Nhân học văn hóa ra đời khi mà các nhà khoa học nhận ra
rằng không thể dùng những yếu tố như chủng tộc hay sinh học để giải thích nguyên
nhân khác nhau về trang phục, ngôn ngữ, tín ngưỡng… của con người trên thế giới.
Phải có một cái gì tạo nên những sự khác biệt này, đó chính là văn hóa - những hành vi
và quan niệm con người học hỏi với tư cách là thành viên của xã hội. Nhân học văn
hóa tiếp thu những tài liệu do dân tộc học đem lại về: hoàn cảnh địa lý, lịch sử, ngôn
ngữ, đặc điểm nhân chủng, phương thức sản xuất, cái ăn, cái mặc, cái ở, cách cư trú,
tín ngưỡng, lễ nghi tập tục những biểu hiện có tính nghệ thuật, mối quan hệ qua lại
giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân với cộng đồng, những chuẩn mực trong hành vi,

cung cách ứng xử… Trên cơ sở đó, các nhà nhân học văn hóa so sánh phân tích các
thiết chế xã hội chủ yếu (chính trị và kinh tế, tín ngưỡng, pháp lý, hôn nhân, sinh đẻ),
tiến hành tổng hợp xã hội học, giải thích nguyên nhân giống nhau và khác nhau, mức
độ ổn định trong sự phát triển văn hóa của các nhóm dân tộc. Như vậy, nhân học văn
hóa là kết quả của sự giao thoa giữa dân tộc học và xã hội học. Nếu như xã hội học đã
tiếp nhận những khái niệm của dân tộc học thì đến nhân học văn hóa lại kế thừa những
khái niệm của xã hội học làm công cụ cho quá trình khái quát hóa, tổng hợp của mình.
Điều này giúp cho các nhà nhân học văn hóa đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu bước khởi
đầu quá trình biến đổi, phát triển của văn hóa, sự khác biệt về mặt văn hóa giữa các
dân tộc, khu vực, quốc gia và các loại hình văn hóa khác nhau. Những hoạt động mà
các nhà nhân học văn hóa đã tiến hành đóng góp quan trọng đối với việc xây dựng cơ
sở lý thuyết của sự hình thành bộ môn văn hóa học.

đình” [48, tr.66]. Xuất phát từ ba định hướng nhận thức cơ bản về văn hóa: triết hoc,
lịch sử, lý luận, ông đã chia văn hóa học thành các bộ phận là triết học, lịch sử văn hóa
và khoa học về văn hóa.
Cũng một nhà nghiên cứu văn hóa Nga khác, A.A. Radughin cho rằng:
Văn hóa học - môn khoa học nghiên cứu sự ra đời và phát triển của
văn hóa nói chung, có tham vọng nghiên cứu văn hóa trong bản chất cũng
như trong toàn bộ các biểu hiện của nó, bao gồm cả lý thuyết và lịch sử văn
hóa. Văn hóa học khái quát các nỗ lực của nhiều ngành khác nhau nhằm tạo
nên cơ sở lý thuyết chung, tìm ra những quy luật tổng quát sự hình thành,
phát triển và vận hành của văn hóa [45, tr. 570].
Trên cơ sở coi văn hóa là tất cả những gì nhân tạo, đồng nhất với hoạt động con
người, với tồn tại, V.A. Kutyrev cho rằng: văn hóa học là học thuyết chung về thế giới.
Nó bao gồm văn hóa học lý luận và lịch sử (văn hóa học lý thuyết) và văn hóa học ứng
dụng.

ở Việt Nam, mặc dù văn hóa học mới được đề cập đến nhưng nhanh chóng thu
hút được sự quan tâm của giới nghiên cứu văn hóa. Trong cuốn sách “Từ văn hóa đến
văn hóa học” GS Phạm Đức Dương xác định đối tượng của văn hóa học là thế giới
biểu tượng. GS Trần Ngọc Thêm với các góc độ khác nhau chia văn hóa học thành các
phân môn: Lịch sử văn hóa, Địa văn hóa, Văn hóa học đại cương, Cơ sở văn hóa. GS
Đặng Đức Siêu quan niệm văn hóa học tương ứng với các phân môn: Văn hóa học lý
thuyết, Văn hóa học lịch sử và Văn hóa học ứng dụng.
Như vậy, có thể nói rằng đang tồn tại nhiều lý luận về văn hóa và quan niệm về
văn hóa học là không thuần nhất. Đúng như một nhà văn hóa học đã từng nhận định
“Không có một văn hóa học, có bao nhiêu nhà văn hóa học lớn thì cũng có bấy nhiêu
lý luận văn hóa, mỗi khuynh hướng văn hóa học độc đáo đều quy định cách tiếp cận và
đối tượng của mình” [45, tr.66]. Trong điều kiện đó, chúng tôi lựa chọn quan niệm
chia văn hóa học thành một số ngành là văn hóa học lý thuyết (lý luận văn hóa), văn
hóa học lịch sử và văn hóa học ứng dụng. Trong phạm vi hạn hẹp của luận văn, chúng
tôi sử dụng lý luận văn hóa làm khái niệm công cụ để tiếp cận với những nhận thức lý

hợp, tái hiện toàn bộ biện chứng đối tượng (tái hiện toàn bộ mâu thuẫn, bản chất, hệ
thống quy luật của văn hóa )
Tiếp cận liên ngành khoa học, mở rộng việc tái hiện toàn bộ bản chất văn hóa
như nó vốn có, như cái nó khác và như cái khác của nó, nhờ đó mà đi sâu hơn bản chất
của nó [69, tr.114].

Trong cuốn sách lý luận văn hóa đầu tiên của Liên Xô “Cơ sở lý luận văn hóa
Mác - Lênin”, các nhà khoa học Xôviết đã xác định: lý luận văn hóa nghiên cứu những
quy luật của quá trình phát triển văn hóa tinh thần nhờ các khái niệm và phạm trù khoa
học đặc trưng cho các khía cạnh và yếu tố khác nhau của nó [5, tr.14].
GS Hoàng Vinh quan niệm lý luận văn hóa là môn học nghiên cứu những vấn
đề mang tính quy luật trong sự nghiệp xây dựng văn hóa. Đó là quá trình sản xuất, bảo
quản, phân phối và tiêu dùng các sản phẩm văn hóa - những yếu tố chức năng tạo nên
đời sống văn hóa của một cộng đồng xã hội.
Cũng theo GS Hoàng Vinh “Lý luận văn hóa là một tập hợp khái niệm, đặt trong
một cấu trúc xác định, nhờ hệ khái niệm đó con người có thể nắm bắt hiện thực văn hóa - xã
hội, gần đúng với sự tồn tại khách quan của nó” [71, tr.24].
Trong các cuốn sách về văn hóa đã xuất bản ở nước ta có đề cập đến lý luận văn
hóa như: Giáo trình lý luận văn hóa và đường lối văn hóa của Đảng, Tìm về bản sắc
văn hóa Việt Nam, Mấy vấn đề lý luận và thực tiễn xây dựng văn hóa ở nước ta hiện
nay… các tác giả ít đề cập đến khái niệm lý luận văn hóa. Nhưng thông qua việc trình
bày nội dung phần lý luận văn hóa, có thể khái quát những vấn đề mà lý luận văn hóa
đề cập đến là:
Khái niệm văn hóa, mối quan hệ của khái niệm này với một số khái niệm liên
quan.
Nguồn gốc của văn hóa
Cấu trúc và chức năng của văn hóa
Các quy luật vận động của văn hóa
Trên cơ sở những nghiên cứu trên đây, có thể hiểu lý luận văn hóa theo hai
nghĩa:

vận hành của những hình thức và phương diện cụ thể của văn hóa. Có thể nói, lý luận
văn hóa hạt nhân của hệ thống các khoa học nghiên cứu văn hóa. Nó cung cấp cho các
khoa học văn hóa những khái niệm mang tính công cụ, cơ sở lý luận chung nhất để các
bộ môn này nghiên cứu các hiện tượng văn hóa của các dân tộc, nhóm xã hội trong
những giai đoạn cụ thể.
1.2. Bối cảnh ra đời của những nhận thức lý luận văn hóa ở nước ta
1.2.1. Bối cảnh thế giới
Bước vào thế kỷ XX, thế giới đã có nhiều thay đổi. Sự phát triển của chủ nghĩa
tư bản, của khoa học kĩ thuật dường như thu hẹp khoảng cách về địa lý giữa các dân
tộc. Những sự kiện xảy ra trên thế giới đã nhanh chóng tác động đến từng dân tộc, kể
cả nhiều dân tộc phương Đông vốn lâu nay thực hiện bế quan tỏa cảng, không giao lưu
tiếp xúc với bên ngoài, trong đó có Việt Nam. ở đây, luận văn chỉ đề cập đến những
tác động trực tiếp của thế giới, cả ở châu Âu và châu á đối với việc xuất hiện những
nhận thức lý luận về văn hóa ở nước ta nửa đầu thế kỷ XX.
Trước hết là sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của các khoa học nghiên cứu văn
hóa ở các nước phương Tây. Mặc dù trong buổi đầu tiếp xúc với văn hóa phương Tây
nhưng qua các con đường khác nhau những lý thuyết văn hóa của thế giới ít nhiều đã
thâm nhập vào Việt Nam mà biểu hiện rõ nhất là thuyết Tiến hóa văn hóa và thuyết
Truyền bá văn hóa.
Như đã trình bày, những thành tựu của khoa học tự nhiên thời kỳ này là cơ sở
cho sự ra đời của nhiều ngành khoa học văn hóa, trong đó có Tiến hóa luận văn hóa.
Xuất phát từ quan niệm cho rằng học thuyết tiến hóa cũng chi phối quá trình phát triển
của văn hóa và xã hội loài người, cả L.H. Morgan và E.B. Taylor đều cho rằng “Văn
hóa là phương thức riêng biệt của nhân loại nhằm thích ứng với hoàn cảnh, văn hóa là
một dạng thức tâm lý của tộc người, tâm lý này và xã hội mà nó gắn bó đều phát triển

tiến hóa theo các giai đoạn từ thấp đến cao” [57, tr.18]. Khảo sát bước tiến hóa nhân
loại, Morgan đã xác định những nấc thang phổ biến trong quá trình phát triển văn hóa
và xã hội của loài người là “Mông muội” - “Dã man” - “Văn minh”. Tylor cũng quan
niệm rằng “Dã man” và “Văn minh” là giai đoạn thấp và giai đoạn cao của quá trình

quan hệ chặt chẽ với nhau, trường phái Truyền bá luận văn hóa đã có những bước tiến
trên con đường tiếp cận nghiên cứu tìm hiểu văn hóa, nghiên cứu thực chất của văn
hóa.
Những trường phái nghiên cứu văn hóa này đã ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián
tiếp đến tầng lớp trí thức dân tộc Việt Nam trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ XX. ảnh
hưởng trực tiếp là lực lượng trí thức Tây học, đã từng du học ở các nước phương Tây
mà chủ yếu là ở Pháp. ảnh hưởng gián tiếp là qua phong trào Tân thư, từ Trung Quốc,
Nhật Bản đã truyền vào nước ta nhiều sách khoa học dịch từ phương Tây.
Thứ hai, phong trào Tân thư, Tân học ở các nước châu á.
Sau đêm dài trung cổ, châu Âu bừng tỉnh trong thời kỳ Phục hưng với những
thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực, đánh dấu thời kỳ chuyển tiếp từ thời trung đại
sang thời cận đại, từ xã hội phong kiến chuyển sang xã hội tư sản. Sự phát triển của
khoa học kĩ thuật là động lực, là căn nguyên vượt trội của phương Tây. Trong khi đó,
phương Đông tự ru ngủ mình trong vòng hào quang của quá khứ trở thành trì trệ, bảo
thủ, bị phương Tây vượt qua rất nhanh, buộc chấp nhận là người đi trước về sau. Đứng
trước nguy cơ bành trướng của chủ nghĩa tư bản phương Tây, phương Đông phải đi
tìm câu trả lời cho con đường độc lập và phát triển của mình. Phong trào Tân thư -
hiện tượng chung của các nước châu á ra đời trong bối cảnh đó. Theo nghĩa gốc tiếng
Hán, Tân thư là sách mới, Tân học là nội dung học và cách học mới. Nhưng về bản
chất lịch sử, đó là “hiện tượng tư tưởng, văn hóa, lịch sử, khảo cứu và trên tất cả là
chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội” [15, tr.234]. Nội dung Tân thư phản ánh sự giao lưu
văn hóa, đổi mới tư tưởng, chuẩn bị cho những cuộc cải cách xã hội theo con đường

văn minh. Phong trào này đặc biệt phát triển mạnh ở Trung Quốc, Nhật Bản và đã có
tác động mạnh mẽ đến Việt Nam.
Nhật Bản là quốc gia châu á sớm hướng tới phương Tây. Ngay từ thời Minh Trị
đã tiến hành nhiều cải cách theo mô hình phương Tây, tiếp thu khoa học kĩ thuật của
phương Tây với tinh thần Hòa hồn, Dương tài (tinh thần Nhật Bản cùng với khoa học
kỹ thuật của phương Tây). Các nhà cải cách chủ trương tách Nhật Bản ra khỏi vòng
ảnh hưởng của văn hóa Nho giáo, thực hiện “thoát á nhập Âu”. Họ cho dịch rất nhiều

qua Tân thư, Tân học để thổi vào dân tộc Trung Hoa “luồng gió thức tỉnh” của những
tư tưởng mới. Họ đã tiến hành khảo cứu những sách cổ, luận giải cho tính đúng đắn
của tư tưởng duy tân, dịch và giới thiệu những tiến bộ của phương Tây, nghiên cứu
Trung Quốc, nghiên cứu phương Tây để rút ra những nội dung mà Trung Quốc cần
tiếp thu, học hỏi phương Tây. Điều này đã mở ra một xu hướng mới “Đông học vi thể,
Tây học vi dụng” duy trì những giá trị của văn hóa phương Đông trong khi tiếp thu
khoa học kỹ thuật phương Tây.
Nói một cách khái quát, Tân thư có một vị trí lịch sử mang tính thời đại rõ nét,
mang nội dung đòi hỏi đổi mới, dám phê phán cách nhìn bảo thủ, phê phán những
nguyên tắc đạo lý khuôn phép của thánh hiền để “tạo nên một xung lực mới” cho xã
hội phát triển. Tân thư còn mang nội dung mở cửa với phương Tây thông qua việc
dịch hàng loạt sách phương Tây. Tân thư có nội dung trình bày kiến thức hiện đại tổng
hợp, đề ra cách nghĩ những kế sách học tập thay đổi, phát triển tự cường. Trong bối
cảnh Việt Nam rơi vào tay Pháp, các phong trào yêu nước đều thất bại, các bậc sĩ phu,
trí thức Việt Nam đã tỉnh dậy khỏi “giấc mơ giáo điều phương Đông”, tiếp nhận phong
trào Tân thư ở Nhật Bản, Trung Quốc để tìm hướng đi mới cho dân tộc. Nhu cầu muốn
thức tỉnh dân tộc, tự phê phán mình đã dẫn đến kết quả là các thế hệ trí thức Việt nam,
từ những sĩ phu tiến bộ ở cuối thế kỷ XIX cho đến những sĩ phu tư sản hóa ở đầu thế
kỉ XX và thế hệ trí thức Tây học đều chịu ảnh hưởng của Tân thư. Họ đã tiếp nhận một
cách nồng nhiệt những tư tưởng mới từ những sách báo của các nhà cải cách Nhật
Bản, Trung Quốc với những tên tuổi rất hấp dẫn thời bấy giờ như Phúc Trạch Dụ Cát,
Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu… Không chỉ thế, qua Tân thư, trí thức Việt Nam đã

tiếp cận với những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp (J.J. Rutxô, Mongtetxkiơ…)
và các nhà triết học châu Âu, Mỹ thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhất là các tác giả đề
xướng thuyết Tiến hóa. Đây là điều kiện thuận lợi cho trí thức dân tộc tiếp xúc với
khoa học, cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, điều chưa từng xảy ra
trong hàng ngàn năm phong kiến. Tinh thần say mê học tập tư tưởng mới trong một bộ
phận giới sĩ phu, trí thức Việt Nam giúp họ nhanh chóng từ bỏ tư tưởng cũ một cách
thuận lợi. Nếu như thế hệ trí thức thời Lê Quý Đôn mong muốn khẳng định văn hóa

trào ra sao… ai ai cũng như bỡ ngỡ, bơ thờ, thẩn thơ, ngơ ngác, như người
lỡ bước lạc đường, bơ vơ không biết nương tựa vào đâu. Cái bi kịch về tinh
thần đó, ông cha ta ngày xưa không từng biết, vì đương đời bế quan tỏa
cảng, các cụ chỉ biết có một cái văn minh học thuật Trung Hoa mà thôi, di
truyền tự thượng cổ, tích lũy từ lâu đời, thành như một nền văn hóa riêng
của nước mình, thành thực phụng thờ, lòng được chuyên nhất, không phải
chia sẻ lắm đường, nên giữ được cái vẻ thái nhiên yên ổn [43, tr.636].
Trước cái bi kịch này, mỗi con dân đất Việt không thể không xúc động và như
một lẽ tự nhiên “Quốc gia hưng vong, sĩ phu hữu trách”, cho dù có những cách đi khác
nhau nhưng họ đều gặp nhau ở những trăn trở, những khát vọng cho dân tộc mình
được độc lập, mở mang và phát triển. Có những bậc anh hùng cứu quốc, tiếp tục sự
nghiệp theo truyền thống dân tộc, đứng lên tập hợp lực lượng để cứu nước. Cũng có
những bậc học giả suốt đời đeo đuổi sự nghiệp tinh thần, không thỏa mãn với những
“chủ nghĩa đi mượn, những tư tưởng chưa được Việt Nam hóa”. Họ cố gắng gây dựng
cho dân tộc Việt Nam có được “một bản ngã tinh thần rõ rệt” trong bước đường tiến
hóa của thế giới hiện đại mà “không đến nỗi lạc hậu nhưng cũng không bị lôi cuốn
một cách lu mờ, nô lệ hóa” [63, tr.56]. Đó là một công việc hết sức khó khăn đối với
xã hội Việt Nam truyền thống. Trong vòng ảnh hưởng của Nho giáo, nội dung học chỉ
gói gọn trong Tứ thư, Ngũ kinh cùng với chế độ khoa cử phong kiến mà trải qua bao
thế kỷ nghiền ngẫm, các nhà nho Việt Nam vẫn không khởi xướng được một học
thuyết nào của người Việt Nam, hay không ghi được một dấu ấn sắc nét hay một trào
lưu tư tưởng mạnh mẽ nào khác Trung Quốc. Những sĩ phu đầu thế kỷ XX đã bắt đầu

Trích đoạn nghĩa của những thành tựu nghiên cứu lý luận văn hóa giai đoạn nửa đầu thế kỷ Những bài học kinh nghiệm Một số kiến nghị đối với công tác nghiên cứu lý luận văn hóa hiện nay
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status