LUẬN VĂN:
Quá trình nhận thức lý luận về văn
hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX
đến năm 1945
Mở đầu
văn hóa trong quá trình đổi mới, trong việc xác định những giá trị truyền
thống cũng như hệ giá trị mới cần xây dựng, trong việc xử lý các mối quan
hệ giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, văn hóa và chính trị,
văn hóa và kinh tế [18, tr.23].
Do đó, đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận văn hóa để đáp ứng được với yêu
cầu của sự phát triển đất nước là vấn đề đang đặt ra hiện nay. Bên cạnh việc tiếp thu các
thành tựu các lý thuyết văn hóa của thế giới đương đại thì việc khai thác những kết quả
nghiên cứu văn hóa trong nước từ trước đến nay rất có ý nghĩa đối với công tác nghiên
cứu hiện nay. Những kết quả này gắn liền với thế kỷ XX - thế kỷ đánh dấu những bước
chuyển to lớn của văn hóa Việt Nam.
Xuất phát từ lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Quá trình nhận thức lý luận về văn
hóa ở Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến năm 1945” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành
Văn hóa học.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nửa thế kỷ nghiên cứu văn hóa với nhiều giai đoạn khác nhau đã tạo nên một
khối lượng lớn các công trình nghiên cứu. Cho đến nay, các kết quả này được đề cập
đến chủ yếu thông qua những phương diện sau:
Thứ nhất là các công trình sưu tập, biên soạn tác phẩm, các bài viết về văn hóa
theo những chủ đề nhất định. Có thể kể đến cuốn sách Luận về Quốc học (nghiên cứu
và cảo luận) do Trung tâm Quốc học biên soạn, tập hợp những bài viết từ đầu thế kỷ
cho đến năm 1945 về văn hóa dân tộc. Trên cơ sở nghiên cứu các bài viết đăng trên tạp
chí Nam Phong từ năm 1917 đến năm 1934, tác giả Phạm Thị Ngoạn trong cuốn sách
Tìm hiểu về Nam Phong tạp chí dành một chương Nền văn hóa Quốc gia để tổng luận
những vấn đề liên quan đến văn hóa. Mới đây, nhà xuất bản Lao động đã cho ra cuốn
sách “Tranh luận văn nghệ thế kỷ XX” gồm 2 tập, tập hợp những bài viết xung quanh
các cuộc tranh luận lớn đầu thế kỷ XX về văn hóa nghệ thuật, trong đó có nhiều bài viết
trực tiếp đề cập đến văn hóa.
công trình nào đi vào tổng kết, hệ thống hoá và đánh giá sự phát triển nhận thức lý luận
văn hoá ở nửa đầu thế kỷ XX. Kế thừa những thành tựu này, luận văn sẽ tiếp tục khảo
sát, phân tích đánh giá về vấn đề trên cùng với mong muốn cung cấp một cái nhìn toàn
cảnh sự phát triển nhận thức này, tạo tiền đề để chúng ta suy nghĩ tiếp về tình hình văn
hoá ở thế kỷ XXI.
3. Mục đích, nhiệm vụ, phạm vi nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Trên cơ sở hệ thống hóa những quan điểm về văn hóa ở Việt Nam
đầu thế kỷ XX đến năm 1945, luận văn khẳng định sự vận động, phát triển trong nhận
thức về văn hóa ở Việt Nam trong thời kỳ này, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm
trong công tác nghiên cứu văn hóa hiện nay.
Nhiệm vụ:
- Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về lý luận văn hóa ở Việt Nam trong nửa đầu
thế kỷ XX gắn liền với các xu hướng nghiên cứu lý luận văn hóa.
- Chỉ ra tính quy luật của sự vận động trong nhận thức về văn hóa ở Việt Nam
nửa đầu thế kỷ XX
- Bước đầu rút ra ý nghĩa của những kết quả này đối vớí công tác nghiên cứu lý
luận văn hóa hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
Luận văn tìm hiểu những quan điểm về lý luận văn hóa trong các sách, báo, tạp
chí của các tác giả Việt Nam và trong các công trình dịch thuật ở Việt Nam từ đầu thế
kỷ đến năm 1945. Xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của đề tài, luận văn không khảo cứu
các lý thuyết văn hóa trong các công trình dân tộc học, lịch sử văn hóa.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng chủ nghĩa
duy vật lịch sử và kết hợp phương pháp lịch sử và lôgic, phương pháp phân tích và tổng
hợp, phương pháp thống kê tư liệu và so sánh, phương pháp chuyên gia… để thực hiện
mục tiêu và nhiệm vụ của luận văn.
trên. Khi thấy cần phải giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó, trong một hoàn cảnh nhận
thức mới xuất hiện, các nhà nghiên cứu văn hóa lại đưa ra các quan niệm mới làm cho
các định nghĩa ngày càng nhiều thêm. Nhưng cho dù các định nghĩa đó phong phú thế
nào đi chăng nữa thì tựu trung lại, văn hóa có thể được hiểu ở các khía cạnh sau:
Văn hóa là cái phân biệt giữa con người với động vật, chỉ có văn hóa ở con người
mà không có văn hóa ở động vật. Như vậy, văn hóa là phạm trù chỉ thuộc tính của loài
người.
Văn hóa là dấu hiệu đặc trưng cho xã hội loài người (dấu hiệu để phân biệt xã hội
này với xã hội khác, dân tộc này với dân tộc khác)
Văn hóa là cái không thể kế thừa theo con đường sinh học mà phải do học tập mà
có.
Văn hóa thường gắn với các ý niệm (thế giới tinh thần)
Văn hóa được truyền đạt dưới dạng biểu tượng.
Trong luận văn này, văn hóa được hiểu là lĩnh vực tinh thần của đời sống xã hội.
Thuộc về lĩnh vực tinh thần, văn hóa ra đời từ khi con người xuất hiện trên trái
đất này. Tuy nhiên cũng như nhiều hiện tượng khác, mãi đến sau này nó mới trở thành
đối tượng nghiên cứu riêng biệt của khoa học, khi có hàng loạt những tiền đề cho sự ra
đời của các khoa học văn hóa.
Một là, sự biến chuyển sâu sắc của đời sống chính trị - xã hội và tinh thần ở châu
Âu thế kỷ XVIII, XIX gắn liền với việc phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa được
xác lập và phát triển. Những quan hệ kinh tế tư bản đã quy định những yếu tố cơ bản
của văn hóa thời kỳ này. Hàng loạt các vấn đề văn hóa mới nảy sinh, niềm tin, hệ giá trị,
đạo đức trong xã hội trung cổ tan rã nhanh chóng bởi quá trình công nghiệp hóa và kinh
tế thị trường, làm cho đời sống văn hóa xã hội có những xáo động, bất ổn. Các khoa học
văn hóa ra đời để nghiên cứu những biến chuyển trong lĩnh vực văn hóa nhằm phục vụ
cho sự ổn định xã hội, giữ gìn truyền thống văn hóa của mỗi dân tộc, tránh sự nghèo nàn
về văn hóa của các dân tộc.
là tộc người học với đối tượng là văn hóa các dân tộc sơ khai. Trong tác phẩm “Văn hóa
nguyên thủy”, ông đã chỉ ra nhiệm vụ của dân tộc học là:
Từ những hiện tượng văn hóa ở những xã hội con người khác nhau “nghiên cứu
những yếu tố chung làm cơ sở cho chúng, là đối tượng thuận tiện để nghiên cứu các quy
luật tư duy và hoạt động của con người” [57, tr.84], trong đó ông đặc biệt chú ý tới sự
so sánh các bộ lạc còn trong trạng thái dã man, lạc hậu với văn hóa của các dân tộc tiên
tiến.
Nghiên cứu văn hóa các dân tộc phải chia nó thành những bộ phận hợp thành và
xếp loại những bộ phận đó nhằm mục đích phân bố chúng về mặt địa lý hay lịch sử và
vạch ra những quan hệ của chúng với nhau.
Nghiên cứu những nguyên nhân đẻ ra các hiện tượng văn hóa và các quy luật chi
phối chúng - trước hết cần phải xây dựng càng có hệ thống càng tốt một sơ đồ phát triển
văn hóa theo những hướng khác nhau. Bằng cách so sánh các giai đoạn văn hóa khác
nhau ở những xã hội nào đó trong lịch sử, đối chiếu chúng với những tài liệu khảo cổ
học nằm trong các di tích văn hóa của những bộ lạc tiền sử.
Vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX xuất hiện các trường phái dân tộc học phê
phán thuyết tiến hóa, chống lại nguyên lý của phương pháp lịch sử trong dân tộc học,
tính quy luật trong sự phát triển của các hiện tượng dân tộc học. Các nhà khoa học thuộc
trường phái này thừa nhận khuếch tán như là yếu tố cơ bản trong sự phát triển văn hóa.
Văn hóa được coi là một tổng thể các hiện tượng không lặp lại, đơn nhất.
Trường phái dân tộc học Xôviết quan niệm dân tộc học là “bộ môn khoa học lịch
sử, chủ yếu dùng phương pháp trực tiếp quan sát để nghiên cứu sinh hoạt và phong tục
tập quán, sự phân bố và quan hệ văn hóa và lịch sử của các dân tộc trên thế giới” [13,
tr.3]. Đối tượng của nó là nghiên cứu nguồn gốc dân tộc, nghiên cứu lịch sử hình thành
các đặc điểm văn hóa và sinh hoạt dân tộc, lịch sử phân bố và di cư các dân tộc.
Ngày nay, dân tộc học đã có những bước phát triển mới, tuy còn tồn tại nhiều
quan niệm khác nhau, nhưng nhiều nhà dân tộc học trên thế giới đã đi đến nhận thức
các tác phẩm của mình, Max Weber đã phân tích một cách sâu sắc sự thâm nhập lẫn
nhau giữa các yếu tố văn hóa và xã hội, qua đó chỉ ra ảnh hưởng to lớn của tư tưởng đến
sự biến đổi và phát triển của xã hội. Max Weber quan niệm rằng xã hội học chính là
khoa học về văn hóa. Đóng góp cho sự ra đời của xã hội học văn hóa còn có người sáng
lập ra chủ nghĩa Mác. Các Mác xem các phương diện tinh thần và văn hóa như tôn giáo,
luật pháp, triết học, nghệ thuật… với tư cách là kiến trúc thượng tầng phụ thuộc vào cơ
sở hạ tầng - những quan hệ sản xuất tạo thành cơ cấu kinh tế của xã hội. Đồng thời, kiến
trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, có vai trò tích cực trong quá trình kinh tế -
xã hội, tác động đến mọi mặt của quá trình đó. Tư tưởng về mối quan hệ giữa cơ sở hạ
tầng và kiến trúc thượng tầng của Mác có ý nghĩa phương pháp luận trong nghiên cứu
xã hội học văn hóa, nó giúp cho việc “đặt ra và giải quyết một cách khoa học các vấn đề
văn hóa trong đời sống xã hội” [24, tr.36].
Cho đến hiện nay, các nhà khoa học trên thế giới vẫn còn tranh luận về sự tồn tại
của xã hội học văn hóa, ngành khoa học này vẫn còn gặp nhiều khó khăn trên con
đường xác lập cho mình một vị trí bình đẳng với các bộ môn khác của xã hội học.
Nhưng có một thực tế là không có một cuốn sách xã hội học nào lại không có những
chương, những mục, những phần bàn về văn hóa. Kể từ khi xã hội học mới ra đời, văn
hóa đã trở thành đối tượng nghiên cứu của nó. Với nhiệm vụ “xem xét cấu trúc và hoạt
động của văn hóa trong mối liên hệ với các cơ cấu, thiết chế xã hội và được áp dụng đối
với các tình huống lịch sử cụ thể” [48, tr.80], xã hội học văn hóa đã tự khẳng định là
một chuyên ngành của xã hội học. Những kết quả nghiên cứu mà nó đem lại ngày càng
có ý nghĩa và đóng góp quan trọng cho các khoa học xã hội và nhân văn.
Dựa trên những thành tựu của các môn khảo cổ học, dân tộc học, ngôn ngữ học,
xã hội học và tâm lý học so sánh, một bộ môn khoa học về “sự phát triển của con người
dưới hình thức những nền văn hóa của các nhóm dân tộc khác nhau” ra đời, đó chính là
nhân học văn hóa. Nhân học văn hóa ra đời khi mà các nhà khoa học nhận ra rằng
không thể dùng những yếu tố như chủng tộc hay sinh học để giải thích nguyên nhân
thực sự có bước phát triển với những tác phẩm nghiên cứu về văn hóa như “Khoa học
về văn hóa”, “Sự tiến hóa của văn hóa”, “Khái niệm văn hóa”. Với những công trình lý
luận này, ông đã “đặt cơ sở cho văn hóa học với tính cách là một khoa học độc lập, lý
giải văn hóa như một hệ thống toàn vẹn, làm rõ phạm vi, nguyên tắc và đối tượng
nghiên cứu của văn hóa học” [70, tr.10]. Văn hóa học, theo L.A. White, là một “chuyên
ngành của nhân học trong đó xử lý văn hóa (các thiết chế, các công nghệ, các hệ tư
tưởng) với tính cách một lớp riêng biệt các hiện tượng được tổ chức theo các nguyên tắc
riêng biệt và ứng xử theo các quy luật riêng biệt của nó” [70, tr.19]. Tuy nhiên, cũng
như khái niệm văn hóa, xung quanh văn hóa học vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau, thể
hiện tính chất không thuần nhất của bộ môn khoa học này.
V.M. Megiuep, nhà khoa học Nga đã phủ định tư cách khoa học của văn hóa
học:
Có lẽ sẽ sai lầm nếu hiểu văn hóa học là một khoa học nào đó đã dứt
khoát hình thành cùng với ranh giới đã được tách biệt rõ ràng của một bộ
môn khoa học với một hệ thống tri thức đã hoàn toàn hình thành. Văn hóa
học thực ra là một tên gọi chung để chỉ cả một tổ hợp các khoa học khác
nhau, nghiên cứu hành vi văn hóa của con người và của cộng đồng người ở
các giai đoạn tồn tại lịch sử khác nhau của họ [48, tr.78].
Trong khi đó, V.M. Rôđin lại quan niệm “Văn hóa học là một bộ môn khoa học
tương đối mới, nó nghiên cứu, thứ nhất văn hóa nói chung, thứ hai các hiện tượng văn
hóa riêng biệt (văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần, lối sống, nghệ thuật, tôn giáo, gia
đình” [48, tr.66]. Xuất phát từ ba định hướng nhận thức cơ bản về văn hóa: triết hoc,
lịch sử, lý luận, ông đã chia văn hóa học thành các bộ phận là triết học, lịch sử văn hóa
và khoa học về văn hóa.
Cũng một nhà nghiên cứu văn hóa Nga khác, A.A. Radughin cho rằng:
Văn hóa học - môn khoa học nghiên cứu sự ra đời và phát triển của văn
hóa nói chung, có tham vọng nghiên cứu văn hóa trong bản chất cũng như
theo 3 nghĩa:
Thứ nhất: hệ thống tư tưởng chủ đạo trong một lĩnh vực tri thức.
Thứ hai: kinh nghiệm của loài người đã được khái quát.
Thứ ba: sự tổng hợp các tri thức về tự nhiên và xã hội tích lũy được trong quá
trình lịch sử [47, tr.526]
GS. TS Tô Duy Hợp dưới góc độ lôgic học đã nêu lên kết cấu của lý luận:
Kết cấu giản đơn của lý luận : lý luận được cấu tạo từ hai bộ phận chủ yếu là cơ
sở lý luận bao gồm các nguyên lý và các khái niệm cơ bản; cơ thể lý luận bao gồm các
hệ quả, định lý, quy luật rút ra một cách trực tiếp hay gián tiếp nhờ suy lý hợp lôgic từ
cơ sở lý luận nói trên.
Kết cấu phức tạp, hoàn chỉnh của lý luận bao gồm:
Lịch sử của lý luận, tức là lịch sử hình thành và phát triển của lý luận ấy.
Logic của lý luận phản ánh lịch sử và logic đối tượng gồm có hai thành phần chủ
yếu:
Lý luận tổng quát, tổng hợp về đối tượng, tái hiện lịch sử và logíc chung của đối
tượng bằng tư duy lý luận khái quát nhất.
Các lý thuyết chuyên biệt về đối tượng, tái hiện lịch sử và logic các khía cạnh, bộ
phận khác nhau của đối tượng ấy.
Trên cơ sở những nhận thức chung này, GS Tô Duy Hợp đã vận dụng trong lĩnh
vực nghiên cứu văn hóa, coi lý luận văn hóa như một ngành khoa học độc lập theo kết
cấu lôgic chung của khoa học và của lý luận khoa học như trên. Tác giả đã đưa ra 4 cấp
độ sau đây trong lý luận văn hóa :
Khái niệm sơ bộ về văn hóa.
Tiếp cận đa bộ môn nhằm làm sáng tỏ từng khía cạnh bản chất của văn hóa.
Đi từ trừu tượng đến cụ thể nhằm xây dựng lý thuyết khoa học tổng quát, tổng
hợp, tái hiện toàn bộ biện chứng đối tượng (tái hiện toàn bộ mâu thuẫn, bản chất, hệ
thống quy luật của văn hóa )
Nghĩa rộng, lý luận văn hóa bao gồm toàn bộ những tri thức về văn hóa được
khái quát thông qua quá trình nghiên cứu văn hóa. Nói một cách khác, đó là thành quả
của các khoa học nghiên cứu văn hóa như dân tộc học, xã hội học văn hóa, nhân học
văn hóa, văn hóa học…
Nghĩa hẹp, lý luận văn hóa là một phân môn của văn hóa học đi sâu vào bản thể
của văn hóa, tìm hiểu bản chất của văn hóa thông qua hệ thống các khái niệm, quy luật
vận động, phát triển của văn hóa.
Như vậy, đối tượng của lý luận văn hóa (luận văn đề cập đến) là văn hóa ở khía
cạnh bản chất và sự vận động của nó. Do đó, nhiệm vụ của lý luận văn hóa là nghiên
cứu bản chất văn hóa thông qua việc làm rõ:
Khái niệm văn hóa
Nguồn gốc của văn hóa
Các quy luật vận động, phát triển của văn hóa
Từ những đặc điểm của lý luận văn hóa, có thể thấy mối quan hệ của lý luận văn
hóa với các bộ môn khoa học văn hóa khác. Điểm chung của các khoa học này là đều
lấy văn hóa làm đối tượng nghiên cứu của mình. Tuy nhiên, ở mỗi bộ môn tùy theo mục
tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu mà có cách tiếp cận văn hóa khác nhau. Dân tộc học và nhân
học văn hóa dựa trên việc thu thập và phân tích tư liệu, so sánh một cách hệ thống về
văn hóa của các xã hội và các thời đại khác nhau. Xã hội học văn hóa xem xét cấu trúc
và hoạt động văn hóa trong mối liên hệ với các cơ cấu, thiết chế xã hội và được áp dụng
đối với những tình huống lịch sử cụ thể. Ngay cả đối với các phân môn của văn hóa
học, lý luận văn hóa cũng có những điểm khác. Lịch sử văn hóa khảo sát tiến trình văn
hóa của một dân tộc theo thời gian, theo từng giai đoạn lịch sử với các tình tiết và sự
kiện, mở rộng sự hiểu biết văn hóa theo chiều dọc. Văn hóa học ứng dụng tập trung xem
xét hoạt động của các thiết chế văn hóa, tức là những vấn đề của quá trình thiết chế xã
hội của nó; nghiên cứu những vấn đề di sản văn hóa; thực hiện các dự báo kinh nghiệm
trong lĩnh vực văn hóa… Còn nhiệm vụ quan trọng nhất của lý luận văn hóa là hiểu bản
và xã hội của loài người là “Mông muội” - “Dã man” - “Văn minh”. Tylor cũng quan
niệm rằng “Dã man” và “Văn minh” là giai đoạn thấp và giai đoạn cao của quá trình
tiến hóa, có mối liên hệ chặt chẽ với nhau tuần tự trước sau nối tiếp nhau. Trong tác
phẩm “Những nghiên cứu trong lĩnh vực cổ đại của loài người” công bố năm 1865,
Tylor đã đưa ra những kết luận về sự tiến hóa của văn hóa:
Lịch sử văn hóa cho thấy sự tiến bộ không ngừng từ trạng thái hoang dã nguyên
thủy đến văn minh hiện đại.
Những sự khác nhau về sinh hoạt của các dân tộc trên trái đất không phải là do
nguồn gốc chủng tộc, mà là do sự khác nhau về những nấc văn hóa đạt được của các xã
hội khác nhau.
Tất cả các yếu tố văn hóa là sản phẩm của sự phát minh độc lập, hoặc là của sự
thừa kế từ tổ tiên.
Trong các tác phẩm ra đời sau này như “Văn hóa nguyên thủy” năm 1871, “Nhân
học” năm 1881… Tylor luôn luôn khẳng định sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền
văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người. Quan niệm tiến hóa trong văn hóa
của Tylor đã có ảnh hưởng to lớn trong sự nghiên cứu văn hóa. Sự ra đời của “Văn hóa
nguyên thủy” đã đánh một dấu mốc quan trọng trong nghiên cứu văn hóa cuối thế kỷ
XIX đầu thế kỷ XX trên thế giới.
Trường phái Truyền bá luận văn hóa ra đời cuối thế kỷ XIX. Đối lập với Tiến
hóa luận văn hóa, các nhà khoa học thuộc trường phái này phủ nhận sự tự phát triển của
văn hóa. Dựa trên những kết quả về sự di chuyển văn hóa theo không gian của các
ngành khoa học khảo cổ, dân tộc học, địa lý… họ cho rằng hoàn cảnh và điều kiện tự
nhiên là một trong những nguyên nhân tạo ra những nét đặc trưng riêng của các nền văn
hóa, các hiện tượng văn hóa được truyền bá thông qua các cuộc tiếp xúc giữa các dân
tộc bằng buôn bán, xâm lược, di dân. Nói một cách khác, “Các dân tộc không đi theo
một con đường tiến hóa đồng nhất, các nền văn hóa nảy sinh trong những hoàn cảnh địa
lý khác nhau đều có riêng quá trình lịch sử, đồng thời cũng chịu ảnh hưởng lan tỏa của
Nhật Bản là quốc gia châu á sớm hướng tới phương Tây. Ngay từ thời Minh Trị
đã tiến hành nhiều cải cách theo mô hình phương Tây, tiếp thu khoa học kĩ thuật của
phương Tây với tinh thần Hòa hồn, Dương tài (tinh thần Nhật Bản cùng với khoa học
kỹ thuật của phương Tây). Các nhà cải cách chủ trương tách Nhật Bản ra khỏi vòng ảnh
hưởng của văn hóa Nho giáo, thực hiện “thoát á nhập Âu”. Họ cho dịch rất nhiều sách,
phổ biến là sách khoa học - kỹ thuật, sách tư tưởng, triết học, thể chế xã hội, văn hóa
nghệ thuật từ phương Tây (chủ yếu là tiếng Anh và tiếng Pháp) sang tiếng Nhật, tính
đến năm 1890 số sách đó lên đến hàng nghìn cuốn. Với việc phiên dịch này, Nhật Bản
đã xây dựng được một hệ thống các thuật ngữ khoa học trên khắp các lĩnh vực, trong đó
có thuật ngữ chúng ta đang sử dụng: văn hóa. Sự chủ động tiếp thu văn hóa, khoa học
kỹ thuật của phương Tây đã đưa Nhật Bản tránh khỏi thân phận nô lệ, trở thành một
cường quốc mới, vượt xa các nước có chung văn hóa gốc Hán. Tấm gương Nhật Bản đã
có sự ảnh hưởng mạnh mẽ với nhiều quốc gia châu á, trong đó có Việt Nam. Có thể nói,
con đường Tân thư bắt đầu từ Nhật Bản, sang Trung Quốc rồi đến Việt Nam. Một nhân
vật nổi tiếng trong phong trào Tân thư của Nhật Bản là Phúc Trạch Dụ Cát (1831 -
1901), ông đã viết hàng trăm cuốn sách giới thiệu về văn minh phương Tây, trong đó có
tác phẩm “Văn minh luận chi khái lược”. Cuốn sách này cùng với mô hình trường
Khánh ưng nghĩa thục do Phúc Trạch Dụ Cát lập ra đã có tác động mạnh mẽ đối với trí
thức Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Trung Quốc là một nước lớn ở phương Đông, nền văn hóa và sức mạnh của quốc
gia này đã từng ảnh hưởng mạnh mẽ đối với dân tộc khác ở châu á. Trong một thời gian
dài, tư tưởng tôn sùng Trung Quốc là Thiên quốc, nước trung tâm, nước có văn hóa, còn
các nước xung quanh chỉ là Man Di luôn ngự trị trong đầu óc người Trung Quốc. Từ
sau cuộc chiến tranh thuốc phiện, những trí thức Trung Quốc mới tỉnh ngộ ra và một
phong trào tìm hiểu, nghiên cứu phương Tây bắt đầu. Cuốn sách Hải đồ quốc chí gồm
50 cuốn có 57 vạn chữ, đến 1852 thành 100 cuốn do Ngụy Nguyên biên soạn là cuốn
sách Tân thư đầu tiên của Trung Quốc. Hải đồ quốc chí ra đời đã xóa đi lý thuyết
Hữu Vi, Lương Khải Siêu… Không chỉ thế, qua Tân thư, trí thức Việt Nam đã tiếp cận
với những tác phẩm của các nhà khai sáng Pháp (J.J. Rutxô, Mongtetxkiơ…) và các nhà
triết học châu Âu, Mỹ thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhất là các tác giả đề xướng thuyết
Tiến hóa. Đây là điều kiện thuận lợi cho trí thức dân tộc tiếp xúc với khoa học, cả khoa
học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn, điều chưa từng xảy ra trong hàng ngàn năm
phong kiến. Tinh thần say mê học tập tư tưởng mới trong một bộ phận giới sĩ phu, trí
thức Việt Nam giúp họ nhanh chóng từ bỏ tư tưởng cũ một cách thuận lợi. Nếu như thế
hệ trí thức thời Lê Quý Đôn mong muốn khẳng định văn hóa Việt Nam bằng cách làm
cho nó trở nên giống văn hóa Trung Hoa thì bây giờ những trí thức đầu thế kỷ muốn
nâng văn hóa Việt Nam ngang bằng với thế giới, giống thế giới và dĩ nhiên thế giới đó
không chỉ là Trung Hoa. Một cuộc phong trào vận động văn hóa do các sĩ phu với mục
đích duy tân đã diễn ra rầm rộ ở đầu thế kỷ XX và nhanh chóng có sức lan tỏa trong xã
hội được định hướng bởi một tác phẩm có tính chất cương lĩnh của phong trào, đó là
“Văn minh tân học sách”. Nếu qua Tân thư, trí thức Việt Nam được tiếp cận với những
lý thuyết khoa học phương Tây thì phong trào Duy tân đã tạo cơ sở xã hội, môi trường
cho những lý thuyết đó thâm nhập sâu rộng trong đời sống xã hội. Đây là tiền đề quan
trọng để những nhận thức lý luận về văn hóa sau này xuất hiện.
1.2.2. Bối cảnh trong nước
Thứ nhất, cuộc giao lưu văn hóa Việt Pháp và nhu cầu tìm hiểu lý luận về văn
hóa. Như đã trình bày ở trên, giống như nhiều quốc gia châu á khác, cuối thế kỷ XIX,
dân tộc ta phải đối diện với văn minh phương Tây theo gót chân xâm lược của thực dân
Pháp. Một cuộc giao lưu mới mà chính nó là cuộc biến thiên lớn nhất lịch sử Việt Nam
trong mấy mươi thế kỷ đã diễn ra. ở những lần giao lưu trước, văn hóa Việt Nam gặp gỡ
các nền văn hóa vốn sẵn đã có những quan hệ hết sức gần gũi với mình như Trung Hoa,
ấn Độ. Cho nên, “Văn hóa dẫu rằng có biến nhưng cái cốt tủy thì vẫn không lung lay
bởi vì xã hội nông nghiệp vẫn ở trong hoàn cảnh bế quan tự thủ, chưa từng tiếp xúc với
thế giới mà chỉ giao thiệp với Trung Quốc là nước đồng văn mà lại cùng một tình thế”
các nhà nho Việt Nam vẫn không khởi xướng được một học thuyết nào của người Việt
Nam, hay không ghi được một dấu ấn sắc nét hay một trào lưu tư tưởng mạnh mẽ nào
khác Trung Quốc. Những sĩ phu đầu thế kỷ XX đã bắt đầu nhận ra điều đó, và việc đầu
tiên là phải ý thức rõ về mình, ý thức rõ người, ý thức được sứ mệnh lịch sử của Việt
Nam trong tương quan về tinh thần cũng như thực tế của thế giới hiện đại. Yêu cầu đó
đặt ra vấn đề phải tìm hiểu về văn hóa, văn hóa dân tộc, văn hóa của nhân loại… Đúng
như học giả Đào Duy Anh đã từng nhận định:
Cái bi kịch hiện thời của dân tộc ta là sự xung đột của những giá trị cổ
truyền của văn hóa cũ ấy với những điều mới lạ của văn hóa Tây phương.
Cuộc xung đột ấy sẽ giải quyết thế nào, đó là một vấn đề quan hệ đến cuộc
sinh tử tồn vong của dân tộc ta vậy. Nhưng muốn giải quyết thì phải nhận rõ
chân tướng của bi kịch ấy, tức là một mặt phải xét lại cho biết nội dung của văn
hóa xưa là thế nào, một mặt phải nghiên cứu cho biết chân giá trị của văn hóa
mới [2, tr.7].
Rõ ràng là, với cái vốn tích lũy qua hàng ngàn năm phong kiến không thể giúp gì
nhiều cho những trí thức của dân tộc lúc đó. Như một lẽ đương nhiên, họ phải tìm đến
khoa học, tiếp thu những thành tựu lý luận của thế giới để góp phần giải đáp những câu
hỏi của dân tộc mình. Những đóng góp của khoa học phương Tây cho trí thức Việt Nam
là rất lớn, đặc biệt trong việc hình thành tư duy khoa học. Phương pháp khoa học đã
đem lại những thành tựu trong buổi ban đầu của giới nghiên cứu Việt Nam, quan trọng
hơn là một cách nhìn mới đối với thế giới, xã hội và con người. Trong xã hội mau chóng
hình thành một thái độ đề cao khoa học, thậm chí sùng bái khoa học. Nhiều trí thức lúc
đó đã nhận thức được vai trò quan trọng của khoa học đối với sự phát triển của đất
nước. Họ cho rằng điều cần thiết có thể học được từ phương Tây chính là phương pháp
khoa học vì “Phương pháp khoa học là cái mà người Việt Nam chúng ta không có và
chưa có” [30, tr.14]. Những nhận thức lý luận về văn hóa bắt đầu manh nha và có môi
trường nảy nở - một điều chưa xảy ra trong các giai đoạn trước. Có thể nói, trí thức Việt
Nam thời kỳ này đến với khoa học do yếu tố khách quan nhưng đồng thời xuất phát từ