tiểu luận Một vài nhận xét về Những biến đổi nông nghiệp miền Nam ở vùng tạm chiếm từ 1954 – 1975” - Pdf 26

MỤC LỤC
Trang
Mục Lục 1
Mở đầu 2
I. Chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp từ 1955-1975 4
1.1 Tình hình ruộng đất và nông nghiệp miền Nam trước năm 1954 4
1.2 Cải cách điền địa (1955) và Luật Người cày có ruộng(1970) 5
1.3 Các chính sách kinh tế khác 7
II. Sự biến đổi kinh tế nông nghiệp miền Nam vùng tạm chiếm từ 1954-
1975 10
2.1 Quá trình trung nông hoá và sự du nhập quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
trong nông nghiệp 10
2.2 Sự tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật trong nông nghiệp 12
2.3 Những biến đổi trong cơ cấu nông nghiệp và sự phát triển của một nền
nông nghiệp hàng hoá 13
2.4 Sù phát triển các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp và sự xuất hiện mạng
lưói kinh doanh tư bản chủ nghĩa ở nông thôn 16
Kết luận 18
Tài liệu tham khảo 21
1
MỞ ĐẦU
Theo Từ điển Bách Khoa Việt Nam: Cơ cấu kinh tế gồm tổng thể các
ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp
thành. Có các loại cơ cấu kinh tế khác nhau: Cơ cấu nền kinh tế quốc dân, cơ
cấu theo ngành kinh tế - kỹ thuật, cơ cấu theo vùng, cơ cấu theo đơn vị hành
chính - lãnh thổ, cơ cấu theo thành phần kinh tế; trong đó cơ cấu theo ngành
kinh tế – kỹ thuật mà trước hết là cơ cấu công-nông nghiệp là quan trọng nhất.
Những biến đổi về cơ cấu kinh tế của một ngành kinh tế nói riêng và của
một quốc gia nói chung được xem là những sự vận động, dịch chuyển quan
trọng nhất trong việc xem xét, đánh giá sự phát triển của nã dưới nhiều nhân tố

Có thể nói đây là những công trình nghiên cứu ruộng đất và kinh tế nông
nghiệp miền Nam trứơc năm 1975 rất được đánh giá cao về mặt khoa học; Các
tác giả đã chỉ ra những đặc trưng cơ bản nhất của kết cấu kinh tế xã hội miền
Nam trước đổi mới cũng như đặt nền tảng cho việc kế thừa và phát huy những
di sản của nó trong phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN.
Trong phạm vi một tiểu luận của chuyên đề cơ sở ngành Lịch sử Việt Nam
Một số vấn đề nông nghiệp nông thôn Việt Nam hiện đại do PGS TS Trương
Thị Tiến giảng dạy, người viết lùa chọn đề tài “Một vài nhận xét về Những
biến đổi nông nghiệp miền Nam ở vùng tạm chiếm từ 1954 – 1975”, mong
muốn bước đầu có những kiến thức cơ bản về vấn đề lịch sử quan trọng trên.
3
I. Chính sách của chính quyền Sài Gòn đối với ruộng đất và kinh
tế nông nghiệp từ 1955-1975
1.1 Tình hình ruộng đất và nông nghiệp miền Nam trước năm 1954
Miền Nam đặc biệt là đồng bằng sông Cửu Long cho đến trước cách mạng
tháng Tám 1945 có một quá trình phát triển khác biệt. Do những đặc điểm của
lịch sử cùng với chính sách nhượng đất của thực dân Pháp, quá trình tập trung
ruộng đất ngày càng rõ nét. Theo Nguyễn Kiến Giang thì đến trước cách mạng
tháng Tám có đến 60 % nông dân không có ruộng để cày cấy. Quá trình tập
trung ruộng đất với quy mô lớn mà tiêu biểu là các đồn điền đã đặt ra những cơ
sở cho một nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.Tuy nhiên, những
chính sách nông nghiệp Êy nhằm phục vụ cho chính sách bóc lột và và việc
xuất cảng lúa gạo của chủ nghĩa thực dân, là nguồn thu lợi khổng lồ của chính
quyền thuộc địa.
Nông nghiệp miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Pháp đã có những
thay đổi quan trọng trên góc độ cả quan hệ ruộng đất lẫn sự phát triển sản xuất.
Chính quyền cách mạng đã chủ trương tạm giao ruộng vắng chủ cho nông dân
cày cấy còng nh tịch thu ruộng đất của thực dân Pháp và Việt gian phản động
chia cho dân nghèo, vận động hiến điền và thực hiện giảm tô. Những chủ
trương đó được thực hiện triệt để trong kháng chiến và đạt được những kết quả

vụ những mục đích chính trị song ta không thể phủ nhận vai trò của nó với
những biến chuyển trong kinh tế nông nghiệp miền Nam giai đoạn này.
Ngay từ năm 1955, khi Ngô Đình Diệm lên cầm quyền đã đưa ra vấn đề
cải cách điền địa lên hàng quốc sách. Nhưng do bản thân cũng là một địa chủ ,
lại do Mỹ thúc Ðp nên chương trình “cải cách điền địa” của Diệm không nhằm
tạo lập chủ nghĩa tư bản ở nông thôn mà duy trì phục hồi quan hệ sản xuất
phong kiến, khôi phục giai cấp địa chủ là chỗ dùa của chính quyền Ngô Đình
Diệm. Nội dung của chương trình cải cách được thể hiện trong các Đạo dô số
2(8/1/1955), Đạo dụ số 7(5/2/1955) và Đạo dô số 57 (2/10/1956).
Những điểm căn bản trong nội dung cải cách điền địa của Ngô Đình
Diệm là buộc nông dân phải lập “KhÕ ước tá điền”. Điều đó có nghĩa là bắt
nông dân phải thừa nhận về mặt pháp lý quyền sở hữu của địa chủ; và nh thế
một bộ phận ruộng đất nông dân được chính quyền cách mạng chia trong kháng
5
chiến đã bị tước đoạt. Trong khi đó đối với sở hữu lớn của địa chủ, nhà nước
thực hiện việc truất hữu đối với phần ruộng đất quá 115 ha; bé phận ruộng đất
bị truất hữu thì nhà nước đem bán cho nông dân mõi hộ không quá 3 ha và
buộc phải trả trong 6 năm. Những chính sách kể trên ngoài những tính chất bảo
thủ phản động như ta đã bàn thì trên thực tế việc thi hành nó cũng hết sức nửa
vời.Trong vòng 4 tháng sau khi ban bố Đạo dụ số 57 có 2600 địa chủ kê khai
họ có sở hữu 1.075.000 ha, trung bình mỗi người là 415 ha, tuy nhiên mãi đến
năm 1970 số ruộng truất hữu đem bán cho nông dân mới chỉ có khoảng gần
300.000 ha (chỉ bằng 28 % sè diện tích đã kê khai).Điều đó dẫn tới hậu quả là
tính tới tháng 4/1960 khi Ngô Đình Diệm công bè công cuộc cải cách điền địa
đã kết thúc thì riêng ở đồng bằn sông Cửu Long có tới 45 % diện tích canh tác
vẫn nằm trong tay địa chủ trong khi đó số lượng địa chủ này chỉ chiếm 2% dân
số.
Có thể nói với chính sách cải cách điền địa của Ngô Đình Diệm giai cấp
địa chủ và chế độ tá canh ruộng đất không những được xoá bá mà còn được
phục hồi; tầng líp trung nông bị ảnh hưởng nặng nề theo hướng giảm sút

của nông dân
Mặc dù đối tượng được cấp đất có hạn chế và ý đồ thực hiện có mang
màu sắc chính trị đi chăng nữa thì xét về mặt kinh tế xã hội thì việc thực hiện
Luật Người cày có ruộng đã góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển của
nền kinh tế nông nghiệp hàng hoá, đẩy nhanh quá trình trung nông hoá ở miiền
Nam và tạo ra những chuyển biến mới trong nông nghiệp mà tôi sẽ trình bày
trong phần sau.
Tóm lại, từ năm 1955 đến những năm 70, chính quyền Mỹ và tay sai đã
thực hiện một số chính sách ruộng đất nhằm phục vụ công cuộc bình định và
cứu vãn sự thất bại về mặt quân sù , tranh giành ảnh hưởng đối với cách mạng
ở các vùng nông thôn song nó đã tạo ra những khung pháp lý cho sự phát triển
nông nghiệp miền Nam hướng theo con đường sản xuất hàng hoá, mở đường
cho sù du nhập phương thức sản xuất TBCN vào miền Nam.
1.3 Các chính sách kinh tế khác
Bên cạnh chính sách ruộng đất thì nhằm thực hiện mưu đồ của mình, thì
Mỹ và chính quyền Sài Gòn đã thực hiện đồng loạt một số chính sách kinh tế
khác nhằm phục vụ chính sách ruộng đất và nông nghiệp.
7
Nhân tố đầu tiên mà chúng ta phải nói ở đây là chính sách viện trợ của Mỹ.
Ngoài những viện trợ về mặt quân sự thì viện trợ về kinh tế cũng chiếm một tỉ
trọng đáng kể là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp.Trong các viện
trợ theo dự án thì từ năm 1954-1974 đã thực chi cho lĩnh vực nông nghiệp là
5.56%, công nghiệp là 0.97%, lao động là 0.03%, giao thông vận tải là 24.2%.
Trong các viện trợ thương mại hoá, tỷ lệ hàng hoá nhập cảnh dùng cho sản xuất
như máy móc trang thiết bị nguyên nhiên liệu cho sản xuất công nông nghiệp
chiếm tới 46.8% hàng hoá nhập theo thể thức thương mại hoá.
Mặc dù xét trên tổng số viện trợ thì viện trợ cho nông nghiệp là không
nhiều song với những tác nhân về nguồn vốn cũng như được đầu tư các thiết bị
máy móc kỹ thuật của Mỹ thì nó đã những điều kiện hết sức thuân lợi cho
những biến chuyển trong kinh tế đặc biệt là nông nghiệp.

(thương cảng quyết định phần lớn nhịp độ phát triển của kinh tế nông nghiệp).
Sau 1954, qua nghiên cứu kế hoạch phát triển kinh tế Nam Việt Nam của phái
đoàn Goodrich của Liên Hợp Quốc (1956) cho đến kế hoạch hậu chiến
Lilienthal, Vò Quốc Thúc (1969) đều kết luận: “Tương lai kinh tế Nam Việt
Nam tuỳ thuộc sự phát triển nông nghiệp đồng bằng sông Cửu Long” [5, 67].
Năm 1974, khu công nghiệp Tây Đô Cần Thơ thành lập là bước một của chiến
lược: Đồng bằng Sông Cửu Long phải phát triển Công Nghiệp để phát triển
Nông nghiệp của nhóm nghiên cứu Veccô.
Những chính sách kinh tế của chính quyền Sài Gòn xét về mặt nào đó nó
tạo ra những điều kiện cho kinh tế nông nghiệp, nông thôn phát triển. Tuy
nhiên nó thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân hóa diễn ra ở nông thôn, thay thế
hình thức bóc lột phong kiến bằng hình thức bóc lột TBCN. Những chính sách
Êy nhằm phục vụ các mục đích chính trị cho nên nó không có cơ sở kinh tế và
khó có có thể thực hiện một cách triệt để và toàn diện mà nó chỉ mang lại lợi
Ých cho một bộ phận người gắn liền với chính quyền mà ở đây là các nhà tư
sản mại bản. Diễn ra cùng với chính sách bình định nông thôn bằng con đường
chiến tranh thì rõ ràng những chính sách đối với nông nghiệp nông thôn chưa
tạo ra sù biến chuyển căn bản trong nền nông nghiệp nước ta từ sau năm1945;
tuy thế nó cũng tạo ra những tiền đÒ ban đầu cho một nền sản xuất hàng hoá ra
đời và những thay đổi của nền nông nghiệp miền Nam vùng tạm chiếm.
9
II. Sù biến đổi kinh tế nông nghiệp miền Nam vùng tạm chiếm từ
1954-1975
II.1 Quá trình trung nông hoá và sự du nhập quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa trong nông nghiệp
Dưới tác động của những chính sách kể trên của chính quyền Sài Gòn,
ngay từ trong kháng chiến chống Pháp, quan hệ ruộng đất ở miền Nam đã có
những chuyển biến căn bản. Giai cấp địa chủ bị giáng một đòn nặng nề và
không còn nắm địa vị kinh tế nữa. Tiếp đó đến cải cách điền địa, đặc biệt là
Luật người cày có ruộng của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu dưới sù hỗ trợ

ruộng đất
- Hộ loại III chiếm khoảng 50- 60% số hộ chiếm hữu từ 50-60% ruộng
đất
- Hộ loại IV chiếm 15% số hộ và 25% ruộng đất
- Hộ loại V chiếm 3% số hộ và khoảng 5-7% ruộng đất.
Nh vậy, qua sự phân chia theo các nhóm hộ, thì chúng ta vẫn thấy sự chênh
lệch về mức độ sở hữu giữa các thành phần cư dân ở nông thôn cho đến năm
1975 ở miền Nam. Chưa tính đến những ngưêi không sản xuất nông nghiệp thì
tỷ lệ chênh lệch giữa những người sản xuất nông nghiệp là khá lớn. Chiếm tỷ lệ
cao nhất về mức độ chiếm hữu ruộng đất và số hộ là loại hộ III và IV. Hai loại
hộ này được coi là tầng líp trung nông vì trước hết họ chiếm hữu một số lượng
ruộng đất tương đương với ruộng đất bình quân ở địa phương và chủ yếu dùa
vào gia đình để sản xuất kinh doanh nông nghiệp. Trong hai loại hộ nói trên thì
hộ loại IV được coi là trung nông khá vì họ chiếm hữu ruộng đất cao hơn bình
quân nhưng về cơ bản họ vẫn dùa vào lao động của gia đình là chính. Hộ loại V
là loại hình cư dân mới xuất hiện vào đầu những năm 70. Họ có quá nhiều
ruộng đất và máy móc so với mức bình quân ở địa phương, nguồn sống chủ yếu
dùa vào thuê mướn nhân công để kinh doanh sản xuất nông nghiệp. Đó là tầng
líp tư sản nông thôn.
Theo nghiên cứu, thì từ đầu những năm 60 cho đến 1970 trung nông đóng
một vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất nông nghiệp. Với một mức độ
sở hữu vừa phải , được tự chủ trên mảnh đất của mình họ trở thành nhân vật
trung tâm trong kinh tế nông nghiệp ở miền Nam. Là lực lượng lao động có kỹ
thuật và kinh nghiệm trong sản xuất và quản lý lại là người bỏ vốn đầu tư
11
KHKT vào sản xuất và năng suất lao động cao trung nông đã tạo ra một khối
lượng nông sản hàng hoá chiếm ưu thế tuyệt đối, là lực lượng sản sản xuất
lương thực chính cho xã hội. Những cơ sở cho sự phát triển của kinh tế hộ đã
được hình thành.
Bên cạnh chế độ sở hữu nhỏ tự chủ của trung nông, do những điều kiện

nhưng từ 1965 nông cơ nhập cảng ngày càng nhiều, chủ yếu là các máy kéo
lớn, máy cày tay, máy bơm nước ,máy xay lúa…Tính đến cuối năm 1973, theo
thống kê của Nha nông cụ cơ giới của chính quyền miền Nam có tÊt cả
187.380 nông ngư cơ đủ loại tương ứng với khoảng 1,2 triệu mã lực trong đó
64% mã lực là của nông nghiệp. Năm 1967-1968 nông dân miền Nam mới
bước đầu làm quen với phương pháp canh tác bằng cơ giới nhưng đến năm
1970 mức cơ giới hoá nông nghiệp miền Nam đã đạt đến 0,2-0,25 mã lực/ha và
diện tích đất đai có sử dụng cơ giới đã đạt mức 50%.
Năm 1972, ở những vùng nông thôn tạm chiếm đã có nhiều máy móc nông
nghiệp, riêng đồng bằng sông Cửu Long đã có tới 70-80% diện tích canh tác
bằng máy. Đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, mức cơ giới hoá trong
nông nghiệp miền Nam đã đạt 0,3-0,4 mã lực/ha riêng nông thôn đồng bằng
sông Cửu Long mức cơ giới hoá này đạt đến 0,85 mã lực/ha, bằng 56% mức cơ
giới hoá ở những quốc gia tiên tiến vào thời điểm 1970. Việc cơ giới hoá nông
nghiệp diễn ra với một tốc độ nhanh chóng thực sự là một bước tiến lớn trong
sản xuất nông nghiệp.
Bên cạnh đó là các nhân tố hỗ trợ sản xuất như phân hoá học, giống mới
cũng được áp dụng để tăng năng suất cây trồng. Từ sau năm 1954, số lưọng
phân bón nhập cảng hàng năm tăng từ 10- 15000 tấn ; đến năm 1970 thì con số
phân bón nhập khẩu đã lên tới gần nửa triệu tấn. Mức độ sử sụng phân bón ở
miền Nam lóc bấy giê bằng 1/3 của Đài Loan- một nền nông nghiệp tiêu biểu
cho Châu Á về trình độ thâm canh, tăng năng suất vào thời điểm đó.
Ngoài máy móc và phân bón thì giống mới cũng hết sức được quan tâm.
Tiếp theo các giống Taithung-1 và Taithung-2 của Đài Loan đã được giới thiệu
từ trước thì trong năm 1966, các giống lúa IR 5, IR 8, IR 20, với năng suất cao
thời gian sinh trưởng ngắn đã tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp miền Nam
bước vào thâm canh, tăng vụ. Năm 1968, diện tích cấy giống lúa mới chỉ
13
khoảng 44 000 ha thì dến năm 1974 tăng lên 964.000 ha tức tăng 22 lần và
chiếm 33,2 diện tích canh tác lúa toàn miền Nam

rau. Với những hộ này thì họ đầu tư vốn và kỹ thuật nhằm tăng sản lượng và
năng suất nhằm sử dụng hiệu quả hơn lao động nhàn rỗi của gia đình. Trong
những năm 60, trong khi nhiều nông sản khác không phát triển hoặc giảm sút
thì sản lượng rau cải của miền Nam tăng nhanh, tăng 69,7% về diện tích và
111,4% về sản lượng.
Bên cạnh rau xanh thì các hoạt động chăn nuôi cũng hết sức phát triển.
Đồng bằng sông Cửu Long là nơi tập trung chăn nuôi lớn nhất ở miền Nam.
Đến đầu những năm 70, sản lượng chăn nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long đã
vượt yêu cầu cung cấp thực phẩm cho cả miền Nam mà còn xuất khẩu một số
lượng đáng kể.
Quá trình tập trung hoá, chuyên canh cũng diễn ra trong nông nghiệp miền
Nam. Nhiều vùng chuyên canh đã xuất hiện nh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ tập
trung trông cây công nghiệp, đồng bằng sông Cửu Long là cây lương thực và
thực phẩm. Như Tây nguyên trập trung 75% diện tích trồng chè, miền Đông
Nam Bộ tập trung 96% diện tích trồng cao su của toàn miền Nam.
Sự phát triển nông nghiệp theo xu hướng thâm canh đa dạng hoá sản phẩm
đã là nền tảng cho việc tăng sản lượng nông nghiệp. Riêng thời kỳ 1969-1975,
sản lượng lúa tăng từ 5,7 triệu tấn (1970) đến 7,1 triệu tấn năm 1974. Năng
suất lúa bình quân ở mức 2,27-2,48 tấn/1 ha. Nhiều kết quả điều tra ở đồng
bằng sông Cửu Long cho thấy có khoảng 25% nông dân bán lúa ra thị trường
và khoảng 60-70% nông sản ở vùng này là nông sản hàng hoá. Lúa gạo hàng
hoá ở đây không còn là hàng hoá lấy từ lúa tô của tá điền do các đại địa chủ
phong kiến bóc lột và bán cho tư bản thương mại như trước cách mạng tháng
Tám mà ở đây là nông sản hàng hoá của trung nông-phú nông- tư sản nông
thôn cung cấp.
Chóng ta có thể thấy một điều rằng, đến đầu những năm 70 với sự tăng lên
về mặt sản lượng, nông nghiệp miền Nam ngày càng đi theo hướng chuyên
môn hoá, thâm canh với trình độ cao. Cơ cấu ngành nghề đã bắt đầu có sù biÕn
đổi, việc trồng lúa vẫn chiếm ưu thế quan trọng nhưng không còn là nguồn thu
chủ yếu của các hộ gia đình ở nông thôn. Hoạt động sản xuất đã hướng ra thị

kinh doanh tư bản chủ nghĩa đã xuất hiện ngày càng rộng lớn và chi phối mạnh
16
mẽ. Năm 1967, riêng ở Định Tường có 91 nhà máy xay lúa, 25 đại lý buôn bán
dụng cụ và đồ kim loại, 24 tiệm bán máy bơm nước và giống mới, 13 đại lý
cung cấp thuốc trừ sâu và phân bón. Đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng,
mạng lưói kinh doanh tư bản ở nông thôn đã phát triển khá mạnh.
Ngoài ra chóng ta còn phải kể đến một hệ thống thu mua nông sản cũng
như mét hệ thống ngân hàng ở các vùng nông thôn. Tính đến năm 1972, ở miền
Nam đã có 35 ngân hàng nông thôn ở hầu hết các tỉnh; đến năm 1973 con số
này đã lên đến 60 ngân hàng nông thôn hoạt động. Các hoạt động thu mua nông
sản diễn ra ở hầu hết các tỉnh với vai trò của một số tư sản Hoa kiều. Họ trở
thành những ông Vua lúa gạo trong việc thu mua nông sản để xuất khẩu. Có thể
nói những quan hệ sản xuất TBCN đã ăn sâu và bám rễ ở hầu hết các khu vực
nông thôn, tao ra một cơ chế cho kinh tế hàng hoá phát triển song nó cũng là cơ
sở cho sự phân hoá ngày càng sâu sắc giữa các tầng líp dân cư ở nông thôn.
Tóm lại, từ cuối những năm 60 đến đầu những năm 70 ở nông thôn đồng
bằng Nam Bé đã có những thay đổi căn bản. Bộ mặt nông nghiệp nông thôn đã
có những chuyển biến trên nhiều phương diện. Một cơ cấu ngành, cơ cấu sản
phẩm đa dạng nhằm đáp ứng nhu cầu của thị trường. Trình độ thâm canh
chuyên môn hoá và khoa học kỹ thuật ngày càng cao. Các quan hệ sản xuất tư
bản chủ nghĩa đã len lỏi vào hầu hết các khu vực nông thôn và cùng với nó là
sự phân hoá ngày càng diễn ra mạnh mẽ trong các tầng líp cư dân đặc biệt là
nông dân đã tạo ra bức tranh nông thôn miền Nam trước ngày giải phóng đa
dạng song khuynh hướng chủ đạo và chi phối đó là một nền nông nghiệp hàng
hoá theo con đường tư bản chủ nghĩa.
17
KẾT LUẬN
1. Mục tiêu “chinh phục trái tim và khối óc” (to win the heart and the
mind) người nông dân được Mỹ Diệm hết sức chú trọng và đầu tư, coi đó là
một nhiệm vụ chiến lược để giành thắng lợi trong cuộc giành dân với lực lượng

kỹ thuật trong nông nghiệp đã được tăng cường ngày càng nhiều đã làm tăng
khả năng tận dụng đất đai cũng như tiết kiệm sức lao động đông thời nó cũng là
thay đổi tâm lý, tập quán, thãi quen sản xuất của nông dân để nhằm đáp ứng
ngày càng cao nhu cầu của thị trường. Một nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá
với sự điều tiết của các quy luật kinh tế còng nh sù tăng cường cơ sở vật chất
trong nông nghiệp nông thôn đã bước đầu làm thay đổi cơ cấu sản xuất.
Sự giảm dần của diện tích trồng lúa, sự tăng dần của tỉ trọng chăn nuôi
trong nông nghiệp ngày càng lớn. Xu thế tập trung hoá, chuyên môn hoá đã
xuất hiện ở nhiều vùng nông thôn, nhiều khu vực nông nghiệp và nhiều loại
nông sản. Sự phát triển của các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp ở các thôn
Êp cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của quá trình phân công lao động ở các
vùng nông thôn. Kết cấu dân số trong hoạt động sản xuất ở nông thôn đang
phát triển theo hướng giảm dần tỉ trọng sản xuất nông nghiệp mà chuyển sang
các ngành nghề khác đã hé mở cho chóng ta thấy một con đường phát triển
công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại, một khả năng
“công nghiệp hoá phi tập trung” như nã đang diễn ra ở các nứoc thứ ba.
Rõ ràng, cho đến đầu những năm 70, chóng ta có thế nhận thấy xu hướng
và trình độ phát triển của nông nghiệp miền Nam đã hoàn toàn khác biệt so với
miền Bắc. Sự phát triển một nền nông nghiệp đa dạng theo hướng hàng hoá, sự
thay đổi dần trong kết cấu dân cư nông thôn là những thực tế hết sức khách
quan, và nó là những điều kiện cực kỳ thuận lợi cho chóng ta phát triển công
nghiệp cũng như tiến tới một nền nông nghiệp sản xuất lớn với trình độ cao tạo
những động lực cho sự phát triển toàn bộ nền kinh tế của miền Nam nói riêng
và cả nước nói chung. Tuy nhiên, những chính sách kinh tế hợp lý của những
nhà hoạch định chiến lược lại giữ một vai trò trọng yếu, tích cực để phát triển
nông nghiệp và ngược lại.
4. Những tiến bộ trong nông nghiệp Miền Nam vùng tạm chiếm giai đoạn
1954-1975 là có thật. Mặc dù vậy, sự lệ thuộc vào viện trợ của nước ngoài đặc
19
biệt là Mỹ đóng mét vai trò quan trọng. Với một nguồn viện trợ khổng lồ nó đã

KHXH- Hà Nội -1968
7. Trần Thị Bích Ngọc- Chủ nghĩa thực dân mới và vấn đề sở hữu ruộng
đất ở đồng bằng sông Cửu Long- T/c NCLS sè 2(1986)
8. Cao Văn Lượng- Vài nét về kết cấu kinh tế xã hội ở nông thôn miền
Nam trước ngày giải phóng- T/c NCLS sè 2(1981)
9. Nguyễn Văn Nhật- Tầng líp trung nông ở Nam Bé trứoc ngày giải
phóng- T/c NCLS sè1 (1983)
21


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status