Nghiên cứu xử lý nước thải chăn nuôi bằng cây dầu mè (Jatropha curcas L) trên mô hình bãi lọc thực vật - Pdf 26

Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến


Từ xưa đến nay, nước ta vốn là nước một nước nông nghiệp, khoảng
71,89% dân số sống tại nông thôn, cuộc sống của người dân chủ yếu dựa vào trồng
trọt và chăn nuôi. Trong những năm gần đây, do quá trình đô thị hóa - hiện đại hóa,
nên diện tích đất canh tác dần bị thu hẹp, năng suất cây trồng khó có những đột biến
nhảy vọt, vì vậy ngành chăn nuôi sẽ là hướng phát triển kinh tế hộ và được đẩy
mạnh trong những năm tới; phát triển chăn nuôi giúp cho việc xóa đói giảm nghèo,
tạo việc làm, tăng thu nhập và cải thiện điều kiện sống cho người nông dân. Tuy
nhiên từ việc phát triển cao độ này, đã làm phát sinh một vấn đề nan giải, thu hút sự
quan tâm sâu sắc của xã hội đó là sự ô nhiễm môi trường.
Ở Việt Nam nói chung và khu vực phía Nam nói riêng, khía cạnh môi
trường của ngành chăn nuôi chưa được quan tâm đúng mức. Trong quá trình phát
triển sản xuất chăn nuôi với qui mô ngày càng lớn như hiện nay, một lượng chất
thải sinh ra gây tác hại xấu đến môi trường. Theo tính toán của V. Klooster, 1996,
thì lượng NH
3
phát sinh từ chăn nuôi vào khí quyển vào khoảng 45 × 1012 gT
N/năm, nhiều hơn bất kỳ từ nguồn nào khác. Để sản xuất 1000 kg thịt heo thì đồng
thời hàng ngày sản sinh ra 84 kg nước tiểu, 39 kg phân, 11 kg TS, 3,1 kg BOD
5
,
0,24 NH
4
-N, chưa kể ô nhiễm từ nước tắm và rửa chuồng.
Theo số liệu thống kê 01/10/2008, Việt Nam có gần 2,90 triệu con trâu;
6,34 triệu con bò; 26,701 triệu con lợn; 247,320 triệu con gia cầm; 1,48 triệu con
dê, cừu; 121 ngàn con ngựa. Với lượng gia súc này ước tính chất thải rắn của đàn
vật nuôi nước ta khoảng 80-90 triệu tấn, chất thải lỏng ước tính vài chục tỷ m
3

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu tìm ra các thông số:
- Khả năng xử lý nước thải chăn nuôi của mô hình bãi lọc thực vật trồng cây
dầu mè, thể hiện qua việc khảo sát về lượng nước tưới, nồng độ nước thải chăn nuôi
thích hợp, thời gian lưu nước.
- Nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải chăn nuôi như một nguồn dinh
dưỡng thông qua các khảo sát: phát triển chiều cao, tích lũy sinh khối của cây dầu
mè.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 2
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
$%#  !"#
- Tìm hiểu về thành phần, tính chất của nước thải, đời sống và khả năng phát
triên của cây dầu mè (Jatropha curcas L.), khả năng lọc nước của đất và các đề tài
nghiên cứu xử lý nước thải bằng thực vật tương tự khác.
- Chuẩn bị mô hình thí nghiệm: dựng mô hình và đo đạc các thông số vật lý,
hóa học của mô hình; tạo điều kiện thích nghi cho cây dầu mè, đo đạc các thông số
đầu vào của nước thải chăn nuôi.
- Vận hành mô hình:
Thí nghiệm 1: Nghiên cứu khả năng xử lý nước của cây dầu mè thông qua
các khảo sát ngưỡng chịu đựng của cây, lượng nước tưới, nồng độ thích hợp và thời
gian lưu nước tối ưu , được kiểm tra qua: tốc độ bay hơi nước bề mặt,các biểu hiện
của cây trong môi trường nước thải, các chỉ tiêu tăng trưởng, phát triển của thực
vật, các chỉ tiêu COD, BOD
5
, SS, N, P.
Thí nghiệm 2: Nghiên cứu khả năng sử dụng nước thải chăn nuôi làm nguồn
dinh dưỡng thông qua các khảo sát các chỉ tiêu tăng trưởng của cây, phát triển chiều
cao, tốc độ phát triển lá, tăng trưởng sinh khối của cây, khả năng tích lũy đạm trong
cơ thể của cây cũng như các thành phần của cây.
&'() *+* !"#

• Mô hình được đặt tại nhà 155/13 Cao Đạt Phường 1 Quận 5.
• Các chỉ tiêu được phân tích tại : phòng thí nghiệm khoa môi trường và
công nghệ sinh học của trường đại học kỹ thuật công nghệ Thành Phố Hồ
Chí Minh.
67 8292:;<
1.7.1. 7 8292
Kết quả nghiên cứu sẽ xác đinh được khả năng xử lý của cây Jatropha đối
với môi trường nước thải chăn nuôi, các thông số này rất cần thiết để tính toán ra
một bãi lọc thực vật hoàn thiện để xử lý nước thải chăn nuôi.
1.7.2. 7 82;<
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 4
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Ngăn ngừa nguy cơ ô nhiễm nguồn nước ngầm, nước mặt từ ngành chăn
nuôi, giúp ngành chăn nuôi ngày càng phát triển hơn.Ngoài ra bãi lọc thực vật sẽ
tạo ra một nguồn lợi lớn từ việc thu hoạch hạt cây Jaropha, tạo thêm việc làm cho
người dân, cải tạo vi khi hậu xung quanh bãi lọc thực vật.
=05->2
Việc sử dụng thực vật để xử lý, loại bỏ chất ô nhiễm đã được áp dụng rộng
rãi từ lâu, đây là một phương pháp, một công nghệ thân thiện với môi trường,
không hoặc ít dùng hóa chất, chi phí xử dụng thấp hơn rất nhiều so với các công
nghệ truyền thống. Tuy nhiên đề tài đưa ra một hướng mới là sử dụng cây Jatropha
để xử lý chất thải, cây có ưu điểm là có khẳng chịu hạn cao, thích nghi với môi
trường nước thải tốt và hơn hết là có tuổi thọ cao hơn các loài cây thủy sinh, cây
thủy sinh có tuổi thọ thấp nên khi chết đi sẽ tạo ra một nguồn ô nhiễm khác. Ngoài
các tính năng đó, cây Jatropha cung cấp một nguồn lợi lớn, cũng như cung cấp một
nguồn nguyên liệu sạch, hạn chế được việc khai thác dâu mỏ dưới lòng đất, gây ô
nhiễm cho môi trường.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 5

Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
c. 'Z
Phân là phần thức ăn không được gia súc hấp thu, bị bài tiết ra ngoài bao
gồm: các thức ăn mà cơ thể vật nuôi không thể không hấp thu được hay các chất
không được các men tiêu hoá hay các vi sinh tiêu hoá (như chất xơ, prôtêin, chất
béo…), các thức ăn bổ sung (thuốc kích thích tăng trưởng, dư lượng kháng sinh,
…), các men tiêu hoá sau khi sử dụng bị mất hoạt tính, các mô tróc ra từ niêm mạc
ống tiêu hoá và chất nhờn,.…Ngoài ra thành phần của phân còn phụ thuộc vào chế
độ dinh dưỡng và tuỳ từng giai đoạn phát triển của gia súc, gia cầm mà nhu cầu
dinh dưỡng có sự khác nhau, vì vậy thành phần và khối lượng của phân cũng khác
nhau.
Do đó, phân là chất thải rắn thường xuyên sinh ra trong trại chăn nuôi heo.
Trong phân gia súc, gia cầm chứa các chất dinh dưỡng có thể hỗ trợ cho trồng trọt
và làm tăng độ màu mỡ của đất.
GL  Lượng phân thải ra hằng ngày
Trọng lượng gia súc Lượng phân (kg/ngày)
Dưới 10 kg 0,5 – 1,0
Từ 15 đến 45 k g 1,0 – 3.0
Từ 45 đến 100 kg 3,0 – 5,0
Từ 100 trở lên 5,0 – 7,0
Nguồn: Hill và Toller, 1974
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 7
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
GL Thành phần hóa học của phân gia súc
Đặc tính Giá trị Đơn vị
pH 6,47 – 6,95
Vật chất khô 213 – 342 g/kg
NH
4

Thành phần nước tiểu chủ yếu là nước (chiếm trên 90% tổng khối lượng
nước tiểu). Ngoài ra, nước tiểu còn chứa một lượng lớn nitơ (phần lớn dưới dạng
urê) và phốtpho. Urê trong nước tiểu dễ phân huỷ trong điều kiện có oxy tạo thành
khí ammoniac. Do đó, khi động vật bài tiết ra bên ngoài chúng dễ dàng phân huỷ
tạo thành amoniac gây mùi hôi. Nhưng nếu sử dụng bón cho cây trồng thì đây là
nguồn phân bón giàu nitơ, phốt pho và kali.
GL & Thành phần hóa học của nước tiểu gia súc
Đặc tính Giá trị Đơn vị
Vật chất khô 30,9 – 35,9 g/kg
NH
4
-N 0,13 – 0,40 g/kg
N 4,90 – 6,63 g/kg
Tro 8,5 – 16,3 g/kg
Urê 123 –196 mol/l
Carbonates 0,11 – 0,19 g/kg
pH 6,77 – 8,19
Nguồn: Trương Thanh Cảnh & cộng tác viên, 1997-1998
b. (-L
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 9
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Nước thải từ hoạt động chăn nuôi có nguồn gốc từ việc tắm rửa gia súc, vệ
sinh chuồng trại, máng ăn uống … và nước thải do vật nuôi bài tiết. Thành phần
nước thải có chứa các chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, nitơ, phốt pho và các thành
phần khác, đặc biệt là vi sinh vật gây bệnh. Thành phần hoá học của nước thải thay
đổi một cách nhanh chóng trong quá trình dự trữ. Trong quá trình đó, một lượng
lớn các chất khí được tạo ra bởi hoạt động của các vi sinh vật như là SO
2
, NH

Tổng N 220 - 460 mg/l
Dầu mỡ 5 - 58 mg/l
SS 180 – 450 mg/l
NH
4
+
15 – 28,4 mg/l
E.coli 12,6.10
6
– 68,3.10
3
MPN/100ml
Trứng giun sán 28 - 280 Trứng/l
Hầu hết các cơ sở chăn nuôi chưa có hệ thống xử lý nước thải, nước thải
được thải bỏ trực tiếp ra sông rạch, ao, hồ …Hầu hết dễ phân huỷ thành acid amin,
acid béo, CO
2
, H
2
O, NH
3
, H
2
S… Sự phân hủy sinh học này chính là nguyên nhân
gây ô nhiễm mùi hôi tại các nông hộ chăn nuôivà cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm
các nguồn nước mặt, nước ngầm trong khu vực.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 11
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
2.1.1.4. 0*PKL9

gây nên hiện tượng kích
thích thị giác, làm giảm thị lực.
Nhóm 2 : Các khí gây ngạt
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 12
Andehyde và
Alcohol
H
2
O, CO
2
, hydrocacbon mạch
Cacbohydrat
H
2
O, CO
2
và CH
4
Axit béo
Andehyde và Ketone
Alcohol
Lipit
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Các chất khí gây ngạt đơn giản (CO
2
và CH
4
): những khí này trơ về mặt sinh
lý. Đối với thực vật, CO

SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 13
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
 Ảnh hưởng của một số chất ô nhiễm chính đến môi trường nước
a. Kc#)
Trong thức ăn, một số chất chưa được đồng hóa và hấp thụ bài tiết ra ngoài
theo phân, nước tiểu cùng các sản phẩm trao đổi chất. Ngoài ra, các chất hữu cơ từ
nguồn khác như thức ăn thừa, ổ lót, xác chết gia súc không được xử lý. Sự phân
huỷ này trải qua nhiều giai đoạn, tạo ra các hợp chất như axitamin, axit béo, các khí
gây mùi hôi khó chịu và độc hại.
Ngoài ra, sự phân huỷ các chất béo trong nước còn làm thay đổi pH của
nước, gây điều kiện bất lợi cho hoạt động phân huỷ các chất ô nhiễm.
Một số hợp chất cacbohydrat, chất béo trong nước thải có phân tử lớn nên
không thể thấm qua màng vi sinh vật. Để chuyển hóa các phân tử này, trước tiên
phải có quá trình thuỷ phân các chất phức tạp thành các chất đơn giản (đường đơn,
axit amin, axit béo mạch ngắn). Quá trình này tạo các sản phẩm trung gian gây độc
cho thuỷ sinh vật.
b. )W'T*O
Khả năng hấp thụ nitơ, phosphor của gia súc tương đối thấp nên phần lớn bài
tiết ra ngoài. Do đó, hàm lượng nitơ, phosphor trong chất thải chăn nuôi tương đối
cao, nếu không xử lý sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hóa nguồn nước, ảnh hưởng
đến hệ sinh thái nước, tuỳ theo thời gian và sự có mặt của oxy mà nitơ trong nước
tồn tại ở các dạng khác nhau : NH
4
+
, NO
2
-
, NO
3

Những khí này có tính chất gây mùi và ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, kháng bệnh
của cơ thể. Những khí này có thể được tạo ra với số lượng tương đối lớn và có độc
hại đặc biệt là ở những cơ sở chuồng trại kín hoặc là thiếu thông thoáng.
 Ảnh hưởng của các chất ô nhiễm không khí
a. d(e >2

?
Khí H
2
S là sản phẩm của quá trình phân huỷ chất hữu cơ có mùi rất khó
chịu, gây độc rất cao. Chúng có thể gây cho cơ thể ức chế toàn thân, tăng vận động
của đường hô hấp. Do dễ hoà tan trong nước nên H
2
S có thể thấm vào niêm mạc
mắt mũi, niêm mạc đường hô hấp gây kích thích và dị ứng.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 15
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
GL / Ảnh hưởng của H2S đến sức khoẻ người
Đối tượng Nồng độ tiếp xúc Tác hại hay triệu chứng
Với người
10 ppm Ngứa mắt.
20 ppm trở lên trong
hơn 20 phút
Ngứa mắt, mũi, họng.
50-100 ppm Nôn mửa, ỉa chảy.
200 ppm/giờ Chóng váng thần kinh suy nhược, dễ gây viêm
phổi.
300 ppm/30phút Nôn mửa trong trạng thái hưng phấn bất tỉnh.
Trên 600 ppm Mau chóng tử vong.

sẽ dẫn
đến hiện tượng co giật, rối loạn tim và hô hấp, thậm chí gây tử vong.
c. d(e >29
$
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 16
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Trong chăn nuôi heo, lượng nước tiểu sinh ra hằng ngày rất nhiều với thành
phần khí NH
3
là chủ yếu. Chất khí này có nồng độ cao kích thích mạnh niêm mạc,
mắt, mũi, đường hô hấp dễ dị ứng tăng tiết dịch, hay gây bỏng do phản ứng kiểm
hoá kèm theo toả nhiệt, gây co thắt khí quản và gây ho. Nếu nồng độ khí NH
3
cao
gây huỷ hoại đường hô hấp, NH
3
từ phổi vào máu, lên não gây nhứt đầu và có thể
dẫn đến hôn mê. Trong máu NH
3
bị oxy hoá thành tạo thành NO
2
-
làm hồng cầu
trong máu chuyển động hỗn loạn, ức chế chức năng vận chuyển oxy đến các cơ
quan của hồng cầu và gây bệnh xanh xao ở trẻ nhỏ, trường hợp nặng có thể gây
thiếu oxy ở não dẫn đến nhứt đầu, mệt mỏi, hôn mê thậm chí có thể gây tử vong.
GL 6. Ảnh hưởng của NH
3
lên người

phân huỷ các chất thải. Mùi phụ thuộc vào khẩu phần thức ăn và quá trình lưu trữ
hay xử lý chất thải. Tuy nhiên sự thối rữa của phân không phải là nguồn gốc duy
nhất của mùi, thức ăn thừa thối rữa, phụ phẩm của chế biến thực phẩm dùng cho gia
súc ăn cũng gây mùi khó chịu.
Ngoài ra, mùi còn phát sinh từ xác động vật chết không chôn ngay hoặc mùi
do phun thuốc khử trùng chuồng trại hay nơi chứa phân. Các sản phẩm tạo mùi là
do quá trình lên men chiếm số lượng lớn, một số sản phẩm ở dạng vết. Có nhiều sản
phẩm tạo mùi, trong số đó khí ảnh hưởng đến sức khoẻ con người và động vật các
khí cacbonic, monocacbon oxit, metan, ammoniac, hydrosulfual, indol, Schatole và
phenol. Các chất khí này thường là sản phẩm của quá trình phân huỷ kỵ khí phân,
đã qua phân huỷ bởi vi sinh vật không sử dụng oxy. Cho nên chúng ảnh hưởng rất
mạnh đến khứu giác của con người. Những người dân đã sống xung quanh có khả
năng mắc các chứng bệnh về đường hô hấp rất cao.
f. d(e >2]
Bụi từ thức ăn, lông thú hay phân là những hạt mang vi sinh vật gây bệnh,
hấp phụ các khí độc, các chất hoá học đi vào đường hô hấp và gây dị ứng, gây xáo
trộn hô hấp.
2.1.2.3. NO(1 K
Trong chất thải gia súc, gia cầm có rất nhiều chất dinh dưỡng nếu bón vào
đất sẽ làm tăng độ phì nhiêu cho đất. Tuy nhiên do chứa nhiều chất hữu cơ, hợp
chất nitơ, phosphor. Nếu thải vào đất không hợp lý hoặc sử dụng phân tươi để bón
cho cây trồng, cây sử dụng không hết sẽ có tác dụng ngược lại. Lượng lớn nito,
phospho sẽ gây hiện tượng phú dưỡng hoá thành nitrat làm cho cây trồng. Lượng vi
sinh vật chuyển hoá nito và phosphor sẽ làm hạn chế số chủng loại vi sinh vật khác
trong đất, gây mất cân bằng hệ sinh thái đất hiện tại trong trung tâm. Thêm vào đó,
trong đất có nitrat cao khi trời mưa xuống sẽ thấm theo mạch nước ngầm gây ô
nhiễm nước ngầm.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 18
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến

2.2.3.1. NL:j;:\
Cây Dầu mè là cây bụi gỗ mềm, thân thẳng cao trung bình 6 m với tán rộng.
Cành non mập và mọng nước, nhựa cây có màu trắng sữa hay màu vàng nhạt, lá
rụng sớm, mọc dày ở phần ngọn. Lá có hình ovan, hoặc hình trái tim, có lá chẻ thùy
3 đến 5 thùy. Lá dài 6 - 40 cm, rộng 6 – 35 cm, cuống dài 2,5 – 7,5 cm. Hoa thường
nở vào tháng 4 - 5 tạo thành nhiều chùm có màu vàng nhạt, hình chuông. Hoa đực
có 10 nhị trong đó 5 nhị dính vào phần chân đế, 5 nhị kết lại thành bó. Hoa cái rời
rạc với bầu nhụy hình elip, chia làm 3 ô, với 3 núm nhụy phân nhánh. Quả có dạng
nang, kích thước 2,5 -4 cm về chiều ngang và đường kính. Quả chia thành 3 ngăn,
hạt nằm trong các ngăn này. Hạt cây thuôn màu đen kích thước 2x1 cm.
b$ Quả và hạt của cây Jatropha
Dầu mè thụ phấn nhờ côn trùng. Dehgan và Webster (1979) cho rằng, Dầu
mè được thụ phấn nhờ vào bướm ban đêm và “cây ngọt, rất thơm về ban đêm, hoa
có màu lục nhạt, bao phấn có thể lắc lư, bộ phận sinh thực nhô ra, rất nhiều mật hoa
và không có bộ phận chứa mật thu hút có thể nhìn thấy”. Nếu trồng trong nhà kính,
không có côn trùng, hạt khó đậu quả, nếu không thụ phấn nhân tạo. Rất hiếm có
trường hợp hoa lưỡng tính có thể tự thụ phấn. Heller (1999) đã quan sát nhiều lần
sâu bọ tới và thụ phấn cho hoa. Ở Senegal, Heller cũng đã phát hiện, nhị hoa mở
muộn hơn nhụy hoa trên cùng một nhóm hoa, nhờ cơ chế này đã thúc đẩy quá trình
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 20
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
thụ phấn chéo. Sau khi thụ phấn, một quả hình bầu dục có 3 ô được hình thành. Vỏ
quả màu xanh cho tới khi hạt chín ở bên trong. Hạt thường có chiều dài 2 cm, rộng
1cm, có màu rất nhỏ. Wiehr (1930) và Droit (1932) đã mô tả chi tiết vi phẩu hạt.
Singh (1970) đã mô tả vi phẩu của quả. Gupta (1985) đã nghiên cứu tỉ mỉ về giải
phẩu các bộ phận của cây. Dầu mè là một loài lưỡng bội với công thức bộ gene là
2n=22 nhiễm sắc thể.
2.2.3.2. ?+
Cây dầu mè có thể phát triển trong các điều kiện khí hậu khô cằn. Điều kiện

cầu, gián phân tế bào lympho, chứng viêm (ban đỏ trên da), sản sinh prostaglandin
và kích thích chống kết dính trong các bạch cầu trung tính (Aiken, 1986). Các tác
dụng này liên quan mật thiết tới cấu trúc của các phorbol, este, bán alcol, là bất hoạt
(Evans, 1986 b) và có liên quan tới sự hoạt hóa proteinkinase C dẫn tới các đáp ứng
khác nhau ở cấp dộ tế bào do sự phosphoryl hóa các protein đích trên phần còn lại
của serin hoặc threorin (Azzi và các cộng sự, 1992).
Nhân của hạt dầu mè chứa ít nhất 4 phorbol este. Cấu trúc của hợp chất
chính là 12- deoxy- 16- hydroxyphorbol-4’-[12’,14’ –butadienyl]-6’-[16’,18’,20’-
nonatrienyl] – bicyclo[ 3.1.0] hexane – (13-O) – 2’- [carboxylate]-(16-O)-3’-[8’
butenoic-10’] ate (DPHB) (Hirota và các cộng sự, 1988). Phần bán alcol của hợp
chất khác được tìm thấy là 12 –deoxy- 16- hydroxylphorbol (Adolf và cộng sự,
1984; Biehl, 1987). Phần axit được dự kiến là một axits dicacboxylic không no bao
gồm một vòng epoxit (Biehl, 1987). Cấu trúc của hai hợp chất chính vẫn chưa hoàn
toàn sáng tỏ.
Glaser (1991) tập trung phân tích định lượng của phorbo este trong nhân
Dầu mè giống như các nghiên cứu của Wink và các cộng sự (1997) và Makkar và
các cộng sự (1997).
Các phorboleste trong dầu là chất độc có thể kích thích u bướu và gây viêm,
đòi hỏi phải được khử độc dầu khi được sử dụng trong công nghiệp và ngay cả khi
có khả năng có sự tiếp xúc trực tiếp của con người với dầu. Gross và các cộng sự
(1997) đưa ra một phương pháp khử độc dầu bằng cách sử dụng etanol để chiết các
phorbol este. Phương pháp này tiêu tốn lượng dung môi lớn, đòi hỏi hoàn thiện về
quy trình kỹ thuật để hạ giá thành khi khử độc trên quy mô lớn.
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 22
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến
Thành phần gây độc trong khô dầu là curcin. Curcin là độc tố thực vật
(toxalbumin –albumin độc) được tìm thấy chủ yếu trong hạt, cũng có trong quả và
nhựa. Bản chất hóa học của curcin là các protein tạp có độc tính cao, tương tự độc
tố vi khuẩn về cấu trúc và các chức năng sinh lý. Độc tố thực vật bền với nhiệt và

khô dầu lạc.
Khô dầu Dầu mè có hàm lượng protein cao. Trừ lysine, còn các acid amino
cơ bản khác đều có trong khô dầu Dầu mè với hàm lượng cao hơn cả mức mà FAO
khuyến cáo dung cho trẻ em trước tuổi đến trường (Makkan, Becker và Schmool,
1998). Nếu khử hết các độc tố, khô dầu Dầu mè sạch được sử dụng làm nguyên liệu
giàu protein để sản xuất thức ăn giàu đạm cho gia súc, gia cầm, thủy sản, trở thành
sản phẩm có giá trị kinh tế cao.
& %Ti"  Z`P#5hO 9k:5NO(1
2.2.4.1. 0O 9k
a. 0.O2 #Q #`!X^#TLl#KP#mTmXT
Phát hiện quan trọng nhất từ Jatropha là lấy hạt làm nguyên liệu sản xuất
dầu diesel sinh học. Hạt Jatropha có hàm lượng dầu trên 30%, từ hạt ép ra dầu thô,
từ dầu thô tinh luyện được diesel sinh học và glyxerin. Mặc dầu diesel sinh học
được sản xuất từ nhiều loại nguyên liệu: cải dầu, hướng dương, đậu tương, dầu cọ,
mỡ động vật…, nhưng sản xuất từ Jatropha vẫn có giá thành rẻ nhất, chất lượng
tốt, tương đương với dầu diesel hóa thạch truyền thống.
Nếu 1 ha Jatropha đạt năng suất 8-10 tấn hạt/ha/năm có thể sản xuất được 3
tấn diesel sinh học. Loại dầu này sẽ thay thế được 1 phần dầu diesel truyền thống
đang cạn kiệt, giảm thiểu được lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính, là loại dầu
cháy hết và không có lưu huỳnh, là dầu sạch, thân thiện với môi trường.
b. GnX5*Zc#):"MM#N
Sau khi ép dầu, bã khô có thể được sử dụng làm phân hữu cơ rất tốt để bón
cho các loại cây trồng, nhất là cho vùng sản xuất nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp
sạch, vừa góp phần sản xuất sản phẩm sạch, vừa nâng cao độ phì của đất.
Trong thành phần hạt Jatropha có độc tố curcin, có thể gây tử vong cho
người và gây hại cho vật nuôi.Nếu khử hết độc tố thì bã khô dầu Jatropha trở thành
một loại thức ăn giàu đạm cho các loài gia súc, gia cầm, tạo ra nguồn thức ăn chăn
SVTH: Nguyễn Hà Phương Ngân
MSSV: 106108015 Trang 24
Đồ án xử lý nước thải GVHD: Ths Vũ Hải Yến

MSSV: 106108015 Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status