Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
LỜI MỞ ĐẦU
Xã hội ta là xã hội vì con người, đặt con người vào vị trí trung tâm của
phát triển kinh tế, xã hội và lấy việc nâng cao chất lượng cuộc sống con người
làm mục tiêu phục vụ.
Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn nhấn mạnh phát
triển kinh tế phải đi đôi với việc giải quyết tốt những vấn đề xã hội, bởi lẽ phát
triển kinh tế phải là sự phát triển bền vững dựa trên những yếu tố chính trị, kinh
tế, văn hóa, vừa giữ vững được ổn định kinh tế - xã hội, không có những xáo
trộn, xung đột làm ảnh hưởng đến việc huy động các nguồn lực cho sự phát
triển. Trong phát triển bền vững, yếu tố kinh tế và yếu tố xã hội quyện vào nhau,
hòa nhập vào nhau. Mục tiêu phát triển kinh tế phải bao gồm cả mục tiêu giải
quyết những vấn đề xã hội như giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo, đền ơn
đáp nghĩa, Bảo hiểm xã hội (BHXH) nhằm thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu
cầu cơ bản của người dân, thực hiện công bằng xã hội. Ngược lại, mục tiêu phát
triển xã hội cũng nhằm tăng động lực phát triển kinh tế. Đó cũng là sự khác biệt
cơ bản về mục tiêu phát triển giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Với
nhận thức đó, Đại hội VIII của Đảng đã đề ra những quan điểm chỉ đạo việc
hoạch định hệ thống chính sách xã hội, trong đó có chính sách BHXH.
Hoạt động của BHXH có vai trò to lớn trong việc ổn định đời sống, giảm
bớt những khó khăn trong cuộc sống của người lao động và các thành viên trong
gia đình họ, đảm bảo thúc đẩy sản xuất, góp phần tăng năng suất lao động. Có
thể nói hoạt động của BHXH mang tính nhân văn rất cao. Dó đó, xã hội ngày
càng phát triển thì nhu cầu xã hội cần có sự an toàn trong cuộc sống càng cao, từ
đó các dịch vụ bảo hiểm cũng ngày càng phát triển. Để ngành BHXH đáp ứng
được nhu cầu đa dạng của người dân, đặc biệt là người tham gia BHXH thuộc
các tầng lớp, các thành phần kinh tế khác nhau thì đội ngũ cán bộ, công chức
ngành BHXH phải đủ về số lượng và đảm bảo về chất lượng chuyên môn cũng
như phẩm chất chính trị. Đây là đòi hỏi khách quan và cũng là vinh dự của đội
ngũ nhân lực của ngành. Bởi cán bộ là nhân tố quyết định sự phát triển, hoàn
thiện của sự nghiệp ngành BHXH nói riêng và cũng là nhân tố quyết định sự
2
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
VÀ KHÁI QUÁT MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ CÔNG TÁC
QUẢN LÝ CÁN BỘ THUỘC HỆ THỐNG BHXH VIỆT NAM
1.1.TỔNG QUAN VỀ BHXH
1.1.1.Sự cần thiết khách quan của Bảo hiểm xã hội.
BHXH là sự bảo vệ xã hội cho mọi thành viên của xã hội. Trong cuộc
sống mỗi người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc, ở và đi lại
Để thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu đó người ta phải lao động làm ra những
sản phẩm cần thiết. Khi sản phẩm làm ra ngày càng nhiều thì đời sống con người
ngày càng đầy đủ và hoàn thiện, xã hội ngày càng văn minh hơn. Như vậy, việc
thỏa mãn những nhu cầu sinh sống và phát triển của con người phụ thuộc vào
chính khả năng lao động của họ. Nhưng trong thực tế, không chỉ lúc nào con
người cũng gặp thuận lợi, có đủ thu nhập và mọi điều kiện sống bình thường.
Trái lại, có rất nhiều trường hợp gặp khó khăn bất lợi ít nhiều phát sinh làm cho
người ta bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác. Chẳng hạn,
bất ngờ bị ốm đau hoặc tai nạn lao động, mất việc làm hoặc khi tuổi già khả
năng lao động và khả năng tự phục vụ suy giảm Khi rơi vào những trường
hợp này, các nhu cầu cần thiết trong cuộc sống không vì thế mà mất đi, trái lại
có cái còn tăng lên, thậm chí còn xuất hiện thêm một số nhu cầu mới như: cần
được khám chữa bệnh và điều trị khi ốm đau, tai nạn thương tật nặng cần phải
có người chăm sóc nuôi dưỡng. Bởi vậy, muốn tồn tại và ổn định cuộc sống, con
người và xã hội loài người phải tìm ra và thực tế đã tìm ra nhiều cách giải quyết
khác nhau như: san sẻ, đùm bọc lẫn nhau trong nội bộ cộng đồng, đi vay đi xin
hay dựa vào sự cứu trợ của Nhà nước Rõ ràng, những cách đó hoàn toàn thụ
động và không chắc chắn.
Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển, việc thuê mướn nhân công trở nên
phổ biến. Lúc đầu người chủ chỉ cam kết trả công lao động nhưng về sau đã phải
cam kết cả việc đảm bảo cho người làm thuê một số thu nhập nhất định để họ
trang trải những nhu cầu thiết yếu khi không may bị ốm đau, tai nạn, thai sản
đoạn này, trước cục diện mới, giai cấp công nhân ngày càng đông, nhiều sức ép
về chính trị, xã hội lần lượt tác động, ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội của các
quốc gia. Chính phủ các nước, nhất là các nước công nghiệp không thể không
quan tâm đến tình cảnh của người lao động. Họ buộc phải từng bước cải thiện
điều kiện lao động, rút ngắn thời gian làm việc, có chế độ thích hợp hơn để tỏ ra
có chăm sóc đến đời sống của người lao động. Điển hình là năm 1850, dười thời
thủ tướng Bis – Mac, nhiều bang của nước Đức đã giúp các địa phương lập quỹ
Bảo hiểm ốm đau, do các công nhân phải đóng tiền để được bảo hiểm. Nguyên
tắc bảo hiểm bắt buộc chính là bắt nguồn từ đây và người được bảo hiểm phải
đóng bảo hiểm.
Chế độ ốm đau được phổ cập trong toàn nước Đức vào năm 1883, do các
hội tương tế lúc bấy giờ của công nhân quản lý. Năm 1884, xuất hiện các chế độ
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
4
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
bảo hiểm về rủi ro nghề nghiệp do các Hiệp hội chủ doanh nghiệp quản lý. Năm
1889, lại xuất hiện các chế độ bảo hiểm tuổi già và bảo hiểm tàn tật do chính
quyền các tỉnh quản lý.
Trong khoảng từ năm 1883 đến năm 1889, một hệ thống BHXH lớn đầu
tiên đã ra đời với sự tham gia bắt buộc của những người làm công ăn lương, theo
nguyên tắc người được hưởng bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm và ba thành
viên của xã hội là: người lao động, người sử dụng lao động, Nhà nước đều có vị
trí quan trọng trong việc quản lý hệ thống BHXH. Từ đó nhiều nước đã sử dụng
cơ chế này trong hệ thống các chế độ BHXH của mình.
Sáng kiến về BHXH của chính quyền Bis – Mac được nhiều nước Châu
Âu tiếp nhận. Từ thập kỷ 30 của thế kỷ XX liên tiếp các nước Mỹ la tinh, Hoa
Kỳ, Canada đều áp dụng; từ sau đại chiến thế giới thứ II và sau khi giành được
độc lập, nhiều nước Châu Âu, Châu Á và vùng Caribe cũng lần lượt áp dụng cơ
chế BHXH tương tự. Tuy vậy, cần nhấn mạnh rằng các nước áp dụng cơ chế
BHXH chủ yếu là áp dụng các đặc trưng có sự đóng phí BHXH của những
thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những
người lao động.
Với cách hiểu như trên, bản chất của BHXH được thể hiện ở những nội
dung chủ yếu sau:
- BHXH là nhu cầu khách quan, đa dạng và phức tạp của BHXH, nhất là
trong xã hội mà sản xuất hàng hóa hoạt động theo cơ chế thị trường, mối quan
hệ thuê mướn lao động phát triển đến một mức độ nào đó. Kinh tế càng phát
triển thì BHXH càng đa dạng và hoàn thiện. Vì thế có thể nói kinh tế là nền tảng
của BHXH hay BHXH không vượt quá trạng thái kinh tế của mỗi nước.
- Mối quan hệ giữa các bên trong BHXH phát sinh trên cơ sở quan hệ lao
động và diễn ra giữa ba bên: Bên tham gia BHXH có thể chỉ là người lao động
hoặc cả người lao động và người sử dụng lao động. Bên BHXH (bên nhận
nhiệm vụ BHXH) thông thường là cơ quan chuyên trách do Nhà nước lập ra và
bảo trợ. Bên được BHXH là người lao động và gia đình họ khi có đủ các điều
kiện cần thiết.
- Những biến cố làm giảm hoặc mất khả năng lao động, mất việc làm
trong BHXH có thể là những rủi ro ngẫu nhiên trái với ý muốn chủ quan của con
người như: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc cũng có thể là
những trường hợp xảy ra không hoàn toàn ngẫu nhiên như: tuổi già, thai sản
đồng thời những biến cố đó có thể diễn ra cả trong và ngoài quá trình lao động.
- Phần thu nhập của người lao động bị giảm hoặc mất đi khi gặp phải
những biến cố, rủi ro sẽ được bù đắp hoặc thay thế từ một quỹ tiền tệ tập trung
được tồn tích lại. Nguồn quỹ này do bên tham gia BHXH đóng góp là chủ yếu,
ngoài ra còn có sự hỗ trợ từ phía Nhà nước.
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
6
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
- Mục tiêu của BHXH là nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu của
người lao động trong trường hợp bị giảm hoặc mất thu nhập, mất việc làm. Mục
tiêu này được tổ chức lao động quốc tế (ILO) cụ thể hóa như sau:
phối lại giữa những người lao động có thu nhập cao và thấp, giữa những người
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
7
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
khỏe mạnh đang làm việc với những người ốm yếu phải nghỉ việc Thực hiện
chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.
- Góp phần kích thích người lao động hăng hái lao động sản xuất nâng cao
năng suất lao động cá nhân và năng suất lao động xã hội. Khi khỏe mạnh tham
gia lao động sản xuất, người lao động được chủ sử dụng lao động trả lương hoặc
tiền công. Khi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động hoặc khi về già đã có BHXH
trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ
luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, người lao động luôn yên tâm,
gắn bó tận tình với công việc, với nơi làm việc. Từ đó, họ rất tích cực lao động
sản xuất, nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu
hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích người lao động nâng cao năng suất lao
động cá nhân và kéo theo là năng suất lao động xã hội.
- Gắn lợi ích giữa người lao động với người sử dụng lao động, giữa người
lao động với xã hội. Trong thực tế lao động sản xuất, người lao động và người
sử dụng lao động vốn có những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương,
tiền công, thời gian lao động Thông qua BHXH, những mâu thuẫn đó sẽ được
điều hòa và giải quyết. Đặc biệt, cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà
mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bó lợi ích
được với nhau. Đối với Nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải
chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được khó khăn về đời sống
cho người lao động và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế,
chính trị và xã hội được phát triển và an toàn hơn.
1.1.3.3. Tính chất của Bảo hiểm xã hội.
BHXH gắn liền với đời sống của người lao động, vì vậy nó có một số tính
chất cơ bản sau:
- Tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội.
gánh nặng cho ngân sách đồng thời quỹ BHXH còn là nguồn đầu tư đáng kể cho
nền kinh tế quốc dân.
+ Tính xã hội:
BHXH là bộ phận chủ yếu của hệ thống Bảo hiểm xã hội, vì vậy tính xã
hội của nó thể hiện rất rõ. Xét về lâu dài, mọi người lao động trong xã hội đều
có quyền tham gia BHXH. Và ngược lại, BHXH phải có trách nhiệm bảo hiểm
cho người lao động và gia đình họ, kể cả khi họ còn đang ở trong độ tuổi lao
động.
+ Tính dịch vụ:
Tính xã hội của BHXH luôn gắn chặt với tính dịch vụ của nó. Khi nền
kinh tế - xã hội ngày càng phát triển thì tính dịch vụ và tính chất xã hội hóa của
BHXH cũng ngày càng cao.
Hiện nay, BHXH mới chỉ đáp ứng được một phần nhỏ nhu cầu của lực
lượng lao động. Đa số đông người lao động là người lao động nông nghiệp, tự
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
9
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
tạo việc làm. Những người này cũng cần sự bảo vệ của hệ thống BHXH. Vì vậy,
việc mở rộng phạm vi BHXH là hết sức cần thiết để BHXH thực sự đáp ứng
được nhu cầu của tất cả người lao động.
1.1.3.4. Các chế độ Bảo hiểm xã hội trên thế giới.
Theo khuyến nghị của Tổ chức lao động quốc tế (ILO), Quỹ BHXH được
sử dụng để trợ cấp cho các đối tượng tham gia BHXH, nhằm ổn định cuộc sống
cho bản thân và gia đình họ, khi đối tượng tham gia BHXH gặp rủi ro. Thực chất
là trợ cấp cho 9 chế độ mà tổ chức này đã nêu lên trong Công ước 102 tháng 6
năm 1952 tại Giơnevơ:
1. Chăm sóc y tế
2. Trợ cấp ốm đau
3. Trợ cấp thất nghiệp
4. Trợ cấp tuổi già
tiềm lực và sức mạnh kinh tế, khả năng tổ chức và quản lý của mỗi quốc gia.
Trong một chừng mực nhất định, nó còn thể hiện tính ưu việt của một chế độ xã
hội. Nếu tổ chức và thực hiện tốt chính sách BHXH sẽ là động lực to lớn phát
huy tiềm năng sáng tạo của người lao động trong quá trình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước.
b. Người sử dụng lao động phải có nghĩa vụ và trách nhiệm BHXH cho người
lao động.
Người sử dụng lao động thực chất là các tổ chức, các doanh nghiệp và các
cá nhân có thuê mướn lao động. Họ phải có nghĩa vụ đóng góp vào quỹ BHXH
và có trách nhiệm thực hiện đầy đủ các chế độ BHXH đối với người lao động
mà mình sử dụng theo đúng luật pháp quy định. Người sử dụng lao động muốn
ổn định và phát triển sản xuất kinh doanh thì ngoài việc phải chăm lo đầu tư để
có máy móc thiết bị hiện đại, công nghệ tiên tiến còn phải chăm lo tay nghề và
đời sống cho người lao động mà mình sử dụng. Khi người lao động làm việc
bình thường thì phải trả lương thỏa đáng cho họ. Khi họ gặp phải rủi ro, bị ốm
đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, trong đó có rất nhiều trường hợp gắn
với quá trình lao động với những điều kiện lao động cụ thể của doanh nghiệp thì
phải có trách nhiệm BHXH cho họ. Chỉ có như vậy, người lao động mới yên
tâm, tích cực lao động sản xuất, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật góp phần
nâng cao năng suất lao động và tăng hiệu quả kinh tế cho doanh nghiệp.
c. Người lao động được bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi đối với BHXH,
không phân biệt nam, nữ, dân tộc, tôn giáo, nghề nghiệp
Điều đó có nghĩa là mọi người lao động trong xã hội đều được hưởng
BHXH như Tuyên ngôn nhân quyền đã nêu, đồng thời bình đẳng về nghĩa vụ
đóng góp và quyền lợi trợ cấp BHXH. Người lao động khi gặp rủi ro không
mong muốn và không phải hoàn toàn hay trực tiếp do lỗi của người khác thì
trước hết đó là rủi ro của bản thân. Vì thế, nếu muốn BHXH tức là muốn nhiều
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
11
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
Đối với việc đảm bảo vật chất cho BHXH thì vai trò của Nhà nước phụ
thuộc vào chính sách BHXH do Nhà nước quy định. Có những mô hình về bảo
đảm vật chất cho BHXH do ngân sách Nhà nước cung cấp thì vai trò quản lý
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
12
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
Nhà nước là trực tiếp và toàn diện, nếu nguồn đảm bảo trợ cấp do người sử dụng
lao động, người lao động và Nhà nước đóng góp thì Nhà nước tham gia quản lý.
Để quản lý BHXH, Nhà nước sử dụng các công cụ chủ yếu như luật pháp
và bộ máy tổ chức. Nhìn chung, hầu hết các nước trên thế giới, việc quản lý vĩ
mô BHXH được Nhà nước giao cho Bộ Lao động hoặc Bộ Xã hội trực tiếp điều
hành.
1.1.4. Bảo hiểm xã hội Việt nam
1.1.4.1. Quá trình phát triển của BHXH ở Việt nam
Ở Việt nam, trong gần một thế kỷ bị cai trị bởi thực dân Pháp, hầu như
không đề ra được những gì để bảo vệ những quyền cơ bản của con người, không
thực hiện được chế độ chính sách BHXH đối với người lao động Việt nam.
Ngay sau Cách mạng tháng 8 thành công, trên cơ sở hiến pháp năm 1946 của
nước Việt nam dân chủ cộng hòa, Chính phủ đã ban hành một loạt các sắc lệnh
quy định về các chế độ trợ cấp ốm đau, tai nạn, hưu trí cho công nhân viên chức
Nhà nước (có sắc lệnh 29/SL ngày 13/3/1947; Sắc lệnh 76/SL ngày 20/5/1950
và Sắc lệnh 77/SL ngày 22/5/1950). Cơ sở pháp lý tiếp theo của BHXH được thể
hiện trong hiến pháp năm 1959. Hiến pháp năm 1959 của nước ta đã thừa nhận
công nhân viên chức có quyền được trợ cấp BHXH. Quyền này được cụ thể hóa
trong Điều lệ tạm thời về BHXH đối với công nhân viên chức Nhà nước, ban
hành kèm theo Nghị định 218/CP ngày 27/12/1961 và Điều lệ đãi ngộ quân nhân
ban hành kèm theo Nghị định 161/CP ngày 30/10/1964 của Chính phủ. Suốt
trong những năm kháng chiến chống xâm lược, chính sách BHXH nước ta đã
góp phần ổn định về mặt thu nhập, ổn định cuộc sống cho công nhân viên chức,
quân nhân và gia đình họ, góp phần rất lớn trong việc động viên sức người sức
Bảo hiểm xã hội Việt nam dựa trên cơ sở sáp nhập Bảo hiểm xã hội của Sở Lao
động thương binh xã hội và Ban bảo hiểm xã hội thuộc Liên đoàn lao động
thành phố Hà nội. Với nhiệm vụ cơ bản là thực hiện quản lý thu, chi, giải quyết
chế độ chính sách cho người lao động tham gia BHXH và những người đã được
hưởng chế độ BHXH trước năm 1995. Từ tháng 1/2003, tiếp nhận tổ chức bộ
máy cán bộ, chức năng, nhiệm vụ của Bảo hiểm y tế Hà nội và Bảo hiểm y tế
các ngành Giao thông vận tải, Dầu khí, ngành than chuyển sang, từ đây Bảo
hiểm xã hội thành phố thực hiện toàn diện chính sách Bảo hiểm xã hội và Bảo
hiểm y tế bắt buộc, tự nguyện đối với nhân dân và lao động Thủ đô.
1.1.4.2. Các chế độ BHXH ở Việt nam
Theo Điều 4 của Luật BHXH Việt nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt nam thông qua ngày 29/6/2006 thì BHXH nước ta hiện nay
bao gồm:
- Bảo hiểm xã hội bắt buộc bao gồm các chế độ sau đây:
+ Ốm đau;
+ Thai sản;
+ Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp;
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
14
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
+ Hưu trí;
+ Tử tuất.
- Bảo hiểm xã hội tự nguyện bao gồm các chế độ sau đây:
+ Hưu trí;
+ Tử tuất.
- Bảo hiểm thất nghiệp bao gồm các chế độ sau đây:
+ Trợ cấp thất nghiệp;
+ Trợ cấp học nghề;
+ Hỗ trợ tìm việc làm.
Nội dung của các chế độ nêu trên được quy định thống nhất trong các
ngược lại, danh mục bệnh nghề nghiệp cần phải được bổ sung vì có một số loại
bệnh mới phát sinh nhưng chưa được xếp vào bệnh nghề nghiệp.
d. Chế độ hưu trí
Đây là chế độ nhằm cung cấp một khoản trợ cấp thay thế cho phần thu
nhập không được nhận nữa từ nghề nghiệp do nghỉ hưu. Nội dung chế độ này đã
khắc phục những hạn chế trước đây như: việc quy đổi thời gian công tác; bóc
tách được phần lớn các chế độ ưu đãi xã hội ra khỏi chế độ hưu trí Vì thế đã
đảm bảo được sự công bằng, bình đẳng giữa người đóng và hưởng BHXH; giữa
các nhóm lao động khác nhau. Tuy vậy, chế độ này vẫn còn nhiều điểm nổi cộm
cần khắc phục như: tuổi đời về hưu giữa các ngành, các nhóm lao động; những
người hưởng trợ cấp một lần đưa vào chế độ là chưa hợp lý, vì những người này
vừa chưa đủ tuổi, vì không đủ tích lũy cần thiết để hưởng trợ cấp. Đây chỉ là sự
trả lại một phần số tiền cho người lao động khi họ không còn quan hệ lao động
nữa, do quỹ BHXH đảm nhận.
e. Chế độ tử tuất
Một trong những chế độ BHXH mang tính nhân đạo nhất đó là chế độ tử
tuất. Chế độ này đã giúp cho thân nhân người chết có khoản trợ cấp bù đắp một
phần thiếu hụt thu nhập của gia đình do người lao động bị chết; khi xây dựng
chế độ này, đã tính đến yếu tố đóng góp của người tham gia bảo hiểm và yếu tố
xã hội giữa người sống và người chết. Đặc biệt là tính đến yếu tố kế thừa đối với
thân nhân của người chết. Song việc quy định đối tượng được hưởng bao gồm cả
bố mẹ bên vợ, bên chồng là chưa hợp lý. Vì bố mẹ bên vợ, bên chồng còn có
thân nhân của cá 2 bên chịu trách nhiệm, điều này cần phải căn cứ vào hoàn
cảnh cụ thể để thống nhất quy định.
1.1.4.3. Quỹ Bảo hiểm xã hội
Quỹ BHXH là một quỹ tài chính độc lập, tập trung và nằm ngoài ngân
sách Nhà nước. Nó ra đời tồn tại và phát triển gắn với mục đích bảo đảm ổn
định cuộc sống cho người lao động và gia đình họ khi gặp phải rủi ro làm giảm
hoặc mất thu nhập từ lao động, mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lời.
Quỹ này hình thành từ những nguồn chủ yếu sau:
quy định, tiền truy thu khi các đơn vị sử dụng lao động và người lao động đóng
thiếu tiền BHXH hoặc nhận thừa so với chế độ được hưởng thụ.
Thông thường sự đóng góp của ba bên là người sử dụng lao động, người
lao động và Nhà nước tạo ra nguồn quỹ cơ bản và chiếm tỷ trọng lớn nhất. Theo
Nghị định 12/CP ngày 26/01/1995 đã quy định: Quỹ BHXH Việt nam là quỹ tài
chính độc lập, tập trung ngoài ngân sách Nhà nước được hình thành từ ba nguồn:
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
17
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
+ Nguồn sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ lương của
người tham gia BHXH trong đơn vị. Trong đó 10% dùng để chi cho các chế độ
hưu trí, tử tuất và 5% để chi cho các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và
bệnh nghề nghiệp.
+ Người lao động đóng bằng 5% tiền lương tháng để chi cho các chế độ
hưu trí và tử tuất.
+ Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện chế độ BHXH đối
với người lao động.
+ Các nguồn khác
Hàng tháng, người sử dụng lao động có trách nhiệm đóng BHXH theo
quy định. Tiền lương tháng căn cứ đóng BHXH gồm lương theo ngạch bậc,
chức vụ, thâm niên, hệ số chênh lệch bảo lưu (nếu có). Bộ tài chính trích từ ngân
sách Nhà nước số tiền chuyển vào quỹ BHXH đủ chi các chế độ hưu trí, trợ cấp
mất sức lao động, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, tử tuất và hỗ trợ chi lương
hưu cho người lao động thuộc khu vực Nhà nước về hưu trước ngày thi hành
Luật BHXH. Việc tổ chức thu BHXH do tổ chức BHXH Việt nam thực hiện.
Quỹ BHXH được quản lý thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch
toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ.
Quỹ BHXH được sử dụng chủ yếu cho hai mục đích:
- Chi trả và trợ cấp cho 5 chế độ mà Luật BHXH đã quy định.
- Chi phí cho sự nghiệp quản lý BHXH ở các cấp, các ngành như: tiền
cơ dù có tốt, dù chạy, toàn bộ máy cũng tê liệt. Cán bộ là người đem chính sách
của Chính phủ, của Đoàn thể thi hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính
sách hay cũng không được thực hiện”. Và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy: “Cán
bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân
chúng hiểu và thi hành, đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho
Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, đề đạt chính sách cho đúng. Vì vậy, cán bộ là cái
gốc của mọi công việc”. Người cho rằng: “Công việc thành công hay thất bại
đều do cán bộ tốt hay xấu ”.
Thực tiễn trong lịch sử đấu tranh cách mạng, xây dựng và bảo vệ tổ quốc
ở Việt nam đã chứng minh: “chỉ có chủ động xây dựng, kiện toàn đội ngũ cán bộ
vững mạnh. Đảng mới có đủ khả năng lãnh đạo, tổ chức toàn dân thực hiện
thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Bởi vậy, Đảng ta đã rất coi
trọng đến công tác tổ chức và công tác cán bộ. Trong các Nghị quyết đại hội của
Đảng đều nêu tới công tác cán bộ và đánh giá rất cao vai trò của công tác cán bộ,
nhất là trong thời kỳ công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt nam xã hội chủ nghĩa.
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
19
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
Tại đại hội lần thứ VI, Đảng ta đề ra đường lối đổi mới toàn diện, trước
hết đổi mới tư duy kinh tế, đổi mới tổ chức, cùng với nó là đổi mới đội ngũ cán
bộ và công tác quản lý cán bộ. Nghị quyết đại hội VI của Đảng còn chỉ rõ nội
dung, phương pháp thực hiện đó là: “ Đổi mới đội ngũ cán bộ có nghĩa là đánh
giá, lựa chọn, bố trí lại đi đôi với đào tạo bồi dưỡng để có đội ngũ có đủ những
tiêu chuẩn về phẩm chất và năng lực lãnh đạo, quản lý ngang tầm nhiệm vụ.
Muốn đổi mới đội ngũ cán bộ, trước hết phải đổi mới công tác cán bộ và đội ngũ
những người làm công tác tổ chức và cán bộ”.
Đại hội lần thứ VII bổ sung, phát triển đổi mới đường lối của Đại hội lần
thứ VI, đề ra cương lĩnh xây dựng đất nước và chiến lược phát triển kinh tế xã
hội trong giai đoạn mới. Tại đại hội này, Đảng ta nhấn mạnh: “ Tiếp tục đổi
chính, lao động tiền lương, chính sách xã hội tham gia vào hoạt động chức
năng trong bộ máy của BHXH các cấp. Cán bộ nghiệp vụ cấp Quận (huyện) giữ
vị trí cuối cùng để thực hiện chức năng của BHXH, công chức nghiệp vụ trực
tiếp tiếp xúc với đối tượng tham gia và ảnh hưởng BHXH, trực tiếp thực hiện
nghiệp vụ và tổ chức việc chi trả các chế độ BHXH cho đối tượng, thực hiện
mục tiêu cao cả của BHXH. Vì vậy, công chức làm nghiệp vụ đóng vai trò hết
sức quan trọng trong hệ thống BHXH Việt nam từ Trung ương xuống địa
phương.
Công chức nghiệp vụ BHXH được xếp ở ngạch hành chính ( chuyên viên,
cán sự, nhân viên) hoặc ngạch kế toán (kế toán viên, kế toán trung cấp, kế toán
sơ cấp) là những người tinh thông nghề nghiệp được giao đảm nhiệm một lĩnh
vực như: thu BHXH, chi BHXH, tiếp nhận hồ sơ hưởng BHXH và theo dõi tăng,
giảm đối tượng; thực hiện chế độ, chính sách; kiểm tra việc thực hiện, quản lý
đại diện chi trả ở xã, phường Tùy theo khối lượng công việc và địa bàn dân cư
có thể một công chức đảm trách một lĩnh vực hoặc nhiều lĩnh vực. Ví dụ ở
những quận, huyện quy mô nhỏ, ít đối tượng tham gia BHXH, một công chức
vừa có thể phụ trách công tác chi trả BHXH và theo dõi tăng, giảm đối tượng
tham gia BHXH. Ngược lại, có thể nhiều công chức đảm trách một lĩnh vực. Ví
dụ như ở những quận, huyện có đối tượng tham gia BHXH lớn, công tác thu có
thể do hai hoặc ba bên đảm trách và công tác chi trả cũng có thể do ba hoặc bốn
người đảm trách.
Hoạt động cơ bản của công chức nghiệp vụ là tác nghiệp cụ thể về chuyên
môn dưới sự chỉ huy của Trưởng phòng nghiệp vụ chức năng (ở BHXH Thành
phố) hoặc của Giám đốc BHXH quận, huyện (ở BHXH quận, huyện). Đó là
công việc khai thác, theo dõi, đôn đốc các đơn vị sử dụng lao động và đối tượng
tham gia BHXH, trực tiếp thu BHXH, trực tiếp chi trả về các chế độ BHXH,
quản lý kinh phí tiền mặt Do tính chất hoạt động vừa như là đơn vị hành chính
sự nghiệp, vừa như là đơn vị dịch vụ công (mang tính đặc thù), thực hiện chế độ,
chính sách BHXH, thu - chi tài chính BHXH nên hoạt động của cán bộ - công
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
BHXH tỉnh
Giám đốc
Phó giám đốc Phó giám đốc
Các Phòng chức năng
BHXH huyện
Giám đốc
Phó giám đốc
Các bộ phận chức năng
Khóa luận tốt nghiệp Vũ Minh Phương
a. Tổ chức bộ máy cấp Trung ương.
Cấp Trung ương có cơ quan BHXH Việt nam. Cơ quan quản lý cao nhất
là Hội đồng quản lý BHXH Việt nam gồm: Chủ tịch hội đồng quản lý, Phó chủ
tịch hội đồng quản lý và các thành viên (gồm đại diện các Bộ, Ngành liên quan
như Bộ lao động thương binh và xã hội, Bộ tài chính, Tổng liên đoàn lao động
Việt nam và Tổng giám đốc BHXH Việt nam). Cơ cấu của Hội đồng quản lý do
Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Trưởng ban Tổ
chức cán bộ Chính phủ (nay là Bộ nội vụ).
Tổng giám đốc BHXH Việt nam chịu trách nhiệm trước Thủ tướng chính
phủ về việc điều hành và quản lý toàn bộ hoạt động của hệ thống. Giúp việc
Tổng giám đốc có các Phó tổng giám đốc. Bộ máy BHXH cấp Trung ương được
chia làm 18 Ban:
- Ban thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội
- Ban thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế
- Ban thu BHXH
- Ban chi BHXH
- Ban cấp sổ, thẻ
- Ban tuyên truyền
- Ban hợp tác quốc tế
- Ban thi đua khen thưởng
- Ban kế hoạch tài chính
theo 2 mô hình
+ Tỉnh có mức thu chi lớn: 11 phòng chức năng. Mô hình này được áp
dụng đối với Hà nội và Thành phố Hồ Chí Minh là hai thành phố lớn nhất của
đất nước, có dân số đông đúc và số đối tượng tham gia BHXH lớn.
+ Tỉnh có mức thu chi trung bình: 08 phòng chức năng gồm: Phòng chế
độ - chính sách; Phòng thu; Phòng kế hoạch - tài chính; Phòng tổ chức - hành
chính; Phòng bảo hiểm y tế tự nguyện; Phòng kiểm tra; Phòng công nghệ thông
tin; Phòng giám định chi.
1.2.2.3.Tổ chức bộ máy cấp quận, huyện
Đứng đầu BHXH quận, huyện là Giám đốc BHXH quận, huyện. Tuy
nhiên, BHXH quận, huyện có thể có Phó giám đốc hoặc là không. Ngoài ra, nó
còn có các bộ phận chức năng và không có tổ chức phòng, ban.
Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân - K37 QTKD - Học viện đào tạo CBXD
25