Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
I. Khái quát về hợp đồng mua bán hàng hóa
Trong một vài năm trở lại đây, Nhà nước đã thực hiện đường lối đổi mới
cơ chế kinh tế với sự thừa nhận đã hình thức sở hữu, đa hình thức kinh doanh.
Quá trình đổi mới kinh tế ở nước ta hiện nay đã đạt được những thành tựu nổi
bật. Nhưng quá trình đó càng đi vào chiều sâu và bề rộng thì càng bộc lộ rõ
những vấn đề mới cần giải quyết. Tự do, năng động, sáng tạo, nhạy bén là thuộc
tính khách quan và là yêu cầu của nền kinh tế thị trường, nhưng gắn liền với nó
là nguy cơ tự do về Chính phủ, gian lận kinh doanh, thương mại… Hơn nữa,
trong giai đoạn này nước ta đã thực sự hội nhập vào nền kinh tế quốc tế( gia
nhập WTO) thì càng cần thiết đòi hỏi Nhà nước phải có một khung pháp lý
Thương mại hoàn chỉnh để điều chỉnh các hoạt động đó đúng chủ trương, đường
lối, chính sách của Đảng, Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước.
Đứng trước yêu cầu đó, ngày 14- 11- 2005 Quốc hội đã ban hành Luật
Thương mại số 36/ 2005- QH 11 quy định về hoạt động thương mại( chính thức
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006, thay thế luật thương mại- 1997)
nhằm tạo thành một hành lang pháp lý hoàn chỉnh cho các thương nhân trong
hoạt động thương mại.
Cũng giống như Luật thương mại 1997, Luật thương mại 2005 cũng quy
định khá đầy đủ và chi tiết về mua bán hàng hoá, hợp đồng mua bán hàng hoá.
Tuy nhiên để hoạt động thương mại nói chung và hoạt động mua bán hàng hoá
nói riêng đi vào chiều sâu, đòi hỏi mỗi thành phần kinh tế, mỗi cá nhân cần phải
tìm hiểu, tiếp cận và nhận thức đúng đắn các hoạt động thương mại theo đúng
luật, nhằm hạn chế những tổn hại kinh tế không đáng có, để các quy định của
luật thương mại thực sự có ích trong cuộc sống, tạo thuận lợi cho mọi chủ thể
của hoạt động thương mại.
1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại hợp đồng mua bán hàng hoá
1.1. Khái niệm, đặc điểm
2


Hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước.
4
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế.
Đối với hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước thì đương nhiên sẽ chịu
sự điều chỉnh của pháp luật Việt Nam, cụ thể là luật Thương mại 2005 và các
luật chuyên ngành khác. Còn đối với hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế thì các
bên có thể thoả thuận áp dụng, có thể là luật của Việt Nam hay luật của phía đối
tác hay cũng có thể là luật của một nước thứ ba..

Căn cứ vào cách thức thực hiện hợp đồng có thể chia ra hai loại:

Hợp đồng mua bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá.

Hợp đồng mua bán hàng hoá không qua sở giao dịch hàng
hoá.
Cần lưu ý đối với loại hợp đồng mua bán qua cơ sở giao dịch hàng hoá
rằng: thứ nhất hàng hoá giao dịch tại cơ sở giao dịch phải thuộc danh mục hàng
hoá giao dịch tại sở giao dịch hàng hoá do bộ trưởng bộ thương mại quyết định.
Thứ hai, theo điều 69 của luật thương mại năm 2005, thương nhân môi giới qua
sở giao dịch về hàng hoá chỉ được phép hoạt động tại sở giao dịch hàng hoá khi
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật; thương nhân mua bán qua
sở giao dịch hàng hoá chỉ được phép thực hiện các hoạt động mua giới mua bán
qua sở giao dịch hàng hoá và không được phép là một bên của hợp đồng mua
bán hàng hoá qua sở giao dịch hàng hoá. Thứ ba, điều 70 của luật thương mại,
năm 2005, các hành vi bị cấm đối với thương nhân môi giới hàng hoá qua sở

các bên có thể thoả thuận về những nội dung sau đây:
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Đối tượng của hợp đồng
Trong mua bán hàng hoá, đối tượng của hợp đồng là một hàng hoá nhất
định đây là điều khoán cơ bản của một hợp đồng mua bán hàng hoá, mà khi
thiếu nó hợp đồng mua bán hàng hoá không thể hình thành được do người ta
không thể hình dung được các bên tham gia hợp đồng nhằm mục đích gì, trao
đổi cái gì. đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá được xác định thông qua
tên gọi của hàng hoá. Trong hợp đồng mua bán hàng hoá các bên có thể gi rõ
tên hàng bằng tên thông thường tên thương mại… để tránh có sự hiểu sai lệch về
đối tượng hợp đồng.

Số lượng hàng hoá
Điều khoản về số lượng hàng hoá xác định về mặt lượng đối với đối
tượng của hợp đồng. Các bên có thể thoả thuận và gi trong hợp đồng về một số
lượng hàng hoá cụ thể hoặc số lượng được xác định bằng đơn vị đo lường theo
tập quán thương mại như chiếc, bộ, tá, mét, mét vuông, mét khối hay bằng một
đơn vị nào khác tuỳ theo tính chất của hàng hoá.
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Chất lượng hàng hoá
Chất lượng hàng hoá giúp xác định chính xác đối tượng của hợp đồng, cái
mà người mua biết tường tận với những yêu cầu được tính năng, tác dụng, quy
cách, kích thức, công suất, hiệu quả… xác định cụ thể chất lượng của sản phẩm
thường cũng là cơ sở để xác định giá cả một cách tốt nhất. Trách nhiệm của các
bên thường khác nhau tương ứng với mỗi phươn pháp xác định chất lượng được
thoả thuận. Thông thường có các biện pháp xác định chất lượng như dựa vào

địa điểm đã thoả thuận trong hợp đồng. Bên mua có nghĩa vụ và nhận hàng đúng
thời gian và địa điểm và trả tiền cho bên bán. Các bên có thể thoả thuận với
nhau sao cho hợp lýy căn cứ vào tình hình thực tiễn, khả năng thực hiện của mỗi
bên. Địa điểm giao hàng có thể do hai bên thoả thuận, phù hợp với điều kiện
thực tế, thuận tiện và có lợi cho cả hai bên. Khi thoả thuận cần thoả thuận cụ thể
địa chỉ giao hàng, đảm bảo nguyên tắc phù hợp với khả năng đi lại của phương
tiện vận chuyển, đảm bảo an toàn cho phương tiện.
Trong mua bán hàng hoá, việc giao nhận hàng hoá có thể được thực hiện
trực tiếp đối với người mua hoặc thông qua người thứ ba. Vì vậy các bên phải
thoả thuận rõ thời hạn và địa điểm, từ đó xác định quyền và nghĩa vụ mỗi bên
cũng như xác định rủi ro mà mỗi bên phải gánh chịu.
II. Chế độ giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
1. Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hoá là thương nhân của và các tổ
chức, cá nhân không phải là tư nhân.
1.1. Chủ thể là thương nhân
Để xác định một thoả thuận có phải là hợp đồng mua bán hàng hoá hay
không thì việc trước tiên là phải xác định một bên trong quan hệ hợp đồng đó có
phải là tư nhân hay không, sau đó mới xét đến đối tượng của hợp đồng. Thường
nhân bao gồm tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
thương mại một cách thường xuyên, độc lập và có đăng ký kinh doanh.
Luật thương mại 2005 cũng thừa nhận thương nhận thực tế bằng việc
không đặt điều kiện đăng ký kinh doanh là một trong những điều kiện bắt buộc
để được công nhận nhưng đối với trường hợp chưa đăng ký kinh doanh, thương
nhân vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi hoạt động của mình. Quy định này đã
được giải quyết những vấn đề đặt ra trong thực tế là người không đăng ký kinh
12
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Doanh nghiệp tư nhân.

Công ty hợp doanh.
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong lĩnh vực hoạt động thương mại do thương nhân phải chịu trách
nhiệm đầy đủ về hành vi thương mại của mình, vì vậy những người sau dây sẽ
không được công nhân là tư nhân:

Người không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, người mất
năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người đang phải
chấp nhận hình phạt tù.

Người đang trong thời gian bị toà án tước quyền nghề vì các
tội buôn lạu, đầu cơ, buôn bán hàng cấm, làm hàng giả, buôn bán hàng hoá, kinh
doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng. và các tội khác theo quy định của
pháp luật.

Thương nhân là tổ chức.
Trong thực tiễn hoạt động thương mại, thương nhân là tổ chức, là chủ yếu
của hợp đồng mua bán hàng hoá. Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp
nhằm mục đích hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có
đăng ký kinh doanh sẽ được coi là thương nhân. có thể hiểu tổ chức kinh tế
15
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trước hết phải là một tổ chức có tư cách pháp nhân trong quá trình hoạt động
thương mại và hoạt động một cách độc lập. Một tổ chức được công nhân là pháp
nhân khi có đủ các điều kiện sau đây (Điều 84 Bộ luật Dân sự):

Theo quy định của Luật Thương mại 2005 hộ gia đình và tổ hợp tác
không được xếp là tổ chức hay cá nhân.
1.2. Chủ thể không phải là thương nhân
Nếu căn cứ vào mục đích sinh lợi, thì trong rất nhiều trường hợp tổ chức,
cá nhân không phải là thương nhân cũng được coi là chủ thể của hợp đồng với
thương nhân. Nghĩa là một bên của hợp đồng là cá nhân, tổ chức hoạt động
thương mại độc lập và thường xuyên, còn bên kia là chủ thể không cần điều
kiện nói trên khác với bên là thương nhân, bên không phải là thương nhân có
thể là mọi chủ thể có đủ năng lực vì hành vi để tham gia giao kết và thực hiện
hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật. Đó có thể là cá nhân,
cơ quan, tổ chức có tư cách pháp nhân hoặc không có tư cách pháp nhân, cũng
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
có thể là hộ gia đình, tổ hợp và không hoạt động thương mại độc lập và thường
xuyên như một nghề.
2. Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá
Đối tượng của hợp đồng mua bán hàng hoá là hàng hoá. Hàng hoá la
những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra nhằm mục đích trao đổi
để thoả mãn nhu cầu của con người. Hàng hoá có thể là vật, là sức lao động của
con người, là các quyền tài sản. Khoản 2 điều 3 luật thương mại 2005 đã mở
rộng hàng hoá hơn. Theo đó hàng hoá bao gồm tất cả các động sản, kể cả động
sản hình thành trong tương lai, và các vật gắn liền với đất đai. Tuy nhiên, khái
niệm về hàng hoá vẫn còn sự hạn chế, chúng ta dễ dàng nhận thấy trong quy
định này hàng hoá chỉ bao gồm các loại tài sản hữu hình. Như vậy các loại tài
sản vô hình khác như quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ… chưa được thừa
nhận là hàng hoá.
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Như vậy, chúng ta có thể hiểu hàng hoá trong hợp đồng mua bán hàng
hoá bao gồm tất cả các động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai. Và

tế quy định mà Việt Nam tham gia ký kết và các loại động vật, quý hiếm khác
cần được bảo vệ;

Một số đồ chơi trẻ em có hại tới giáo dục nhân cách, sức
khoẻ của trẻ em hoặc tới an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

Một số loại hoá chất, phụ gia, chế phẩm sinh học, chất xử lý
môi trường, chất tẩy rửa khử trùng sử dụng cho sản xuất giống, nuôi trồng, bảo
quản, chế biến thuỷ sản và dịch vụ thuỷ sản không được phép sử dụng tại Việt
Nam.

Những hàng hoá, dịch vụ thương mại hạn chế kinh doanh gồm:

Hàng hoá có chứa chất phóng xạ, và thiết bị phát bức xạ inon
hoá;

Vật liệu nổ công nghiệp, vật liệu nổ dùng cho quốc phòng, an
ninh;
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Thuốc bảo vệ thực vật thuộc danh mục hạn chế sử dụng tại
Việt Nam;

Thuốc lá điếu sản xuất trong nước;

Rượu các loại từ trên 30 độ cần trở lên.

Những hàng hoá, dịch vụ thương mại kinh doanh có điều kiện gồm:


quan hệ hợp đồng thương mại quốc tế có thẻ nói hình thức của hợp đồng mua
bán nói trên( trong luật thương mại 2005) là phù hợp với công ước viên 1980
bởi Điều 11 công ước viên 1980 quy định "không yêu cầu hợp đồng mua bán
phải được ký hoặc phải được xác nhận bằng văn bản hoặc phải tuân thủ mọi yêu
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cầu nào đó về mặt hình thức. Có thể dùng bất kỳ phương tiện nào, kể cả lời khai
nhân chứng để chứng minh sự tồn tại của hợp đồng đó". Như vậy luật thương
mại 2005 đã vượt ra và khắc phục được hạn chế về hình thức hợp đồng do các
văn bản pháp luật trước đó quy định về vấn đề này, ví dụ như pháp luật Hợp
đồng kinh tế.
Hợp đồng mua bán hàng hoá là sự thoả thuận giữa các bên với nhau, cho
nên về mặt nguyên tắc nó không cần đến hình thức tồn tại nhất định. Nhưng
dưới góc độ pháp lý việc tuân thủ hình thức của hợp đồng sẽ là bắt buộc một khi
pháp luật có sự ghi nhận về vấn đề đó với mục đích hạn chế các rủi ro cho các
bên tham gia vào quan hệ hợp đồng.
4. Thủ tục giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá
4.1. Đề nghị giao kết hợp đồng
Trong hợp đồng mua bán hàng hoá, đề nghị giao kết hợp đồng chính là
chào hàng. Chào hàng là một quy định được thừa nhận trong các thông lệ quốc
23
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tế mua bán hàng hoá theo Điều 14 Công ước Viên 1980, chào hàng là "Đề nghị
về việc ký kết hợp đồng được gửi đích danh cho một hoặc một vài người được
gọi là đơn chào hàng, nếu đề nghị đó đã rõ ràng và thể hiện ý định đặt quan hệ
trong trường hợp được sự chấp nhận của người chào hàng".
Đề nghị giao kết hợp đồng là việc thể hiện rõ ý định giao kết hợp đồng và
chiụ sự ràng buộc về đề nghị này của bên đề nghị đối với bên đã được xác định
cụ thể ( khoản 1 - Điều 390 Bộ luật Dân sự). Như vậy đơn chào hàng về bản
chất là một đề nghị giao kết hợp đồng, là việc một bên bày tỏ ý chí của mình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status