Tiểu Luận: Ảnh Hưởng Của Lạm Phát Đối Với Thuế Thu Nhập Cá Nhân - Pdf 26

Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 1

TIỂU LUẬN THUẾ

ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐỐI VỚI THUẾ
THU NHẬP CÁ NHÂN

GVHD : PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng
SVTH : Lương Trung Quý
Lớp : Ngân hàng Đêm 6 – K20
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 2
SVTH: Lương Trung Quý 3
(thường là một năm).
b. Thuế thu nhập cá nhân
Thuế TNCN phát sinh, tồn tại và phát triển cùng với sự ra đời, tồn tại và phát triển của Nhà
nước. Thuế xuất hiện khi trong xã hội xuất hiện sản phẩm thặng dư cùng với sự phân chia giai
cấp, Thuế được giai cấp thống trị dùng như một công cụ để tạo ra nguồn thu chủ yếu cho mọi nhu
cầu chi tiêu của bộ máy nhà nước nói chung hay của giai cấp thống trị nói riêng.
Trên cơ sở những khái niệm về Thuế, chúng ta có thể rút ra khái niệm về thuế TNCN theo
pháp luật hiện hành như sau: “Thuế thu TNCN là loại thuế chủ yếu đánh vào thu nhập của cá
nhân nhằm thực hiện công bằng xã hội, động viên một phần thu nhập của cá nhân vào ngân sách
nhà nước và có thể được sử dụng để điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua việc khuyến khích làm
việc hay nghỉ ngơi, thông qua việc thu hay không thu thuế đối với các khoảng thu nhập từ kinh
doanh, đầu tư,…. Thuế này được coi là loại thuế đặc biệt vì có lưu ý đến hoàn cảnh của các cá
nhân có thu nhập phải nộp thuế thông qua việc xác định miễn, giảm thuế hoặc khoản miễn trừ đặc
biệt.
1.2. Đặc điểm thuế thu nhập cá nhân
- Thuế TNCN là thuế trực thu, đánh vào thu nhập chính đáng của từng cá nhân. Do là thuế
trực thu nên nó phản ánh sự đồng nhất giữa đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng chịu
thuế theo ý nghĩa kinh tế. Người nộp thuế cũng là người chịu thuế, người chịu thuế TNCN
không có khả năng chuyển giao gánh nặng thuế sang cho các đối tượng khác tại thời điểm
đánh thuế.
- Thuế TNCN có diện đánh thuế rất rộng, thể hiện trên hai khía cạnh:
 Thứ nhất, đối tượng đánh thuế TNCN là toàn bộ các khoản thu nhập của cá nhân thuộc
diện đánh thuế, không phân biệt thu nhập đó có nguồn gốc phát sinh trong nước hay ở
nước ngoài.
 Thứ hai, đối tượng phải kê khai nộp thuế TNCN là toàn bộ những người có thu nhập
từ hoạt động kinh doanh, bao gồm tất cả công dân của nước sở tại và những người
nước ngoài cư trú thường xuyên hay không thường xuyên nhưng có số ngày có mặt,
làm việc, có thu nhập theo mức độ quy định của pháp luật thuế TNCN.
- Thuế TNCN là một hình thức động viên mang tính bắt buộc trên nguyên tắc theo luật

* Tạo lập nguồn tài chính cho ngân sách nhà nước
Thuế TNCN là một trong những bộ phận quan trọng cấu thành thuế nói chung nên cũng góp
một phần quan trọng để tạo nguồn tài chính cho nhà nước. Thuế TNCN được tính với diện rộng,
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 5
khả năng tạo nguồn thu cho ngân sách rất lớn. Bên cạnh đó, thuế TNCN tác động trực tiếp vào
thu nhập của dân cư mà người dân của bất kỳ quốc gia nào cũng đều mong muốn và cố gắng có
thu nhập ngày càng cao để nâng cao đời sống vật chất tinh thần. Thuế TNCN luôn có sự gia tăng
nhanh chóng cùng với sự tăng lên của thu nhập bình quân đầu người.
* Góp phần thực hiện công bằng xã hội
Trong mỗi quốc gia, thu nhập của mỗi cá nhân phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố như khả
năng và trình độ lao động, vị trí công tác, quyền sở hữu về tài sản của cá nhân đó. Tuy nhiên, các
yếu tố nói trên của mỗi cá nhân thường không giống nhau nên đã tạo ra sự khác nhau về thu nhập
của mỗi người. Chính sự khác nhau ấy là nguồn gốc tạo ra sự phân cực giàu nghèo, là sự bất bình
đẳng trong xã hội. Để giải quyết vấn đề này, các nước đã dùng nhiều hình thức và biện pháp khác
nhau trong đó thuế TNCN được xem như một công cụ hữu hiệu để điều tiết bớt thu nhập của
những người có thu nhập cao, đảm bảo công bằng xã hội.

Hình: Ảnh hưởng của thuế đến sự công bằng trong phân phối thu nhập
Để thấy rõ vai trò của thuế TNCN , có thể sử dụng đường cong Lorenz sau đây. Trên đồ thị,
đường cong Loenz càng gần đường phân giác thì càng phản ánh sự phân phối công bằng. Điều đó
được trợ giúp bởi thuế lũy tiến thông qua thực hiện thuế TNCN để đảm bảo rút ngắn khoảng cách
phân hóa giàu nghèo xã hội.
* Điều tiết thu nhập, tiêu dùng và tiết kiệm
Thuế TNCN là một công cụ rất cần thiết để thực hiện việc kiểm soát thu nhập của các tầng
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng


đoạt tài sản của nhà nước và công dân Những hành vi này ảnh hưởng rất xấu đến đời sống kinh
tế – xã hội của mỗi quốc gia. Phải kết hợp hữu hiệu nhiều biện pháp để ngăn chặn và chống lại
những hành vi trên, một trong số các biện pháp ngăn chặn đó thì phải kể đến vai trò của thuế
TNCN.

1.3.2 Đối với hệ thống thuế
* Góp phần khắc phục nhược điểm của một số loại thuế khác
Một số thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt đều có nhược điểm là có
tính luỹ thoái và ảnh hưởng đến người nghèo nhiều hơn người giàu vì khi tiêu thụ cùng một
lượng hàng hoá mọi người không phân biệt giàu nghèo và đều phải chịu thuế như nhau. Nếu tính
thuế TNCN theo phương pháp luỹ tiến từng phần sẽ góp phần khắc phục được nhược điểm này
* Góp phần hạn chế sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp
Trong doanh nghiệp thường tồn tại cả thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế TNCN Giữa hai
loại thuế này luôn luôn tồn tại mối quan hệ gắn bó với nhau. Thuế TNCN còn góp phần khắc
phục sự thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp khi có sự thông đồng giữa các doanh nghiệp hay
giữa doanh nghiệp với cá nhân. Trong trường hợp doanh nghiệp kê khai cao hơn thực tế những
chi phí phải trả cho các cá nhân để làm giảm thu nhập tính thuế của doanh nghiệp hòng trốn thuế
thu nhập doanh nghiệp thì các cá nhân nhận được những khoản trả nói trên sẽ phải nộp thêm thuế
TNCN đối với phần thu nhập nhận được kê khai tăng thêm đó. Thu nhập của doanh nghiệp tăng
thường kéo theo sự tăng lên của thuế TNCN và thuế thu nhập doanh nghiệp.
* Góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách thuế
Xây dựng và phát triển, hoàn thiện chính sách thuế TNCN là góp phần hoàn thiện hệ thống
chính sách thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập với kinh tế thế giới. Việc ban
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 8
hành Luật thuế TNCN là bước thể chế hoá đường lối chính sách của Đảng về lĩnh vực tài chính
tiền tệ đồng thời là bước đi phù hợp lộ trình cải cách thuế theo mục tiêu chiến lược Chính phủ đã
hoạch định. 2. Lạm phát:
2.1 Khái niệm:
Lạm phát được định nghĩa là sự gia tăng liên tục trong mức giá chung. Điều này
không nhất thiết có nghĩa giá cả của mọi hàng hóa và dịch vụ đồng thời phải tăng lên theo
cùng một tỷ lệ, mà chỉ cần mức giá trung bình tăng lên. Lạm phát vẫn có thể xảy ra khi giá
của một số hàng hóa giảm, nhưng giá cả của các hàng hóa và dịch vụ khác tăng đủ mạnh.
Lạm phát cũng có thể được định nghĩa là sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Trong
bối cảnh lạm phát, một đơn vị tiền tệ mua được ngày càng ít đơn vị hàng hóa và dịch vụ
hơn. Hay nói một cách khác, trong bối cảnh lạm phát, chúng ta sẽ phải chi ngày càng nhiều
tiền hơn để mua một giỏ hàng hóa và dịch vụ nhất định.
Nếu thu nhập bằng tiền không tăng kịp tốc độ trượt giá, thì thu nhập thực tế, tức là
sức mua của thu nhập bằng tiền sẽ giảm. Do vậy, thu nhập thực tế tăng lên hay giảm xuống
trong thời kỳ lạm phát phụ thuộc vào điều gì xảy ra với thu nhập bằng tiền, tức là, phải
chăng các cá nhân có nhận thêm lượng tiền đã giảm giá trị đủ để bù đắp cho sự gia tăng của
mức giá hay không. Người dân vẫn có thể trở nên khá giá hơn khi thu nhập bằng tiền tăng
nhanh hơn tốc độ tăng giá.
Lạm phát không chỉ đơn thuần là sự gia tăng của mức giá mà đó phải là sự gia tăng
liên tục trong mức giá. Nếu như chỉ có một cú sốc xuất hiện làm tăng mức giá, thì dường
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 10
như mức giá chỉ đột ngột bùng lên rồi lại giảm trở lại mức ban đầu ngay sau đó. Hiện tượng
tăng giá tạm thời như vậy không được gọi là lạm phát.
Trường hợp ngược lại của lạm phát là giảm phát, diễn ra khi mức giá chung liên tục
giảm. Khi đó, sức mua của đồng nội tệ liên tục tăng.

trung luận giải những yếu tố hình thành giá cả có liên quan trực tiếp đến:
- Quá trình hình thành và phát triển thị trường tiêu dùng (cầu hàng hóa, dịch vụ);
P
t



P
t
-
1P
t
-
1

π
e
=
===
=
x

100%

Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng


kinh doanh không hiệu quả, vì thế, không thể không tăng tiền công cho người lao động
trong ngành mình. Nhưng để đảm bảo mức lợi nhuận, ngành kinh doanh kém hiệu quả sẽ
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 12
tăng giá thành sản phẩm. Lạm phát nảy sinh vì điều đó.
2.3.6. Lạm phát do xuất khẩu:
Xuất khẩu tăng dẫn tới tổng cầu tăng cao hơn tổng cung, hoặc sản phẩm được huy
động cho xuất khẩu khiến lượng cung sản phẩm cho thị trường trong nước giảm khiến tổng
cung thấp hơn tổng cầu. Lạm phát nảy sinh do tổng cung và tổng cầu mất cân bằng.
2.3.7. Lạm phát do nhập khẩu:
Sản phẩm không tự sản xuất trong nước được mà phải nhập khẩu. Khi giá nhập khẩu
tăng (do nhà cung cấp nước ngoài tăng giá như trong trường hợp OPEC quyết định tăng giá
dầu, hay do đồng tiền trong nước xuống giá) thì giá bán sản phẩm đó trong nước cũng tăng.
Lạm phát hình thành khi mức giá chung bị giá nhập khẩu đội lên.
2.3.8. Lạm phát tiền tệ:
Cung tiền tăng (chẳng hạn do ngân hàng trung ương mua ngoại tệ vào để giữ cho
đồng tiền ngoại tệ khỏi mất giá so với trong nước; hay chẳng hạn do ngân hàng trung ương
mua công trái theo yêu cầu của nhà nước) khiến cho lượng tiền trong lưu thông tăng lên là
nguyên nhân gây ra lạm phát.
Lạm phát loại này nguyên nhân là do lượng tiền trong nền kinh tế quá nhiều, vượt
quá mức hấp thụ của nó, nghĩa là vượt quá khả năng cung ứng giá trị của nền kinh tế́. Có thể
do ngân hàng trung ương lưu thông lượng tiền quá lớn trong nền kinh tế bằng các nghiệp vụ
thị trường mở hay chính sách tiền tệ nới lỏng. Khi lượng tiền lưu thông quá lớn, ví dụ trong
tay bạn có nhiều hơn 100 triệu , thì sự tiêu dùng theo đó mà tăng rất lớn theo xã hội. Áp
lực cung hạn chế dẫn tới tăng giá trên thị trường, và do đó sức ép lạm phát tăng lên.
2.3.9. Lạm phát đẻ ra lạm phát:
Khi nhận thấy có lạm phát, cá nhân với dự tính duy lý đó là tâm lý dự trữ, giá tăng
lên người dân tự phán đoán, tự suy nghĩ là đồng tiền không ổn định thì giá cả sẽ tăng cao tạo

giá trị đồng tiền thì giảm xuống. Ngược lại, những người làm công ăn lương, những người
gửi tiền, những người cho vay là bị thiệt hại.
Để tránh thiệt hại, một số nhà kinh tế đưa ra cách thức giải quyết đơn giản là lãi suất
cần được điều chỉnh cho phù hợp với tỷ lệ lạm phát. Ví dụ, lãi suất thực là 3%, tỷ lệ tăng giá
là 9%, thì lãi suất danh nghĩa là 12%. Tuy nhiên, một sự điều chỉnh cho lãi suất phù hợp tỷ
lệ lạm phát chỉ có thể thực hiện được trong điều lạm phát ở mức độ thấp.
1.2 Tác động đến phát triển kinh tế và việc làm:
Trong điều kiện nền kinh tế chưa đạt đến mức toàn dụng, lạm phát vừa phải thúc đẩy
sự phát triển kinh tế vì nó có tác dụng làm tăng khối tiền tệ trong lưu thông, cung cấp thêm
vốn cho các đơn vị sản suất kinh doanh, kích thích sự tiêu dùng của chính phủ và nhân dân.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên thì
thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tăng lên. Nhà
kinh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc làm”, theo đó
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 14
một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp thấp hơn nếu sẵn sàng trả giá bằng một tỷ lệ
lạm phát cao hơn.
1.3 Tác động đến nguồn thu ngân sách nhà nước:
Lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào mòn giá trị thực của
những khoản công phí. Ngoài ra lạm phát cao kéo dài và không dự đoán trước được làm cho
nguồn thu ngân sách nhà nước bị giảm do sản xuất bị suy thoái. Tuy nhiên, lạm phát cũng
có tác động làm gia tăng số thuế nhà nước thu được trong những trường hợp nhất định. Nếu
hệ thống thuế tăng dần (thuế suất lũy tiến) thì tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ đẩy người ta nhanh
hơn sang nhóm phải đóng thuế cao hơn, và như vậy chính phủ có thể thu được nhiều thuế
hơn mà không phải thông qua luật.
1.4 Các tác động khác:
Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất
cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa có

của chỉ số giá. Các khoản khấu trừ chuẩn, miễn giảm cá nhân, và tín dụng cũng được xác
lập theo các số đo danh nghĩa và bị giảm giá trị trong trường hợp lạm phát nếu chúng không
được áp dụng hệ số theo những thay đổi của chỉ số giá. Một số hệ thống thuế thu nhập chỉ
số hóa những tiêu chí danh nghĩa này theo lạm phát, nhưng thực tế là các chính phủ thường
nuốt lời về những khoản điều chỉnh theo lạm phát. Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các
tiêu chí danh nghĩa này được điều chỉnh định kỳ, tạo cho chính phủ có một sự linh động hơn
về ngân sách và cơ hội để giành điểm chính trị của những người trả thuế bằng việc đề nghị
cắt giảm thuế trong khi đó chúng thực chất chỉ là bù đắp cho ảnh hưởng của lạm phát.
Ví dụ về tác động chuyển nhóm thu nhập
- Nhóm thu nhập 0 - 5.000.000đ chịu thuế suất 5%; nhóm thu nhập trên 5.000.000đ
chịu thuế suất 10%.
- Tỷ lệ lạm phát trong GĐ 2009-2011 là 50%
- Thu nhập danh nghĩa của một cá nhân năm 2009 là 5.000.000đ sẽ tăng lên
7.500.000đ vào năm 2011.
ĐVT: ngàn đồng
Năm 2009 2011
Thu nhập danh nghĩa 5.000 7.500
Thuế danh nghĩa 250 500
Thuế suất bình quân 5% 6.67%
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 16
Thuế theo giá thực 250 333.5  Cá nhân này rơi vào nhóm thu nhập cao hơn và phải chịu thuế suất 10%.
 Thuế suất trung bình tăng từ 5% năm 2009 lên 6,67% năm 2011 do chuyển nhóm thu
nhập chịu thuế, mặc dù xét về giá trị thực thì sức mua của người này là không thay
đổi. Hơn nữa, nghĩa vụ thuế theo giá trị thực đã tăng 83.500đ

mang lại một khoản lãi thực bằng 0. Tuy nhiên, nghĩa vụ thuế tính trên thu nhập từ vốn dựa
trên sự khác biệt giữa giá mua và giá bán danh nghĩa. Do đó, phải chịu một khoản thuế tính
trên 1 tỷ đồng lãi giả tạo. Tóm lại, vì phần tăng lênh của tiền lãi trên vốn (do lạm phát ) phải
chịu thuế nên gánh nặng thuế thực phụ thuộc vào tỷ lệ lạm phát.
- Chúng ta hãy xem xét lãi suất danh nghĩa là 16%. Giả sử thêm rằng mức lạm phát
dự đoán là 12%. Do đó đối với những ai cho vay ở mức lãi suất danh nghĩa là 16% thì lãi
suất thực chỉ là 4%, vì đó là tỷ lệ sức mua tăng lên thực sự của người cho vay. Tuy nhiên,
thuế lại được tính trên khoản tiền lãi danh nghĩa chứ không phải lãi thực. Tức là, thuế phải
được tính theo số tiền nhận được mà nó không đại diện cho một khoản thu nhập thực sự
nào. Lãi danh nghĩa chứ không phải lãi thực thường được đánh thuế khi nó được nhìn nhận
là nguồn thu nhập và được khấu trừ khi vay, điều này làm tăng lên trong gánh nặng về thuế
đối với người cho vay và làm giảm gánh nặng về thuế đối với người đi vay trong tình trạng
lạm phát làm tăng lãi suất danh nghĩa.
3. Tác động của thuế thu nhập cá nhân đến lạm phát:
- Trong môi trường nền kinh tế có lạm phát cao, những công cụ thường được các Chính
phủ sử dụng để kiềm chế lạm phát như chính sách tiền tệ thắt chặt, đẩy lãi suất tăng cao, cắt
giảm đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước… đều có những hạn chế nhất định như lãi suất
tăng cao để hạn chế tăng trưởng tín dụng khiến cho doanh nghiệp thiếu vốn trầm trọng, sản
xuất kinh doanh trì trệ; hay chính sách cắt giảm đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước cũng
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 18
ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế, do nhà nước là chủ đầu tư lớn nhất nên khi cắt giảm
đầu tư đã ảnh hưởng lớn tới hoạt động kinh doanh của nhiều doanh nghiệp, công ăn việc
làm của người dân… Chính vì thế, trong khi doanh nghiệp vẫn tiếp tục đương đầu với khó
khăn, chính sách tiền tệ và tài khóa chưa thể nới lỏng thì chính phủ cần thực hiện những
biện pháp hỗ trợ trực tiếp cho nhà đầu tư và doanh nghiệp để kích thích sản xuất và phát
triển. Một trong những biện pháp đó chính là việc miễn, giảm, hoãn các khoản thuế trực thu
phải đóng; cải cách các thủ tục để doanh nghiệp dễ dàng gia nhập thị trường, nới lỏng một

Chương 3: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
VÀ LẠM PHÁT Ở VIỆT NAM
3.1
. THỰC TRẠNG LUẬT THUẾ TNCN TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY.
Hiện nay, mức giảm trừ cá nhân 4 triệu đồng/người/tháng, mức giảm trừ gia cảnh 1,6
triệu đồng/người/tháng. Theo khảo sát 100 người tại thành phố Hà Nội, 82% phiếu hợp lệ
và 74% cho rằng mức giảm trừ cá nhân và giảm trừ gia cảnh này là thấp và quá thấp. Với
câu hỏi, nếu không phù hợp thì mức giảm trừ nên quy định là bao nhiêu? 35% người được
hỏi đánh dấu vào mức cao nhất là 6 triệu đồng/tháng, 33% ở mức 5,5 triệu đồng/tháng, 29%
ở mức 5 triệu đồng/tháng. Với kiến nghị mức giảm trừ người phụ thuộc, 52% đề nghị ở mức
cao nhất 3,5 triệu đồng/người/tháng, 33% ở mức 3 triệu đồng/người/tháng và 15% ở mức
2,5 triệu đồng/người/tháng.
Luật thuế TNCN đã bộc lộ những bất cập :
- Việc quy định mức giảm trừ một cách cứng nhắc, không tính đến yếu tố trượt giá
đã làm cho Luật nhanh chóng bị lạc hậu so với sự biến động của thực tiễn.
- Mức độ giãn cách về thu nhập giữa các bậc thuế trong biểu thuế lũy tiến từng phần
hiện nay là quá thấp: bậc 1 và bậc 2 là 5 triệu đồng/tháng, bậc 2 và bậc 3 là 8 triệu
đồng/tháng, với 3 mức thuế suất là 5%, 10% và 15%. Chỉ một khoảng thu nhập đến 18 triệu
đồng/tháng mà có tới 3 mức thuế suất như vậy sẽ làm cho mức điều tiết về thuế tăng nhanh,
trong khi đây là thu nhập của số đông những người làm công ăn lương trong các doanh
nghiệp, họ thuộc tầng lớp lao động có tri thức, nguồn nhân lực quyết định sự phát triển của
xã hội hiện đại.
Có 4 yếu tố để căn cứ tính mức giảm trừ gia cảnh. Đó là tốc độ tăng trưởng GDP,
biến động chỉ số giá tiêu dùng (CPI), đề án cải cách chính sách tiền lương giai đoạn 2013-
2020 và kết quả điều tra xã hội học của Tổng cục Thống kê về thu nhập và mức sống dân
cư. Trong các yếu tố đó, chỉ có đề án cải cách tiền lương là có tính chất cố định, các thông
tin khác đều là biến số khó lường, đặc biệt là CPI. Tính từ thời điểm xây dựng Luật Thuế
TNCN (năm 2007) đến hết năm 2011, CPI đã tăng tổng cộng xấp xỉ 70%. Giả sử đến năm
Ảnh hưởng của lạm phát đối với thuế TNCN
GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

GVHD: PGS-TS. Nguyễn Ngọc Hùng

SVTH: Lương Trung Quý 21
sống thực tế, chưa chắc đã phù hợp. Phương pháp tạo sự đồng thuận lớn nhất là nên để điều
chỉnh thuế theo mức lương tối thiểu. Vì hiện nay, tiền lương tối thiểu cũng sẽ phải điều
chỉnh để phù hợp biến động giá cả và cũng đều là "chạy" theo lạm phát.
Theo TS Nguyễn Minh Phong, Viện Nghiên cứu phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội,
việc tăng mức khởi điểm chịu thuế là cần thiết và tất yếu. Tuy nhiên, cách tốt nhất là tính
theo lương tối thiểu. Cách tính này đáp ứng được cả 2 nhu cầu: phù hợp với mức sống thực
tế của người dân và dễ áp dụng; hạn chế tình trạng lạm dụng, thiệt hại cho cả người nộp
thuế và Nhà nước. Nên quy định phần trăm hoặc số lần so với mức lương tối thiểu để sau
này cơ quan thuế chỉ cần nhân với mức lương tối thiểu và số lần quy định trong luật thì sẽ ra
được mức chịu thuế cho từng thời điểm. Đây cũng là một trong những phương án được
người dân, nhà khoa học ủng hộ.
Nhà nước nên quy định lại mức thuế suất cao nhất của biểu thuế lũy tiến từng phần là
25%, bằng với mức điều tiết của Luật thuế TNDN, bởi mức thu nhập chịu thuế này thường
là của các cá nhân kinh doanh. Như vậy sẽ đảm bảo bình đẳng hơn giữa hai sắc thuế trực
thu này.
Cần giãn khoảng cách giữa các bậc thuế. Khoảng cách giữa các bậc thuế là quá gần
nên tác dụng điều chỉnh thuế thu nhập cá nhân gần như không thay đổi đáng kể. Sau khi
giảm trừ gia cảnh, bậc 1 có mức thu nhập chịu 5 triệu đồng cho đến bậc 7 cao nhất là 80
triệu đồng chỉ cách nhau 16 lần. Trong khi đó, tại Trung Quốc, khoảng cách này là cách
nhau 53 lần, ở Philippines cách nhau 50 lần, ở Malaysia 40 lần và ở Thái Lan là 27 lần.
Cần giảm số bậc thuế. Biểu thuế quá nhiều bậc như hiện nay sẽ khiến Việt Nam bị
hạn chế trong cạnh tranh, thu hút nhân lực so với các nước trong khu vực, đồng thời tạo ra
sự bất bình đẳng giữa các nhóm người dân. Có thể kiến nghị bỏ bậc thuế suất 35% như hiện
nay.
Có thể mở rộng diện nộp thuế với mức thuế suất thấp hơn, bậc 1 có thể từ 2-3% để
huy động nguồn thu cho NSNN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status