Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển - Pdf 26

Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển
b.moái quan heä giöõa asean-vieät nam
1.TỔNG QUAN VỀ MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM-ASEAN:
1.1.Trước 1995:
Tháng 8-1967, ASEAN ra đời bao gồm 5 nước thành viên là: Indonesia, Malaysia,
Singapore, Thái Lan. Thực tế các nước Đông Nam Á tham gia ASEAN khi đó phải
đối mặt với tình huống khó khăn và phức tạp do chiến tranh xâm lược của Mỹ ở
Việt Nam và Đông Dương.
Nguyên bộ trưởng Thương mại, thượng nghị sĩ Thái Lan Narongchai Akrasanee
ghi nhận: “ Chính phủ các quốc gia thành viên thành lập hiệp hội này nhằm mục
đích chống cộng, họ tin tưởng tổ chức này có thể ngăn cản được làn sóng cộng sản”
Do vậy, có thể nói trong thời gian đầu, ASEAN là sản phẩm được tạo nên bởi một
số nước Đông Nam Á vào thời điểm nóng bỏng ở khu vực trong bối cảnh chiến
tranh trên Thế giới. Việt Nam là một nhân tố khách quan tác động đến (ngòai ý
muốn chủ quan của ta) việc thành lập tổ chức này và Việt Nam chính là đối tượng
chủ yếu được tính đến trong cách hành xử của ASEAN suốt một thời gian không
ngắn
Mối quan hệ Việt Nam-ASEAN trong thời kỳ 1967-1995 đã trải qua nhiều giai
đoạn, từ những năm tháng nghi kỵ và lạnh nhạt, có lúc rất căng thẳng đến khi cả hai
bên cùng kiếm tìm biện pháp hòa giải và từng bước tiến tới hòa nhập. Sự kiện Việt
Nam gia nhập ASEAN(tháng 7-1995) đã khép lại giai đoạn đầy khó khăn trong khu
vực mở ra những trang mới trong quan hệ hòa bình, hữu nghị và hợp tác ở Đông
Nam Á. Có thể tóm tắt sơ lược về mối quan hệ giữa Việt Nam-ASEAn từ năm
1967-1995 như sau:
• Sau khi đế quốc Mỹ rút khỏi Đông Nam Á bộc lộ mâu thuẫn giữa một số
quốc gia trong khu vực qua việc giải phóng Campuchia khỏi ách thống trị
của chế độ diệt chủng Khơme Đỏ và cuộc xung đột biên giới ở phía Bắc
nước ta. Thời kỳ căng thẳng đối đầu ở Đông Nam Á giữa lực lượng cách
mạng Đông Dương với các nước ASEAN được một vài nước lớn hậu thuẫn
diẫn ra hết sức gay gắt trong nửa đầu thập niên 1980.
• Trong khoảng thời gian từ nửa sau những năm 1980 và nửa đầu những năm

Aphganixtan (10/2001) và Irắc (3/2003) với lý do chống khủng bố, hay sự lan tràn
của căn bệnh chết người - viêm nhiễm đường hô hấp cấp (SARS) trên thế giới và ở
khu vực. Tất cả những biến động trên đã đặt ra những thách thức to lớn đối với các
45
Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển
nước ASEAN trong việc cạnh tranh thu hút đầu tư nước ngoài, trong khi tình hình
thế giới, khu vực và nội bộ một số quốc gia thành viên vẫn tiếp tục diễn biến phức
tạp.
Tuy nhiên, ASEAN đã chứng tỏ được sức sống của mình, vượt lên những khó
khăn và thách thức đó bằng việc tăng cường và làm sâu sắc hơn liên kết khu vực và
hợp tác ASEAN; đẩy mạnh việc mở rộng quan hệ với các đối tác bên ngoài; thu hẹp
khoảng cách, và giúp các nước thành viên mới phát triển…
Trải qua nhiều thăng trầm và vượt qua nhiều thách thức, ngày nay, bao gồm 10
quốc gia Đông Nam Á, ASEAN đã trở thành một tổ chức hợp tác khu vực toàn diện
cũng như là một thực thể chính trị-kinh tế gắn kết và năng động. Dù còn không ít
hạn chế song ASEAN hiện là đối tác không thể thiếu của các nước và tổ chức lớn
trên thế giới, đã và sẽ tiếp tục là nhân tố quan trọng đối với việc duy trì môi trường
hòa bình, an ninh và hợp tác vì sự phát triển ở Đông Nam Á; hỗ trợ đắc lực cho mục
tiêu an ninh và phát triển của từng nước thành viên cũng như cả Hiệp hội, trong đó
có Việt Nam.
Việt Nam gia nhập ASEAN là một sự kiện hết sức quan trọng, có ý nghĩa lịch sử
to lớn vì đã chính thức khép lại thời kỳ chia rẽ của khu vực Đông Nam Á, mở ra
thời kỳ mới, thời kỳ các quốc gia trong khu vực cùng chung sức với nhau xây dựng
một Đông Nam Á hoà bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng. Hơn mười năm qua,
Việt Nam đã tham gia tích cực vào mọi hoạt động hợp tác của ASEAN, đồng thời
chủ động đề ra nhiều sáng kiến nhằm thúc đẩy hợp tác khu vực phát triển. Việt Nam
đã có những nỗ lực to lớn trong việc duy trì sự đoàn kết và thống nhất trong
ASEAN, đảm bảo ASEAN đi đúng hướng, phù hợp tôn chỉ, mục đích của Hiệp hội
cũng như lợi ích của các quốc gia thành viên. Mối quan hệ tương trợ qua lại giữa
Việt Nam và ASEAN đang ngày càng trở nên gắn bó, đem lại nhiều lợi ích và thúc

Bên cạnh việc tham gia tích cực vào tất cả các lĩnh vực hợp tác chuyên ngành như
khoa học công nghệ, văn hóa thông tin, phòng chống tệ nạn xã hội ... Việt Nam còn
mạnh dạn đăng cai tổ chức các hội nghị về hợp tác được các nước trong khối đánh
giá cao như Tuần lễ khoa học và công nghệ ASEAN năm 1998; Tuần văn hóa
ASEAN năm 2004; Hội thi tay nghề ASEAN... Đối với quan hệ của ASEAN với
các đối tác bên ngoài, Việt Nam đã có nhiều đóng góp tích cực với vai trò là nước
điều phối quan hệ đối thoại giữa ASEAN với các nước lớn như Hoa Kỳ, Nga, Nhật
Bản... và tham gia tích cực tiến trình hợp tác ASEAN+3 với 3 nước Nhật Bản, Hàn
47
Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển
Quốc, Trung Quốc nhằm tiến một không gian hợp tác toàn Đông Á. Những diễn
đàn hợp tác liên khu vực như diễn đàn hợp tác Á-Âu (ASEM), Diễn đàn hợp tác
Châu Á – Thái Bình Dương (APEC)... luôn có sự đóng góp rất nhiệt tình của Việt
Nam với nhiều sáng kiến duy trì và phát triển các diễn đàn trên. Đặc biệt là Hội
nghị cấp cao Á-Âu lần thứ 5 tổ chức tại Hà Nội với việc kết nạp thêm 13 thành
viên vào diễn đàn được đánh giá như một dấu mốc lịch sử nâng cao uy tín của
ASEM cũng như của nước chủ nhà Việt Nam trong con mắt của bạn bè thế giới.
Như vậy, trong suốt thời gian tham gia Hiệp hội,cùng với các nước khác, Việt
Nam đã hoạt động nhiệt tình, đưa ra nhiều sáng kiến mới, hoàn thành tốt các nhiệm
vụ được giao nhằm khắc phục những mặt yếu kém, trì trệ, thúc đẩy hợp tác khu vực
phát triển.
1.2.2. Về kinh tế:
1.2.2.1.Quan hệ đầu tư:
Thủ tướng dự Phiên
họp cấp cao ASEAN
về kinh doanh và
đầu tư
Là những nước trong cùng một khu vực với những điều kiện địa lý, tự nhiên cho
sản xuất có nhiều điểm tương đồng, quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và các nước
còn lại trong khối vừa là quan hệ hợp tác, vừa là quan hệ cạnh tranh. Nhưng với

tăng, các dự án đang thực hiện cũng bị giãn tiến độ. Vào lúc đó chỉ còn Singapore
vẫn giữ được mức độ đầu tư, hầu hết các quốc gia còn lại đều giảm.
Giai đoạn từ cuối năm 2000 đến nay được coi là thời kỳ phục hồi dòng vốn FDI
từ ASEAN vào Việt Nam, cùng với đà phục hồi của các nền kinh tế thành viên
khu vực này.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tính đến hết
tháng 5/2007, khu vực ASEAN có 1.179 dự án đầu tư được cấp phép tại Việt
Nam, với tổng vốn trên 16 tỷ USD.
Trong số này, Singapore vẫn giữ vị trí dẫn đầu với 474 dự án và 9,07 tỷ USD
còn hiệu lực, đứng thứ hai trong tổng số 78 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào
Việt Nam. Quốc gia thuộc ASEAN đầu tư ở vị trí thứ 2 là Malaysia với 219 dự án
và 1,7 tỷ USD, đứng thứ 10. Quy mô vốn cho các dự án đầu tư của khu vực
ASEAN vào Việt Nam nhìn chung cao hơn mức trung bình của cả nước và cao
hơn nhiều so với một số quốc gia và vùng lãnh thổ khác có dự án tại Việt Nam.
Các dự án đầu tư của ASEAN vào Việt Nam cũng đã có sự thay đổi cơ cấu rõ rệt,
từ các lĩnh vực thương mại, khách sạn, dịch vụ chuyển mạnh sang lĩnh vực công
nghiệp và sản xuất. Trong tổng số 115 dự án và 1,2 tỷ USD vốn đầu tư của Malaixia
ở Việt Nam thì lĩnh vực công nghiệp chiếm khoảng 44% số dự án và 70% số vốn.
Tiếp theo Malaixia là Thái Lan với 112 dự án và 1,16 tỷ USD vốn đầu tư. Một số
khu công nghiệp và chế xuất mà các nước ASEAN tham gia đã hoạt động có hiệu
quả như: khu công nghiệp Việt Nam - Xingapo (Bình Dương), Khu công nghiệp
Việt Nam - Thái Lan (Amata), Khu chế xuất Việt Nam - Malaixia (Đà Nẵng), khu
công nghiệp Việt Nam - Malaixia (Nội Bài)... Có thể nói, đầu tư từ các nước
ASEAN đã và đang là một trong những nguồn lực quan trọng đóng góp vào phát
triển kinh tế Việt nam, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá
và hiện đại hoá, và đưa Việt Nam tiến kịp các nước trong khu vực.
1.2.2.2.Quan hệ thương mại:
49
Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển
Sau khi trở thành thành viên ASEAN, Việt Nam đã chính thức tham gia Khu vực

USD, bằng 61,6% tổng kim ngạch xuất khẩu 5 tháng và tăng 3,4 lần so cùng kỳ năm
2007.
Mặc dù còn những hạn chế, Vị thế của Việt Nam trong khu vực ASEAN đã nâng
lên rõ rệt. Trong 687 tỉ USD GDP của toàn khu vực năm 2003, Việt Nam đã đóng
góp trên 50 tỉ USD. GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2004 đã đạt trên
554 USD, cao gần gấp đôi mức 282 USD của năm 1995. Tốc độ tăng GDP của Việt
Nam thời kỳ 2001 - 2004 thuộc loại cao nhất khu vực và theo dự đoán của ADP, vị
trí đó vẫn còn tiếp tục trong những năm tới, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng
chung của ASEAN (năm 2005 là 5,4%, năm 2006 là 5,6%, năm 2007 là 5,9%...).
50
Việt Nam-ASEAN 13 năm hội nhập và phát triển
Xuất khẩu bình quân đầu người năm 2004 của Việt Nam đã đạt trên 320 USD, cao
hơn nhiều so với mức của năm 1995 và đã vượt qua mức của Indonesia. Tỷ lệ xuất
khẩu so với GDP đã đạt khoảng 60%, đứng thứ 4 khu vực sau Singapore, Malaysia,
Brunei, vượt qua Indonesia (đạt 29,3%), Philippines (đạt 45,1%), Thái Lan (đạt
56,1%)... Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam hiện đứng thứ 109 thế
giới, cao hơn vị trí 111 của Indonesia - là nước có GDP bình quân đầu người cao
hơn Việt Nam nhưng lại có tuổi thọ bình quân và các chỉ số giáo dục thấp hơn Việt
Nam.
Đóng góp của Việt Nam vào ASEAN không chỉ là sự đóng góp để nâng quy mô
diện tích, quy mô dân số, quy mô GDP, quy mô xuất khẩu; cũng không chỉ là sự
góp vào với khu vực về thị trường đầu tư, thị trường tiêu thụ; mà còn là một mô
hình khối gồm những nước có chế độ chính trị khác nhau chung sống trong một
ngôi nhà chung; còn là cầu nối giữa các nước còn lại của khu vực với Trung Quốc.
Hơn nữa, khi Việt Nam gia nhập WTO, với vị trí thuận lợi về địa lý, thì Việt Nam
còn là điểm đến của đầu tư, hàng hóa, khách du lịch - do dân số đông và có mức
sống đang lên - là địa bàn để đầu tư, sản xuất hàng xuất khẩu đi khắp gần 150 nước
thành viên WTO.
1.2.3.Về an ninh-chính trị:
Việt Nam luôn tích cực tăng cường đoàn kết và thống nhất ASEAN, kiên trì bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status