Trách nhiệm của sinh viên đại học sư phạm Hà Nội với cộng đồng lớp học, trường học, cộng đồng dân cư nơi cư trú - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Hiện nay việc nghiên cứu trách nhiệm của sinh viên trong cộng đồng, xã
hội, quốc tế nói chung là một trong những vấn đề được nhiều người quan tâm.
Bởi tính cộng đồng là một trong những giá trị cốt lõi của văn hóa truyền thống
Việt Nam. Biểu hiện của tính cộng đồng trong học tập đó là tinh thần đoàn kết
hợp tác lẫn nhau cùng học tập tốt trong quan hệ là sự quan tâm, tinh thần trách
nhiệm đối với mọi người, đối với tập thể trong sinh hoạt đó là tinh thần tương
ái, sự quan tâm giúp đỡ và chia sẻ những khó khăn thiếu thốn với bạn bè, sự
khăng khít nhiệt tình trong công việc tập thể, các hoạt động xã hội và tính cộng
đồng biểu hiện sâu sắc ở cộng đồng. Bởi vì cộng đồng là toàn thể những người
cùng sống, có những đặc điểm giống nhau, gắn bó với nhau thành một một khối
sinh hoạt xã hội. Con người ai ai cũng phải sống trong, học tập và làm việc trong
những cộng đồng nhất định, không ai có thể sống tách rời khỏi cộng đồng. Vì
vậy đòi hỏi mỗi thành viên trong xã hội phải sống và ứng xử đúng đắn với cộng
đồng.
Thực tế, sinh viên từ nhiều môi trường với nhiều hoàn cảnh, gồm nhiều
thành phần khác nhau, bước vào trường đại học một môi trường hoàn toàn mới
mẻ, vì thế trách nhiệm đối với cộng đồng còn nhiều hạn chế. Đặc biệt đối với
sinh viên trường đại học sư phạm Hà Nội là những thầy, cô giáo tương lai thì
trước tiên là những người công dân gương mẫu, tấm gương sáng cho học sinh
sau này. Sinh viên sư phạm là những người bằng nhân cách của mình góp phần
đào tạo thế hệ trẻ thành những lớp người kế tục sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Theo quan điểm của Mechel Develay : Nghề sư phạm được xác định trước
hết không phải xác định bằng hoạt động dạy mà bằng hoạt động học của người
học. Tức là giúp người học tìm ra những tình huống học làm chủ kỹ xảo tạo ra
cầu nối nhận thức. Xuất phát từ đặc điểm lao động của nghề giáo, đòi hỏi người
sinh viên sư phạm ngày nay trong những năm tháng học tập ở trường đại học
phải không ngừng phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thiện nhân cách người thầy
1
giáo tương lai. Mặt khác từ trước đến nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu khoa

3.2 Khách thể nghiên cứu
Đề tài này nghiên cứu sinh viên trường đại học sư phạm Hà
• Sinh viên năm thứ 1, năm thứ 2
- Sinh viên khoa toán: 120 sinh viên
- Sinh viên khoa văn: 120 sinh viên
- Sinh viên khoa giáo dục chính trị:120 sinh viên
• Sinh viên năm thứ 3, năm thứ 4
- Sinh viên khoa toán: 20 sinh viên
- Sinh viên khoa văn : 20 sinh viên
- Sinh viờn khoa giáo dục chính trị: 40 sinh viên
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp điều tra:
Đây là phương pháp cơ bản của đề tài để tìm hiểu thực trạng trách nhiệm
của sinh viên đại học sư phạm Hà Nội với cộng đồng lớp học, cộng đồng trường
học, cộng đồng dân cư nơi cư trú chúng tôi sử dụng phiếu điều tra bằng bảng hỏi
với một số mục đích cơ bản thể hiện trong phiếu là:
- Nhằm bộc lộ trách nhiệm của sinh viên sư phạm đối với cộng đồng lớp
học, cộng đồng trường học, cộng đồng dân cư nơi cư trú
- Một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng đó
4.2 Phương pháp trao đổi phỏng vấn
Với phương pháp này chúng tôi sử dụng nhằm làm phương tiện hỗ trợ cho
các phương pháp nêu trên, đồng thời nhằm thu thập một số thông tin cụ thể để
góp phần nhằm tăng độ tin cậy và sức thuyết phục của kết quả nghiên cứu của
phiếu điều tra
4.3 Phương pháp quan sát
Chúng tôi sử dụng phương pháp này nhằm quan sát trách nhiệm của sinh
viên đại học sư phạm Hà Nội với cộng đồng lớp học, cộng đồng trường học,
cộng động dân cư nơi cư trú thông qua hoạt động học tập cách cư xử, giao tiếp
của các sinh viên trong lớp, trong trường, trong cộng đồng dân cư nơi cư trứ
3

còn nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân xuất phát từ đặc điểm tõm lớ, nhận
thức, do điều kiện kinh tế xã hội.
7. Kết cấu của đề tài :
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo đề tài được
triển khai thành 3 chương :
Chương 1 : Cơ sở lý luận chung
Chương 2 : Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm sinh viên sư phạm
với cộng đồng lớp học, trường học, cộng đồng dân cư nơi cư trú.
Chương 3 : Giải pháp việc thực hiện trách nhiệm của sinh viên sư
phạm với cộng đồng lớp học, trường học, cộng đồng dân cư nơi cư trú
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CHUNG
1.1 Khái niệm cộng đồng và vai trò của cộng đồng
1.1.1 Khái niệm cộng đồng
a, Lịch sử vấn đề cộng đồng
Trong đời sống xã hội, khái niệm cộng đồng được sử dụng một cách
tương đối rộng rãi, để chỉ nhiều đối tượng có những đặc điểm tương đối khác
nhau về quy mô, đặc tính xã hội. Rộng nhất là nói đến những tập hợp người, các
liên minh rộng lớn như cộng đồng thế giới, cộng đồng Châu Âu, cộng đồng các
nước A rập, cộng đồng các nước ASEAN … nhỏ hơn, danh từ được áp dụng cho
một kiểu hạng xã hội căn cứ vào những đặc tính tương đồng về sắc tộc, chủng
tộc hay tụn giỏo… như cộng đồng các người Do Thái, cộng đồng người da đen
ở Chicagụ, cộng đồng người Thỏnh giỏo, nhỏ hơn nữa, danh từ cộng đồng được
sử dụng cho các đơn vị xã hộ cơ bản là gia đình làng xã, hay một nhóm xã hội
nào đó có những dặc tính xã hội chung về lý tưởng xã hội, lứa tuổi, giới, nghề
nghiệp, thân phận xã hội như các đảng phái, nhóm những người lai xe taxi,
nhóm người khiếm thị…
Khái niệm cộng đồng bao gồm các thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức chặt
chẽ cho đến các tổ chức xã hội ít có kết cấu chặt chẽ, là một nhóm xã hội cú lỳc

chất và các hoạt động khác của họ, sự gần gũi của họ về hệ tư tưởng, tín ngưỡng
hệ giá trị và chuẩn mực, nền sản xuất, sự tương đồng về điều kiện sống cũng như
các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động.
Cộng đồng xã hội được quan niệm là các khái niệm then chốt trong việc
xác định đối tượng xã hội học vỡ nó bao hàm phẩm chất quyết định của sự tự
vận động, phát triển của chỉnh thể xã hội. Nguồn gốc này là sự xung đột lợi ích
của các chủ thể xã hội, các giai cấp, các cơ cấu chủ thể xã hội khác. Ở mức độ
tương tự, nó cho phép giải thích cả trạng thái bền vững, ổn định của các hệ
thống, các tổ chức, các thiết chế xã hội, nếu như chúng phù hợp với lợi ích
chung. Là một thuật ngữ xã hội học, cộng đồng được hiểu như là một phân thể,
đơn vị, nhóm người trong hệ thống xã hội, ở đó, mọi người ý thức được những
đặc trưng và tình cảm chung về những gì mà mình đang có.
7
Là đối tượng chủ yếu của các phân tích xã hội học, các cộng đồng xã hội
bao gồm toàn bộ các trạng thái và các hình thức tồn tại có thể có của các cá nhân
dưới hình thức tồn tại của chúng, thể hiện được cái chất xã hội của con người,
theo Mác bản chất này là tổng hòa cỏc mối quan hệ xã hội. Các quan hệ này thể
hiện trong hệ thống các mối liên hệ xã hội, trong trao đổi hoạt động qua lại. Tất
cả các hình thức tự tổ chức mà chung ta đã biết của con người đều là các kiểu
cộng đồng, chỉ khác nhau ở phạm vi không gian, thơi gian và nội dung các lợi
ích liên kết chung. Đó là các hình thức tổ chức gia đình, cư dân, các cộng đồng
được xếp theo thứ hạng xã hội, theo nghề nghiệp tộc người, theo lãnh thổ quốc
gia và cuối cùng loài người nói chung.
Năm 1887, nghiên cứu chuyên biệt về cộng đồng đầu tiên đã được nhà xã
hội học Đức F. Tonnies thực hiện. Các luận điểm của ông được coi là lý luận
kinh điển trong lịch sử xã hội học. Trong quan điểm này khái niệm cộng đồng đã
được cụ thể hóa, thao tác hóa từ giác độ xã hội học. Ông chia các xã hội ra làm hai
loại: Một kiểu loại xã hội cộng đồng tớnh(Gemeinschaft) và loại xã hội thứ hai là
hiệp hội tính (Gasellsechaft).Thuật ngữ Gemeinschaft đựợc mọi người dịch như
nhau, còn chữ Gasellsechaft thì có người dịch là hiệp hội tính, có người dịch

tác xã hội của tập thể; (3) Có sự hiến dâng về tinh thần hoặc dấn thân đối với
những giá trị được tập thể coi là cao cả và có ý nghĩa; (4) Một ý thức đoàn kết
với những người trong tập thể. Dĩ nhiên trong thế giới ngày nay có những tập
thể cộng đồng có được những đặc tính trên, nhưng đó chỉ là những cộng đồng
hoàn chỉnh như làng chẳng hạn. Điểm khác biệt là những đặc tính đó không phải
những đặc điểm của tổng thể văn hóa như các nhà sử gia đã nhận định trước khi
có sự xuất hiện của cuộc cách mạng kỹ nghệ, hệ thống tư bản đại quy mô, qua
trình đại chúng hóa cùng với quá trình kế tục hóa. Cỏc nhà nhân chủng học, dân
tộc học muốn đi tìm những xã hội có mang những đặc tính của cộng đồng
thường quay về những khu vực được gọi là tiền hiện đại –theo quan niệm của họ
ở đó các cộng đồng có thể coi là hội đủ 4 đặc tính trên.
9
Cũng theo J.H.Fichter, để hiểu ý nghĩa xã hội của cộng đồng chúng ta sẽ
xét hiện tượng đó theo 3 lĩnh vực sau: đoàn kết xã hội, tương quan xã hội và cơ
cấu xã hội.
- Đoàn kết xã hội: Dưới nhan đề “giỏ trị của sự tụ họp với nhau” ông
coi đoàn kết xã hội là một đặc tính hàng đầu của mỗi cộng đồng được quan niệm
như một ý chí và tình cảm chung do quá trình cùng sinh sống trên một địa vực,
có những mối liên hệ về mặt huyết tộc hay quan hệ láng giềng… quá trình tổ
chức xã hội thông qua các thiết chế xã hội đã một lần nữa thống nhất tâm thức
cộng đồng qua một số giá trị chuẩn mực và biểu tượng riêng. Đây là mục tiêu
mong muốn của các tập thể xã hội có gắng để tập hợp và duy trì. Những nghiệp
đoàn lao động tạo sự đoàn kết giữa các công nhân, những giáo hội tôn giáo cố
phát triển tình thân hữu giữa các tín đồ; những tập thể chủng tộc da đen thường
nói tới “linh hồn anh em” như dấu hiệu của sự kết hợp. Nhiều danh từ khác nữa:
sự kết hợp xã hội, sự hòa hợp tinh thần đồng đội, sự đồng tình thỏa thuận … để
chỉ mong muốn liên kết và hợp nhất con người với nhau.
Ý nghĩa của sự tụ họp với nhau hay sự đoàn kết đã được các nhà xã hội
học ngày nay đem ra thảo luận rất nhiều. Họ cho rằng con người ta vì muốn tìm
cách giải trừ sự thất vọng, lo âu, bất an và cô độc nờn đó cố gắng đạt tới mục

biệt là các làng –một kiểu loại cộng đồng thuộc loại nhỏ nhất, dưới tác động của
quá trình đô thị hóa; công nghiệp hóa và hệ thống quan liêu hành chính, đang bị
xói mòn ở rất nhiều nơi trên thế giới. Một cộng đồng tồn tại được là do cỏc
nhúm thành viên của nó luôn luôn tìm được tiếng nói thống nhất trong những
hành động tập thể, khi không có tâm thức chung (psychocological sence of
community) cộng đồng đó bắt đầu lụi tàn. Quá trình công nghiệp hóa tăng nhanh
chóng ở các nước đang phát triển đã làm biến đổi các quan hệ xã hội trong cộng
đồng, chủ yếu là do cơ cấu nghề thay đổi, cũng như sự di động xã hội tăng lên
nhanh chóng cả về quy mô lẫn tần suất, điều này làm biến dạng tâm thức chung
của cộng đồng. Trong quá trình này, sự sụp đổ của hệ thống các quan hệ xã hội
theo kiểu cũ là không tránh khỏi.
- Các kiểu liên kết xã hội : Cộng đồng khi đựợc coi như một tiến trình xã
hội, là một hình thức tương quan giữa người vời người có tính cách kết hợp hay
11
một phản ứng có tính tương hỗ, theo đó, con người được gần nhau và phối hợp
chặt chẽ với nhau hơn. Đó không phải chỉ là một thái độ hay một lý tưởng về
đoàn kết được thực hành trong phạm vi thực hành các chuẩn mực và những
khuôn mẫu văn hóa trong đời sống hàng ngày. Ngược lại với tiến trình hòa hợp
cộng đồng là những xu hướng xung đột có tính chất li tỏn. Các cộng đồng nông
thôn ít xảy ra các xu hướng theo chiều hướng ly tâm. Tính cố kết chặt chẽ, sự di
động xã hội ít, độ đa dạng nghề nghiệp không lớn cộng thêm với sự góp phần
của các yếu tố tôn giáo- tín ngưỡng trong cộng đồng trờn các hoạt động có tính
chất thống nhất thường cao, hơn các hoạt động vượt ra khỏi tầm kiểm soát của
các định chế xã hội, các quy tắc của cộng đồng đã được định hình trong tiến
trình lịch sử.
Kiểu liên kết cao nhất trong cộng đồng chính là các quan hệ mang tính hội
nhập, ở đó, mức độ hợp tác một cách tích cực giữa các cá nhân trong tất cả các
đoàn thể chủ yếu mà các cá nhân đó tham gia. Nói theo kiểu định lượng thì tổng
số những tương quan hợp tác gia tăng trong những xã hội rộng lớn hơn. Dĩ nhiên
là chúng ta không bàn đến ở đây về những diờ̃n tiến xã hội mang tính áp đặt, do

cú những đoàn thể phụ cú riờng những đoàn thể này được tổ chức một cách
không chính thức trên quan điểm các tương quan cá nhân. Cái không khí chung
của đời sống tổ chức có khuynh hướng tự nhiên như một danh từ xa xưa ta thấy
một “ý thức giống nũi”, một ý thức chia sẻ sự tương đồng giữa những người
trong cộng đồng.
Khi phân tích khái niệm cộng đồng, chúng ta đã nêu rõ ý nghĩa của đoàn
kết xã hội, tương quan và cơ cấu xã hội. Điều quan trọng là phải hiểu rằng ba
phương diện nghiên cứu cộng đồng nói trên đây (đoàn kết, tương quan và cơ
cấu) không phải luôn luôn có mặt y hệt nhau trong các cấu trúc cộng đồng. Sự
đoàn kết xã hội trong các cộng đồng đô thị chẳng hạn, có đặc điểm khác hẳn so
với sự đoàn kết xã hội ở các cộng đồng nông thôn. E. Durkheim đã đưa ra sự
phân biệt “đoàn kết hữu cơ” đặc trưng cho cộng đồng đô thị với “đoàn kết mỏy
múc” đặc trưng cho cộng đồng nông thôn. Điểm chính là cộng đồng là một tập
hợp hay một hệ thống những đoàn thể nhỏ, nhưng nói về đoàn thể xã hội rộng
13
lớn theo nhiều cách khác nhau. Những đoàn viên trong cộng đồng đều ý thức
được nhu cầu của những người trong và ngoài đoàn thể trực tiếp của họ và có
khuynh hướng hợp tác chặt chẽ.
b. Những loại hình cộng đồng
Như đã phân tích ở trên, xét về thực chật thì cộng đồng tính và xã hội
tính là một, tương tự như thế, cộng đồng thể và xã hội thể là cùng là một phạm
trù cấp trù xã hội. Xã hội có nhiều loại, một cách tương ứng, cộng đồng cũng có
nhiều loại khác nhau. Về đại thể, các cộng đồng được phân loại thành những
loại hình cộng đồng chủ yếu sau đây:
1. Loại hình cộng đồng thuần khiết với loại hình cộng đồng không
thuần khiết, do đã bị biến dạng hoặc pha tạp với cơ cấu, tổ chức thiết chế xã hội
hiệp hội tính.
2. Loại hình cộng đồng theo tính chồi nào đó như cộng đồng lãnh thổ,
cộng đồng huyết thống, cộng đồng thân tộc, cộng đồng tôn giáo, cộng đồng địa
dư… Đây là các loại cộng đồng được phân xuất theo một đặc trưng xã hội chủ

các quan niệm chủ quan của họ về các mục tiêu và phương tiện hoạt động để
nghiên cứu trách nhiệm của sinh viên ĐHSP Hà Nội với cộng đồng lớp học,
cộng đồng trường học, cộng đồng dân cư nôi cư trú.
1.1.2 Vai trò của cộng đồng
Muốn duy trì cuộc sống của mình, con người phải lao động và liên hệ với
những người khác ngoài cộng đồng. Không ai có thể sống bên ngoài cộng đồng và
xã hội. Đời sống con người về bản chất là có tính xã hội. Theo C.Mac : “Bản chất
con người không phải là cái trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt. Trong tính
hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội”
Cộng đồng là hình thức thể hiện các mối liên hệ và quan hệ xã hội của
con người. Đó là môi trường xã hội để các cá nhân thực hiện sự liên kết, hợp tác
với nhau, tạo nên đời sống của mình và của cả cộng đồng.
Mỗi người là một thành viên, một tế bào cộng đồng. Cá nhân có trách
nhiệm thực hiện những nhiệm vụ mà cộng đồng giao phó, tuân thủ những quy
định, những nguyên tắc của cộng đồng.
15
Cộng đồng chăm lo cho đời sống của cá nhân, đảm bảo cho mỗi người có
những điều kiện phát triển. Đời sống cộng đồng chỉ lành mạnh nếu nó được tổ
chức và hoạt động theo nguyên tắc công bằng, dân chủ, kỷ luật.
Đời sống của cộng đồng cần có sự kết hợp đúng đắn mối quan hệ giữa cá
nhân với tập thể xã hội. Cộng đồng giải quyết hợp lý mối quan hệ giữa lợi ích
riêng và chung, giữa lợi ích với trách nhiệm, giữa trách nhiệm và nghĩa vụ. Cá
nhân phát triển trong cộng đồng và nhờ sự phát triển đó của từng người mà cộng
đồng trở lên lớn mạnh.
Con người tham gia vào nhiều cộng đồng khác nhau, ví dụ: cộng đồng gia
đình, cộng đồng lớp học, cộng đồng trường học, cộng đồng dân cư, cộng đồng
dân tộc …
Vậy chúng ta phải cư xử như thế nào trong cộng đồng lớp học, trường
học, và cộng đồng dân cư nơi cư trú?
1.2. Sinh viên và vai trò của sinh viên

này về cơ bản con người đã đạt đến trình độ trưởng thành cả về thể chất lẫn tinh
thần. Chính sự hoàn thiện này cho phép sinh viên giải quyết những vấn đề quan
trọng mang tính chất quyết định đến sự phát triển nhân cách của mình một cách
độc lập. Đó là việc lựa chọn nghề nghiệp sau khi kết thúc học tập ở trường phổ
thông. Do tuổi sinh viên nằm trong giai đoạn thứ hai của tuổi thanh niên nên họ
mang đầy đủ tính nhiệt tình sôi nổi, khao khát lý tưởng, hăng hái hoạt động,
muốn khẳng định mình và có sự chín muồi nhất định của tuổi trưởng thành cùng
với một loạt các đặc trưng của người sinh viên được hỡnh thành trong quá trình
học tập, tu dưỡng ở trường đại học và cao đẳng
Tuổi sinh viên là thời gian nở rộ nhất của sự phát triển nói chung và tâm
lý nhân cách nói riêng. Đây là lứa tuổi thuận lợi nhất cho sự hình thành và phát
triển các chức năng tâm lý quan trọng ở con người, đặc biệt là sự phát triển các
năng lực trí tuệ.
Đặc điểm tâm lý quan trọng nhất của lứa tuổi sinh viên là có sự phát triển
tự ý thức. Hơn nữa đõy chớnh là giai đoạn mà tự ý thức phát triển cao. Họ đã ý
thức và biết đánh giá toàn diện hơn về bản thân, về vị trí của mình trong cuộc
17
sống xã hội. Đõy chớnh là dấu hiệu hết sức quan trọng trong việc hoàn thiện và
phát triển nhân cách.
Thành phần quan trọng bậc nhất tạo lên sự phát triển tự ý thức của sinh
viên là năng lực tự đánh giá, thể hiện thái độ đối với bản thân, biểu hiện trong
đời sống, trong mối quan hệ liên nhân cách. Trong việc hình thành tính tự trọng
trong nhân cách, tự đánh giá là thành phần không thể thiếu được. Nó phản ánh
năng lực hiểu biết và kỹ năng điều khiển chính mình.
Tự phản ánh thể hiện mức độ của nhân cách về bản thân, là mức độ thỏa
mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tính của cá nhân. Vì thế, sự tự
đánh giá của cá nhân có ảnh hưởng rất lớn tới hiệu quả của hoạt động, đặc biệt
tự đánh giá về trí tuệ là thành phần cơ bản trong cấu trúc tự nhận thức của sinh
viên. Nó có tác dụng rất lớn đối với sự hình thành và phát triển các phẩm chất trí
tuệ trong quá trình học tập ở trường Đại học và cao đẳng đi theo chiều hướng

viên nhưng kết quả được họ phân tích đánh giá.
Học ngoài lớp không bắt buộc có liên quan tới việc nghiên cứu sâu, toàn
diện các môn học với ý thức tự giác cao của sinh viên. Do không bắt buộc đòi hỏi
cao về tinh thần tự giác, chủ yếu là việc tự học của sinh viên nên qua đó thể hiện
mức độ rõ nhất mức độ phát triển nhu cầu, thái độ … Khi sinh viên nỗ lực, tích
cực ngoài lớp không bắt buộc chứng tỏ thái độ ý thức của học cao. Vì vậy cần chú
ý quan tâm khích lệ việc học tập ngoài lớp không bắt buộc của sinh viên.
- Một số phẩm chất nhân cách của người sinh viên sư phạm :
Sinh viên sư phạm là những người bằng chính nhân cách của mình góp
phần dào tạo thế hệ trẻ thành lớp người kế tục cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
tổ quốc. Theo quan điểm của Mechel Develay : Nghề sư phạm được xác định
trước hết không phải xác định bằng hoạt động dạy mà bằng hoạt động học của
người học. Tức là giúp người học tìm ra những tình huống học làm chủ kỹ xảo
tạo ra cầu nối nhận thức. Xuất phát từ đặc điểm lao động của nghề giáo, đòi hỏi
người sinh viên sư phạm ngày nay trong những năm tháng học tập ở trường đại
học phải không ngừng phấn đấu rèn luyện nhằm hoàn thiện nhân cách người
thầy giáo tương lai.
19
Những đặc điểm tâm lý, nhân cách của sinh viên sư phạm: theo các nhà
giáo dục Mỹ sinh viên sư phạm phải là người có chí hướng phục vụ cộng đồng,
chấp nhận gắn bó suốt đời với nghề dạy học, có thời gian lâu dài được đào tạo
chuyên môn, có khối lượng tri thức và năng lực xác định cao hơn so với những
người không chuyên đáp ứng tiêu chuẩn bằng cấp, hoặc những nhu cầu tuyển
dụng, chấp nhận trỏch nhiờm đối với sự đánh giá và các hoạt động được thực
hiện có liên quan đến công việc được giao, chấp nhận một tập hợp các tiêu
chuẩn của nghề sư phạm, với những biểu hiện cụ thể sau:
 Có nhu cầu học nghề sư phạm mong muốn được làm thầy cô. Sinh
viên ý thức đầy đủ ý nghĩa của nghề đối với bản thân xã hội
 Có những hứng thú với nghề sư phạm: sinh viên không chỉ thấy sự
cần thiết và lòng yêu nghề mà còn tin tưởng mạnh mẽ vào giá trị tốt đẹp của

nghi kịp thời với sự thay đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại, đại diện cho một
thế hệ tiên tiến mới.
GS. TS. người Mỹ Joseph Stiglitz, người đoạt giải Nobel kinh tế năm
2001 vì những cống hiến xuất sắc trong nghiên cứu khoa học về quá trình
chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường ở các nước đang phát triển, trong chuyến
thăm và làm việc tại nước ta cuối tháng 6- 2001 cũng đã nhận xét về thế hệ trẻ ở
các nước đang phát triển: “Mụi trường mới đòi hỏi tư duy phải đổi mới nhanh
nhạy để phù hợp, và giới trẻ thích nghi dễ dàng hơn so với người già. ( ) Chính
họ đã đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành một tư duy kinh tế mới".
Tuổi trẻ là nền tảng cho một đời người. Với SV, những người ngồi trên
ghế giảng đường đại học là quãng thời gian vô cùng quan trọng trong quá trình lâu
dài tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp tư duy và bản lĩnh chính trị. Từ
điểm xuất phát này, con người trưởng thành và bước vào đời. Nếu điểm xuất phát
tốt, họ sẽ đạt được những bước đi dài, ổn định và vững chắc trong tương lai; ngược
lại, con đường đi lên sẽ gặp trắc trở khó khăn. Một đất nước Việt Nam có phồn
vinh và vững mạnh trong tương lai hay không là phụ thuộc phần lớn vào thế hệ trẻ
sau này, trong đó có sinh viên.
21
1.3 Trách nhiệm
Là khái niệm của ý thức đạo đức và ý thức pháp quyền nói lên một đặc
trưng của nhân cách trong việc thực hiện nghĩa vụ do xã hội đề ra. Nếu nghĩa vụ
đặt ra cho con người vấn đề nhận thức và thực hiện những yêu cầu của xã hội,
thì vấn đề TN là ở chỗ con người hoàn thành và hoàn thành đến mức nào hoặc
không hoàn thành những yêu cầu ấy. TN là sự tương xứng giữa hoạt động với
nghĩa vụ, là hệ quả của tự do ý chí của con người, là đặc trưng cho hoạt động có
ý thức của con người. Con người ngày càng nhận thức được quy luật khách
quan của tự nhiờn, xã hội. Khi năng lực chi phối tự nhiên, xã hội của con người
lớn lên thì TN của con người đối với hành vi của mình cũng lớn lên. Về mặt
pháp lí, việc xem xét TN cá nhân phải xuất phát từ sự thống nhất giữa quyền và
nghĩa vụ: quyền càng rộng thì TN càng lớn.

biên soạn chương trình, giáo trình.
- Tổ chức triền khai các nhiệm vụ nghiên cứu chọn lọc cơ bản, khoa học
giáo dục, khoa học ứng dụng công nghệ, ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
triển khai các đề án, các quy trình công nghệ
- Tư vấn cho các cấp quản lý xây dựng chớnh sỏch giáo dục, đào tạo giáo
viên, đổi mới nội dung phương pháp đào tạo, cải cách giáo dục.
- Đào tạo giáo viên chất lượng cao cho các cấp học, ngành học, giáo dục
đặc biệt, cán bộ giáo dục có học vị cao
* Nhiệm vụ
- Đào tạo giáo viên các cấp học từ mầm non đến đại học, các chuyên gia
giáo dục, các cán bộ nghiên cứu giáo dụ, các cán bộ nghiên cứu khoa học cơ
bản, khoa học giáo dục có trình độ đại học, sau đại học; bồ dưỡng nghiệp vụ sư
phạm cho giáo viên các trường trung học chuyên nghiệp, cao đẳng và đại học;
bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên các cấp; phát huy vai trò là trường
trọng điểm, đầu ngành trong hệ thống các trường Đại học, Cao đẳng sư phạm
cuả cả nước bằng việc nghiên cứu triển khai các chủ trương, giải pháp nâng cao
chất lượng giáo dục phổ thông, giáo dục mầm non; đào tạo giáo viên.
- Đào tạo giáo viên, cán bộ khoa học cho các nước khác trong khu vực và
trên thế giới.
- Nghiên cứu khoa học giáo dục, khoa học cơ bản và các lĩnh vực liên
quan khác, nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
2.2. Thực trạng việc thực hiện trách nhiệm sinh viên sư phạm với
cộng đồng lớp học, cộng đồng trường học, cộng đồng dân cư nơi cư trú
Khi điều tra thực trạng về trách nhiệm của sinh viên trường ĐHSPHN
chúng tôi xem xét những mặt sau:
2.2.1. Trách nhiệm của sinh viên sư phạm với cộng đồng lớp học
24
Phần lớn sinh viên sư phạm có ý thức tôn trọng, đoàn kết, quan tâm, gần
gũi vui vẻ, chan hòa thầy cô bạn bè nhưng còn một số ít sinh viên chưa thực
hiện tốt trách nhiệm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status