BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LÊ THỊ HOÀI MÂY
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀO
VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
( Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục)
HÀ NỘI-2013
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
HỌC VIỆN QUẢN LÝ GIÁO DỤC
LÊ THỊ HOÀI MÂY
VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO VÀO
VIỆC NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CÁN BỘ, GIẢNG VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC
KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
( Khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Quản lý giáo dục)
Người hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN LIÊN CHÂU
HÀ NỘI-2013
LỜI CẢM ƠN
Sau một quá trình nghiên cứu đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về
nguồn nhân lực chất lượng cao vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ,
giảng viên trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn”, đến nay tôi đã hoàn
thành khóa luận.
Để có được sản phẩm nghiên cứu như ngày hôm nay, tôi xin gửi lời cảm ơn
chân thành tới tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên Trung tâm Đảm bảo chất lượng
Đào tạo- Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; cán bộ thư viện Học viện
Quản lý giáo dục và đã tạo mọi điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong quá trình thực
hiện khóa luận tốt nghiệp.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất tới giảng viên TS. Nguyễn Liên
Châu- người đã hướng dẫn tận tình và cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình
tôi nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này.
Việt Nam đã xác định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn
diện, sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả của sự
vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của
nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu
tinh hoa văn hoá của nhân loại” và “Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc
đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và
dân tộc ta”.
Chính vì vậy, cùng với chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trở
thành nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và nhân dân Việt
Nam.
Tư tưởng của Người bao quát nhiều lĩnh vực rộng lớn, phong phú, trong đó
vấn đề nhân lực và cách sử dụng nguồn nhân lực chiếm một vị trí quan trọng.
1
Người xem “vô luận việc gì đều do người làm ra và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa,
đều thế cả”
.
Con người là chủ thể kiến tạo nên toàn thể xã hội, nếu là con người có
đủ đức và tài thì họ sẽ làm được nhiều việc có ích, và nếu nhân tài tham gia vào
các công việc của nhà nước, được tạo điều kiện để phát huy đạo đức và tài năng,
thì họ sẽ làm được nhiều việc “ích quốc, lợi dân”. Từ quan niệm “vô luận việc gì
đều do người làm ra”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi tới kết luận: “cán bộ quyết định
mọi việc”,
“muôn việc thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hoặc kém. Đó là
chân lý nhất định”. Đây là lôgic tư tưởng độc đáo, đặc sắc của Hồ Chí Minh về vấn
đề nhân lực và sử dụng nguồn nhân lực.
Trong xu thế toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế cũng như trong sự nghiệp
công nghiệp hoá, hiện đại hoá, nguồn nhân lực đang trở thành động lực chủ yếu
đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước. Vấn đề này đang đặt ra cho nền
giáo dục đại học Việt Nam một nhiệm vụ hết sức to lớn và cấp bách. Nghị quyết
Tuy nhiên, trên cơ sở những kết quả nghiên cứu đã đạt được áp dụng trong
lĩnh vực giáo dục và cụ thể về đội ngũ cán bộ, giảng viên trong cơ sở giáo dục đại
học tôi thấy việc nghiên cứu trực tiếp vận dụng những quan điểm của Hồ Chí Minh
về nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao vẫn là vấn đề cần được tiếp tục đi
sâu nghiên cứu. Chính vì thế, tôi đã lựa chọn đề tài nói trên với mong muốn góp
phần tìm hiểu một vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn trong công tác nâng
cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học xã hội và
nhân văn sau quá trình trải nghiệm thực tế qua đợt thực tập tại trường này.
3.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực
chất lượng cao để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn.
3
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, nhiệm vụ nghiên cứu
được xác định là nghiên cứu, làm rõ:
-Các quan điểm cơ bản của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao
và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.
-Thực trạng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường ĐHKHXH&NV .
- Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao vào
việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học xã
hội và nhân văn.
4. Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất
lượng cao.
4. 2. Khách thể nghiên cứu:
Khách thể nghiên cứu: Cán bộ quản lý, giảng viên, chuyên viên Trường
ĐHKXH&NV.
4.3. Phạm vi nghiên cứu:
Chương 1: Quan điểm Hồ Chí Minh về vai trò của nguồn nhân lực chất lượng
cao và việc sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao.
1.1Quan niệm về con người, nhân tố con người, nguồn nhân lực hay nguồn lực
con người.
1.2Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao.
1.3Vấn đề sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao trong tư tưởng Hồ Chí
Minh.
5
Chương 2: Thực trạng việc sử dụng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ
giảng viên tại Trường Đại học KHXH&NV.
2.1Tổng quan về Trường Đại học KHXH&NV-Đại học QGHN
2.2 Thực trạng về việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV Trường Đại học
KHXH&NV.
2.2.1 Sự cần thiết về việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên Trường
Đại học KHXH&NV.
2.2.2 Căn cứ về việc nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV Trường Đại học
KHXH&NV.
2.2.3 Thực trạng tình hình và kết quả nâng cao chất lượng đội ngũ CB, GV
Trường Đại học KHXH&NV.
2.2.3.1 Nhà trường có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng phát triển đội ngũ giảng
viên và nhân viên; quy hoạch bổ nhiệm cán bộ quản lí đáp ứng mục tiên chức
năng, nhiệm vụ và phù hợp với điều kiện cụ thể của đơn vị đào tạo đại học; có quy
trình, tiêu chí tuyển dụng, bổ nhiệm rõ ràng minh bạch.
2.2.3.2 Nhà trường có chính sách, biện pháp tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản
lý và giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ ở trong và ngoài
nước.
2.2.3.3 Đội ngũ cán bộ quản lý có phẩm chất đạo đức, năng lực quản lý chuyên
môn, nghiệp vụ và hoàn thành nhiệm vụ được giao.
2.2.3.4 Nhà trường có đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình giáo dục
và nghiên cứu khoa học; đạt được mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục
cái về mặt phát sinh gắn bó với tổ tiên động vật của con người, những cái làm cho
con người hình thành và hoạt động như một cá thể, một hệ thống phục tùng các
quy luật sinh học.
“Cái xã hội” của con người là tất cả những quan hệ, những biến đổi xuất hiện
do ảnh hưởng của các điều kiện xã hội khác nhau, những quy định về mặt xã hội
tạo nên mỗi cá nhân con người (ý thức, tư duy, tâm lý, phẩm chất đạo đức, năng
lực…) của con người thuộc cái “cái xã hội”.
“Cái sinh học” là cái có trước, là tiền đề cho sự hình thành và phát triển của
“cái xã hội”. Còn “cái xã hội” là cái quyết định, nhờ nó mà “cái sinh học” trong
con người được nâng lên trên trình độ của con vật. “Cái xã hội” được hình thành
và phát triển từ sự tác động qua lại giữa con người và hoàn cảnh thông qua hoạt
động thực tiễn và giao lưu của con người.
-Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa “cái cá nhân” và “cái cộng
đồng”.
8
“Cái cá nhân” là cái riêng, cái không lặp lại ở người khác, là cơ sở để phân biệt
người này với người khác.
“Cái cộng đồng” là cái chung của mỗi người khi con người cùng sống trong một
thời đại lịch sử-xã hội nhất định.
-Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa tính giai cấp, tính dân tộc và
tính nhân loại.
Khi xã hội có giai cấp, mỗi con người đều thuộc một giai cấp nhất định, có cùng
lợi ích và bảo vệ cho lợi ích chung đó.
Mỗi con người đều là con người thuộc một dân tộc nhất định mang trong đó bản
sắc văn hóa, phong tục tập quán, ngôn ngữ của dân tộc đó.
Khi con người tham gia giao lưu, hội nhập quốc tế, tiếp thu nền văn hóa nhân loại
sẽ mang tính nhân loại.
-Bản chất con người thể hiện sự thống nhất giữa tính thời đại và tính lịch sử.
Con người mang tính thời đại là con người mang những đặc trưng xã hội của thời
đại đó mà con người đang sống.
người, phần lớn các tác giả đều thống nhất cho rằng khái niệm nhân tố con người
là sự cụ thể hóa nhân tố chủ quan và được nhìn nhận ở các mặt cơ bản như: tiềm
năng của con người, của từng tập thể hay của nhóm xã hội; tính tích cực xã hội và
ở mặt nhân cách.
Nhìn nhận con người ở góc độ nhân cách, nhà nghiên cứu Liên Xô A.K.Vledov
cho rằng: “Con người trong mọi biểu hiện của nó vốn có những đặc trưng nhân
cách nhất định…Tất cả những phẩm chất đa dạng biểu hiện trong các dạng hoạt
động khác nhau của con người trong quan hệ của nó với người khác, với thế giới
10
xung quanh đều bao hàm khái niệm “nhân tố con người”, khái niệm đó thể hiện
1
tính tích cực xã hội của cá nhân”
1
.
Từ những phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm nhân tố con người như sau:
“Nhân tố con người là khái niệm cụ thể hóa của nhân tố chủ quan, là sự tổng hòa
những khả năng phát triển những phẩm chất, thuộc tính, những tri thức, kinh
nghiệm, năng lực và thói quen của con người mà chúng thường được biểu hiện
trong hoạt động và chính nó lại ảnh hưởng đến các quá trình xã hội”
2
.
1.1.3 Khái niệm nguồn nhân lực hay nguồn lực con người
1.1.3.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Về khái niệm nguồn nhân lực, trước hết là khái niệm dùng để phân biệt với
các khái niệm khác trong hệ thống các nguồn lực tạo ra phát triển kinh tế - xã hội
(bao gồm vật lực, tài lực, nhân lực).
Các nguồn lực quan trọng phát triển ở nước ta hiện nay bao gồm:
-Nguồn lực con người;
-Tài nguyên thiên nhiên;
-Vị trí địa lý;
con người ở thời đại ngày nay với đặc trưng là xu thế toàn cầu hóa, phát triển kinh
tế trí thức đó chính là hàm lượng trí tuệ, trình độ, năng lực lao động sáng tạo, là
những phẩm chất tâm lý của con người trong nền sản xuất hiện đại; là tập hợp chỉ
số phát triển của con người, là chất lượng văn hóa mà bản thân nó và xã hội có thể
huy động cho phát triển xã hội.
Như vậy, khi nói đến nguồn nhân lực là muốn đề cập đến một tài sản, một
nguồn vốn-vốn người có khả năng sinh sôi, nảy nở và không ngừng phát triển
trong quá trình khai thác và sử dụng.
Từ những phân tích trên, có thể thấy rằng định nghĩa về nguồn nhân lực của
Liên hợp quốc có tính khái quát hơn cả: “Nguồn nhân lực là tổng thể sức dự trữ,
12
những tiềm năng, những lực lượng thể hiện sức mạnh và sự tác động của con
người trong việc cải tạo tự nhiên và cải tạo xã hội”
1
.
Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia hay mỗi tổ chức có một số đặc điểm cơ
bản sau đây:
- Nguồn nhân lực là nguồn lực cơ bản nhất, nó có tính quyết định.
- Nguồn nhân lực chỉ được phát huy hiệu quả thông qua quá trình lao động.
- Nguồn nhân lực là nhân tố trung tâm có ảnh hưởng lớn đến quá trình tổ chức,
quản lý và sản xuất.
Nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức được cấu thành bởi ba yếu tố
cơ bản sau đây:
- Số lượng nguồn nhân lực là con số biểu thị sự có nhiều hay ít người lao động
đang làm việc trong nền sản xuất xã hội. Số lượng người lao động cho ta thấy quy
mô sử dụng lao động của xã hội.
- Cơ cấu nguồn nhân lực là cách tổ chức, phân bố lực lượng lao động trong nền sản
xuất xã hội.
- Chất lượng nguồn nhân lực là những yếu tố cấu thành nên những năng lực, giá trị
của nguồn lực lao động ở con người trong quá trình sản xuất.
-Chế độ đãi ngộ và khen thưởng;
-Môi trường làm việc và cơ hội thăng tiến.
Trong chiến lược phát triển và sử dụng nguồn nhân lực của các quốc gia
hiện nay, vấn đề phát hiện, đào tạo, thu hút, trọng dụng nguồn lực chất lượng cao
là then chốt và có ý nghĩa quyết định.
1.2 Quan điểm của Hồ Chí Minh về nguồn nhân lực chất lượng cao.
Trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã biết có
bao vĩ nhân anh hùng, mà cuộc đời, sự nghiệp. tư tưởng và nhân cách của họ tiêu
biểu cho lý tưởng, ý chí khát vọng của dân tộc và xu hướng phát triển của thời đại.
1
Hoàng Phê: Từ điển tiếng Việt, Nxb. Đà Nẵng, 2005, tr.324
2
Xem: Paul Harsey, Ken Hard: Quản lý nguồn nhân lực, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1995,
tr.45
14
Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những người như vậy. Tư tưởng và lý luận
cách mạng Người để lại cho dân tộc ta và nhân loại là một tài sản vô cùng quý giá,
bao quát trên nhiều lĩnh vực, trong đó có vấn đề về lĩnh vực nguồn nhân lực chất
lượng cao. Từ việc nhận thức sâu sắc vai trò của nhân tài trong xã hội nói chung
cũng như trong sự nghiệp cách mạng nói riêng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặc biệt
trân trọng và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời cũng xây dựng
nên một hệ thống quan điểm về viêc phát hiện đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng
nguồn nhân lực chất lượng cao nhằm đáp ứng những yêu cầu trong từng giai đoạn
cách mạng.
“Hiền tài là nguyên khí quốc gia. Nguyên khí thịnh thì đất nước mạnh mà
hưng thịnh. Nguyên khí suy thì đất nước yếu mà thấp hèn”. Đoạn văn trên do Thân
Nhân Trung soạn và được khắc trên bia đá đặt tại văn miếu Quốc Tử giám đã nói
lên tầm quan trọng của nhân tài – nhân tố quyết định đến sự hưng vong của quốc
gia, sự trường tồn và phát triển của dân tộc. Tiếp nối và phát huy truyền thoongs
của cha ông, Hồ Chí Minh đã sớm nhận thức được vai trò và vị trí của nguồn nhân
nhóm xã hội đặc biệt gắn liền với sự phân công lao động xã hội giữa lao động trí
óc và lao động chân tay”
1
.
Từ điển chủ nghĩa khoa học xã hội Việt Nam xác định: “Trí thức là một
nhóm xã hội bao gồm những người chuyên làm nghề lao động phức tạp và có học
vấn chuyên môn cần thiết cho ngành lao động đó”.
1
Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học, Nxb.Tiến bộ, Mátxcơva, Nxb.Sự thật, Hà Nội, 1986,
tr.360.
16
Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt câu hỏi
“Trí thức là gì?”. Trả lời câu hỏi này Người chỉ rõ: “Trí thức là hiểu biết. Trong
thế giới chỉ có hai thứ hiểu biết: một là hiểu biết sự tranh đấu sinh sản. Khoa học
tự nhiên do đó mà ra. Hai là hiểu biết tranh đấu dân tộc và tranh đấu xã hội. Khoa
học xã hội do đó mà ra. Ngoài hai cái đó, không có trí thức nào khác”
1
.
Trong bài Đảng Lao động Việt Nam với lao động trí óc, Người xác định tri
thức là “những người lao động trí óc”. Vậy “lao động trí óc là ai?”. Câu trả lời của
Hồ Chí Minh: “Là thầy giáo, thầy thuốc, kỹ sư, những nhà khoa học, văn nghệ,
những người làm bàn giấy, ”
2
Nghị quyết Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, có đoạn: “Trí thức là những người lao động trí óc, có trình độ học vấn cao
về lĩnh vực chuyên môn nhất định, có năng lực tư duy độc lập, sáng tạo, truyền bá
và làm giàu tri thức, tạo ra những sản phẩm tinh thần và vật chất có giá trị đối với
xã hội”.
được coi là nguồn nhân lực chất lượng cao.
Ở Việt Nam cũng như ở các nước khác, trong quá khứ cũng như trong hiện
tại, nguồn nhân lực chất lượng cao có một vai trò rất quan trọng. Chính vì vậy,
ngay từ những ngày đầu giành được độc lập, chính trong lúc phải đối phó với
muôn vàn khó khăn, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao quan điểm trọng dụng
nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó nổi bật là những bài viết về trí thức, nhân
tài.
Người nói: “Trí thức là vốn liếng quý báu của dân tộc. Ở nước khác như thế,
ở Việt Nam càng như thế”
3
. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy cái thiếu lớn nhất sau
khi giành chính quyền là trí thức. Người chỉ rõ chương trình kiến thiết của nước
1
Nguyễn Khánh Bật: Xây dựng đội ngũ trí thức thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa
theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012, tr. 9
2
.
3
Hồ Chí Minh: Toàn tập, Sđd, t. 5, tr. 184.
18
Việt Nam trước tiên là làm cho dân khỏi khổ, khỏi dốt. Muốn thế thì phải ra sức
tăng gia sản xuất, muốn tăng gia sản xuất và có kết quả tốt cần có tư bản, trí thức
và lao động. Người khẳng định: Chúng tôi có tài nguyên, dân chúng tôi cần cù
chịu khó, chúng tôi đủ sức lao động. Người kêu gọi các nhà tư bản Pháp và các
nước đầu tư vào Việt Nam làm ăn theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi. Vấn đề còn
lại, cái thiếu lớn nhất lúc này là trí thức. Người còn nói: “Trí thức phục vụ nhân
dân bây giờ cũng cần, kháng chiến kiến quốc cũng cần, tiến lên xã hội chủ nghĩa
càng cần, tiến lên cộng sản chủ nghĩa lại càng cần”
1
. Chính xuất phát từ thực tế ấy
dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước phải thực sự trọng dụng nguồn
nhân lực chất lượng cao, phải tạo điều kiện để đội ngũ này đóng góp tài năng của
họ.
Nói đến vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, Hồ Chí Minh đặc biệt
nhấn mạnh đến sự cần thiết phải xây dựng được một đội ngũ cán bộ Nhà nước có
tài, đức. Công việc Nhà nước bao gồm nhiều lĩnh vực, có tác động mạnh mẽ nhất
đến mọi mặt của đời sống xã hội, đòi hỏi phải có một đội ngũ cán bộ, công chức
tốt để thi hành công vụ. Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định cán bộ là những người
đem chính sách của Đảng, của Chính phủ giải thích cho dân chúng hiểu rõ và thi
hành. Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ
hiểu rõ để đặt chính sách cho đúng”
2
. Như vậy, theo quan điểm của Người, người
cán bộ có mối quan hệ chặt chẽ với Nhà nước, nhân dân; là cầu nối giữa Đảng,
Chính phủ và quần chúng. Nhiệm vụ của người cán bộ là truyền đạt và tổ chức
nhân dân thực thi đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà
nước, đồng thời giúp Đảng và Nhà nước nắm bắt những thông tin phản hồi từ nhân
dân để qua đó Đảng và Nhà nước điều chỉnh chủ trương, đường lối, chính sách. Để
làm được như vậy, người cán bộ phải là người có tài năng và phẩm chất để phổ
biến, truyền đạt cho quần chúng, được quần chúng tin cậy, gửi gắm; nếu cán bộ dở
thì chính sách hay cũng không thể thực hiện được.
Qua việc xác định vai trò vô cùng quan trọng của đội ngũ cán bộ đối với sự
phát triển của cách mạng, Người khẳng định “cán bộ là cái gốc của mọi công
1
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 4. Nxb. CTQG, HN, 2004, tr. 99.
2
Hồ Chí Minh: Toàn tập, tập 5. Nxb. CTQG, HN, 2000, tr. 269.
20
việc”, “cán bộ là tiền vốn của đoàn thể. Có cán bộ mới làm ra lãi. Bất cứ chính
sách,công tác gì nếu có cán bộ tốt thì thành công, tức là có lãi, không có cán bộ tốt