Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
LỜI NÓI ĐẦU
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân thì ngành xây dựng cơ bản
cũng không ngừng lớn mạnh. Với sự gia nhập của nước ta vào WTO, đây được
xem là một bước ngoặt lớn đối với định hướng phát triển của nền kinh tế.
Trong công tác kế toán nói chung, kế toán “ tập hợp chi phí sản xuất và
tính giá thành sản phẩm” là một thành phần quan trọng và mục tiêu đặt ra của
các nhà quản lý là không ngừng tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản
phẩm, một mặt làm tăng thu nhập cho doanh nghiệp, nâng cao đời sống cho
người lao động, mặt khác đảm bảo sự tồn tại và củng cố vị thế của doanh nghiệp
trong cạnh tranh.
Để thực hiện mục tiêu này, doanh nghiệp cần phải kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm chính xác và kịp thời, đúng đối tượng, đúng
phương pháp, và đúng chế độ quy định. Chính vì vậy công tác kế toán này luôn
được sự quan tâm sâu sắc của ban lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên
trong Công ty Cổ phần Xây dựng công trình Văn hóa, Thể thao và Du lịch.
Để hiểu rõ hơn nội dung và tầm quan trọng của công tác kế toán tập hợp
chi phí và tính giá thành sản phẩm nên trong thời gian thực tập, em đã đi sâu
nghiên cứu tìm hiểu và lựa chọn đề tài: "Kế toán tập hợp chi phi sản xuất và
tính giá thành sản phẩm tại Công ty Cổ phần Xây dựng công trình Văn hóa,
Thể thao và Du lịch". Với ba phần như sau:
Chương 1: Lý luận chung về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm trong công ty xây dựng
Chương 2: Thực tế công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá
thành sản phẩm tại công ty CP Xây dựng công trình Văn hóa, Thể thao và Du
lịch
Chương 3: Một số ý kiến đề xuất nhằm hoàn thiện công tác kế toán tập
hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở Công ty CP Xây dựng công
trình Văn hóa, Thể thao và Du lịch
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
1
phương… Cho nên công tác quản lý và sủ dụng tài sản, vật tư cho
công trình rất phức tạp, đòi hỏi phải có mức giá cho từng loại công tác
xây, lắp cho từng vùng lảnh thổ.
1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất và giá thành sản
phẩm
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại chi phí sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm, đặc điểm chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hóa
và các chi phí cần thiết khác mà doanh nghiệp phải chi ra trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh, biểu hiện bằng tiền và tính cho một thời kỳ nhất định.
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
2
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
Xét về thực chất thì chi phí sản xuất kinh doanh là sự chuyển dịch vốn của
doanh nghiệp vào đối tượng tính giá nhất định, nó là vốn của doanh nghiệp bỏ
vào quá trình sản xuất kinh doanh.
Để hiểu rõ hơn về bản chất của chi phí chúng ta cần chú ý phân biệt giữa
chi phí và chi tiêu: Chi tiêu của doanh nghiệp là sự giảm đi thuần tuý của tài sản
doanh nghiệp, bất kể nó được dùng vào mục đích gì. Như vậy, giữa chi tiêu và
chi phí của doanh nghiệp có mối quan hệ mật thiết với nhau, đồng thời có sự
khác nhau về lượng và thời điểm phát sinh.
Thứ nhất, sự khác nhau về lượng: Mặc dù chi tiêu là cơ sở của chi phí
song chi phí của doanh nghiệp sẽ không bao gồm các khoản chi tiêu có đặc điểm
sau:
- Các khoản chi tiêu làm giảm một tài sản này nhưng làm tăng một tài sản
khác hoặc làm giảm một khoản nợ phải trả trong doanh nghiệp.
- Các khoản chi tiêu làm tăng một khoản nợ phải trả nhưng đồng thời làm
tăng một tài sản hoặc giảm một khoản nợ phải trả khác của doanh nghiệp.
Như vậy, chi phí chỉ bao gồm các trường hợp làm giảm tài sản hoặc tăng
- Chi phí khấu hao máy móc thiết bị: Yếu tố chi phí này bao gồm khấu hao
của tất cả TSCĐ dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh trong kỳ của doanh
nghiệp.
- Chi phí dịch vụ mua ngoài: Là số tiền phải trả cho các dịch vụ mua ngoài
phục vụ cho các hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.
Chi phí khác bằng tiền: Là các khoản chi phí bằng tiền phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh ngoài các yếu tố chi phí nói trên.
Phân loại chi phí sản xuất theo mục đích và công dụng kinh tế của chi
phí
Căn cứ vào mục đích, công dụng của chi phí để sắp xếp những chi phí có
cùng một mục đích và công dụng vào cùng một khoản mục chi phí, không xem
xét nội dung kinh tế ban đầu của chi phí. Chi phí sản xuất của doanh nghiệp
được chia thành 3 khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Là toàn bộ chi phí nguyên vật liệu được sử
dụng trực tiếp cho quá trình sản xuất chế tạo sản phẩm, lao vụ dịch vụ.
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
4
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
- Chi phí nhân công trực tiếp : Bao gồm tiền lương và các khoản phải trả
trực tiếp cho công nhân sản xuất, các khoản trích theo tiền lương của công nhân
sản xuất như kinh phí công đoàn, bảo hiểm y tế, bảo hiểm xã hội.
- Chi phí sản xuất chung: Là các khoản chi phí sản xuất liên quan đến việc
phục vụ và quản lý sản xuất trong phạm vi các phân xưởng, đội sản xuất.
Chi phí sản xuất chung bao gồm các yếu tố chi phí sản xuất sau:
• Chi phí nhân viên phân xưởng: Bao gồm chi phí về tiền lương, phụ cấp
và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý, nhân viên kinh tế…tại
phân xưởng sản xuất.
• Chi phí vật liệu: Bao gồm vật liệu các loại dùng cho nhu cầu sản xuất
chung tại phân xưởng (tổ, đội) sản xuất.
• Chi phí dụng cụ sản xuất: Là chi phí về dụng cụ, công cụ dùng cho nhu
Chi phí sản phẩm và chi phí thời kỳ.
- Theo mối quan hệ với quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm và quá trình
kinh doanh: gồm chi phí cơ bản và chi phí chung….
Tóm lại, mỗi cách phân loại chi phí khác nhau đều có một mục đích
chung đó là làm sao quản lý được tốt nhất chi phí sản xuất và qua đó thực hiện
nhiệm vụ tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm cho doanh nghiệp.
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
6
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm và phân loại giá thành sản phẩm
1.1.2.1 Khái niệm, đặc điểm giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền toàn bộ những hao phí về lao
động sống và lao động vật hóa được tính trên một khối lượng kết quả sản phẩm
lao vụ, dịch vụ hoàn thành nhất định.
Bản chất của giá thành là sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố chi phí vào
những sản phẩm nhất định đã hoàn thành. Giá thành có hai chức năng chủ yếu là
chức năng thước đo bù đắp chi phí và chức năng lập giá.
Trong hệ thống các chỉ tiêu quản lý của doanh nghiệp, giá thành sản
phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh chất lượng toàn bộ quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh, kết quả sử dụng các loại tài sản, vật tư, lao động,
các giải pháp kinh tế, kỹ thuật, và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm
nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản xuất, hạ thấp chi phí và
tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để
định giá bán cũng như xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.
1.1.2.2 Các loại giá thành
Để đáp ứng yêu cầu của quản lý và hạch toán, giá thành sản phẩm được
phân chia làm nhiều loại khác nhau, tùy theo các tiêu thức sử dụng để phân loại
giá thành:
Phân loại giá thành sản xuất theo cơ sở số liệu và thời điểm tính giá
thành
- Giá thành sản xuất theo biến phí: là loại giá thành mà trong đó chỉ bao
gồm biến phí thuộc chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp,
chi phí sản xuất chung (biến phí sản xuất) tính cho sản phẩm hoàn thành.
- Giá thành sản xuất có phân bổ hợp lý định phí sản xuất: là loại giá thành trong
đó bao gồm toàn bộ biến phí sản xuất tính cho sản phẩm sản xuất hoàn thành và một
phần định phí sản xuất được phân bổ trên cơ sở mức hoạt động thực tế so với mức
hoạt động theo công suất thiết kế (mức hoạt động chuẩn).
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
8
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
- Giá thành toàn bộ theo biến phí: là loại giá thành sản phẩm trong đó bao
gồm toàn bộ biến phí tính cho sản phẩm tiêu thụ.
- Giá thành toàn bộ của sản phẩm tiêu thụ: bao gồm giá thành sản xuất và
chi phí ngoài giá thành sản xuất tính cho sản phẩm tiêu thụ.
Tác dụng: Cách phân loại này có tác dụng giúp nhà quản lý biết được kết
quả kinh doanh của từng mặt hàng, từng loại dịch vụ mà doanh nghiệp sản xuất.
1.1.3 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
- Về mặt bản chất thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là biểu hiện
hai mặt của quá trình sản xuất kinh doanh. Chúng giống nhau về chất vì đều
cùng biểu hiện bằng tiền những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa
mà doanh nghiệp đã bỏ ra trong quá trình sản xuất.
Nhưng do bộ phận chi phí sản xuất giữa các kỳ không đều nhau nên chi
phí sản xuất và giá thành sản phẩm lại khác nhau trên hai phương diện:
- Về phạm vi: Chi phí sản xuất gắn với một thời kỳ nhất định, còn giá thành
sản phẩm gắn với khối lượng sản phẩm, công việc lao vụ đã hoàn thành.
- Về mặt lượng: Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm có thể khác nhau
khi có sản phẩm sản xuất dở dang đầu kỳ hoặc cuối kỳ. Cụ thể : chi phí sản xuất
bao gồm toàn bộ chi phí sản xuất sản phẩm hoàn thành, sản phẩm làm dở, còn
giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí liên quan đến sản phẩm hoàn
thành, nó bao gồm cả chi phí kỳ trước chuyển sang và không bao gồm chi phí
với các bộ phận kế toán có liên quan.
- Xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá
thành phù hợp với đặc điểm và yêu cầu quản lý doanh nghiệp.
- Tổ chức bộ máy kế toán một cách khoa học, hợp lý trên cơ sở phân công
rõ ràng trách nhiệm của từng thành viên, từng bộ phận kế toán có liên quan.
- Thực hiện tổ chức chứng từ, hạch toán ban đầu, hệ thống tài khoản, sổ kế
toán phù hợp với các nguyên tắc chuẩn mực, chế độ kế toán.
- Tổ chức lập và phân tích các báo cáo kế toán về chi phí, giá thành sản
phẩm, cung cấp những thông tin cần thiết về chi phí, giá thành sản phẩm, giúp
các nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra được các quyết định nhanh chóng, phù hợp
với quá trình sản xuất – tiêu thụ sản phẩm.
- Tổ chức kiểm kê và đánh giá khối lượng sản phẩm làm dở khoa học hợp
lý, xác định giá thành và hạch toán giá thành sản phẩm hoàn thành sản xuất
trong kỳ một cách đầy đủ chính xác.
1.2 Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất và đối tượng tính giá thành
1.2.1 Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất và căn cứ xác định
Đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là phạm vi, giới hạn để tập hợp
chi phí sản xuất phát sinh trong kỳ theo phạm vi, giới hạn đó, nhằm đáp ứng yêu
cầu kiểm soát chi phí và tính giá thành sản phẩm.
Thực chất của việc xác định đối tượng tập hợp chi phí sản xuất chính là
xác định nơi các chi phí đó phát sinh hoặc các đối tượng gánh chịu chi phí.
- Địa điểm phát sinh chi phí như: phân xưởng, đội trại sản xuất…
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
10
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
- Đối tượng gánh chịu chi phí : sản phẩm, công việc hoặc lao vụ do doanh
nghiệp đang sản xuất, công trình, hạng mục công trình, đơn đặt hàng…
Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp có thể là:
- Từng sản phẩm, chi tiết sản phẩm, nhóm sản phẩm, đơn đặt hàng.
- Từng phân xưởng, giai đoạn công nghệ sản xuất.
Sự khác nhau về tác dụng:
Việc xác định đối tượng kế toán tập hợp chi phí sản xuất là cơ sở để mở
các tài khoản cấp 2, cấp 3, để tổ chức kế toán tập hợp chi phí chi tiết theo đúng
đối tượng nhằm kiểm tra, kiểm soát chi phí.
Việc xác định đối tượng tính giá thành là căn cứ để kế toán mở các bảng
tính giá thành và tổ chức tính giá thành theo đúng đối tượng.
1.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất trong doanh nghiệp
1.3.1 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất
Nội dung cơ bản của phương pháp kế toán tập hợp chi phí sản xuất là căn
cứ vào các đối tượng tập hợp chi phí sản xuất đã xác định để mở các sổ kế toán
nhằm ghi chép, phản ánh các chi phí phát sinh theo đúng các đối tượng hoặc tính
toán, phân bổ phần chi phí phát sinh cho các đối tượng đó.
Tại các doanh nghiệp hiện nay có hai phương pháp tập hợp chi phí như sau:
- Phương pháp tập hợp trực tiếp : Được sử dụng để tập hợp các loại chi phí
có liên quan trực tiếp đến các đối tượng tập hợp chi phí đã xác định, các chi phí
này được quy nạp trực tiếp vào từng đối tượng kế toán tập hợp chi phí liên quan.
Phương pháp phân bổ gián tiếp: Được áp dụng trong trường hợp chi phí
sản xuất phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí sản xuất, không
tổ chức ghi chép ban đầu chi phí sản xuất phát sinh riêng cho từng đối tượng
được.
1.3.2 Phương pháp kế toán tập hợp chi phí
1.3.2.1 Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp bao gồm các khoản chi phí về nguyên
vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, nửa thành phẩm… được dùng trực tiếp
cho việc sản xuất, gia công, chế biến sản phẩm.
Phương pháp hạch toán
Chi phí nguyên vật liệu thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
12
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
NVLTT
trong kỳ
-
Trị giá
NVLTT còn
lại cuối kỳ
Trị giá
phế liệu
thu hồi
+
Trị giá
NVLTT
còn lại đầu kỳ
Trị giá
NVLTT xuất
dùng trong kỳ
=
-
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
- Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng trực tiếp cho sản xuất, chế tạo
sản phẩm hoặc thực hiện lao vụ dịch vụ trong kỳ.
Bên Có:
- Trị giá vốn nguyên liệu, vật liệu sử dụng không hết, nhập lại kho.
- Trị giá của phế liệu thu hồi (nếu có)
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế sử dụng cho sản xuất
kinh doanh trong kỳ.
- Kết chuyển chi phí nguyên vật liệu vượt trên mức bình thường
Tài khoản 621 không có số dư
Trình tự kế toán các nghiệp vụ chủ yếu được trình bày ở sơ đồ 1.1.
Sơ đồ1.1 : Sơ đồ kế toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Chi phí (tiền lương) được xác định căn cứ vào từng hình thức tiền lương là
tiền lương sản phẩm hay tiền lương thời gian mà doanh nghiệp áp dụng.
- Tiền lương sản phẩm liên quan trực tiếp tới từng đối tượng kế toán tập
hợp chi phí được tập hợp cho từng đối tượng.
- Tiền lương thời gian, tiền lương phụ liên quan gián tiếp tới các đối tượng
phải phân bổ cho từng đối tượng theo các tiêu chuẩn phân bổ hợp lý.
Các khoản trích theo lương tính được tính theo tỉ lệ chế độ quy định:
- BHXH: 20% theo tiền lương cơ bản, trong đó 15% tính vào CPSXKD và
5% là đóng góp của người lao động.
- BHYT: 3% theo tiền lương cơ bản, trong đó 2% tính vào CPSXKD và 1%
là đóng góp của người lao động.
- KPCĐ: 2% theo tiền lương thực tế và tính cả vào CPSXKD.
Số tiền lương phải trả cho công nhân sản xuất cũng như các đối tượng lao
động khác thể hiện trên bảng tính và thanh toán lương, được tổng hợp cho các
đối tượng kế toán chi phí sản xuất trên bảng phân bổ tiền lương.
Phương pháp hạch toán:
Đối với những khoản CPNCTT có liên quan đến từng đối tượng kế toán tập hợp
chi phí, kế toán tiến hành tập hợp trực tiếp. Đối với những khoản CPNCTT có
liên quan đến nhiều đối tượng mà không hạch toán trực tiếp được (như tiền
lương phụ, các khoản phụ cấp ) được tập hợp chung sau đó kế toán sẽ phân bổ
cho từng đối tượng theo một tiêu chuẩn phân bổ hợp lý. Tiêu chuẩn để phân bổ
chi phí nhân công trực tiếp có thể là: Chi phí tiền lương định mức (hoặc kế
hoạch), giờ công định mức, giờ công thực tế, khối lượng sản phẩm sản xuất ra…
Tài khoản sử dụng
TK 622 - Chi phí nhân công trực tiếp. Tài khoản 622 được dùng để tập
hợp và phân bổ tiền lương và các khoản trích theo lương của người lao động
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
15
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
thuộc doanh nghiệp quản lý và lao động thuê ngoài theo từng loại công việc
Kết chuyển chi phí sản xuất
Trên mức bình thường
16
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
- Chi phí vật liệu
- Chi phí dụng cụ sản xuất
- Chi phí khấu hao TSCĐ
- Chi phí dịch vụ mua ngoài
- Chi phí khác bằng tiền
Phương pháp hạch toán
CPSXC phải được tập hợp theo từng địa điểm phát sinh chi phí. Một
doanh nghiệp nếu có nhiều phân xưởng, thì kế toán phải mở sổ chi tiết để tập
hợp chi phí sản xuất chung cho từng phân xưởng sản xuất, từng tổ đội Cuối
tháng tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung đã tập hợp được kết chuyển tính
giá thành. Chi phí sản xuất chung của đội, phân xưởng sản xuất nào thì kết
chuyển tính vào giá thành sản phẩm lao vụ của sản phẩm đó, nếu sản xuất nhiều
loại sản phẩm thì phải tiến hành phân bổ chi phí sản xuất chung cho các sản
phẩm liên quan. Tiêu thức phân bổ được chọn có thể là : chi phí nhân công trực
tiếp, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Việc tính toán xác định chi phí sản xuất chung tính vào chi phí chế biến sản
phẩm còn phải căn cứ vào mức công suất hoạt động thực tế của phân xưởng:
+ Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra thấp hơn công suất bình
thường thì chi phí sản xuất chung cố định chỉ được phân bổ vào chi phí chế biến
cho mỗi đơn vị sản phẩm theo mức công suất bình thường. Khoản chi phí sản
xuất chung không được phân bổ được ghi nhận là chi phí sản xuất, kinh doanh
trong kỳ.
+ Trường hợp mức sản phẩm thực tế sản xuất ra cao hơn công suất bình
thường thì chi phí sản xuất chung cố định được phân bổ cho mỗi đơn vị sản
phẩm theo chi phí thực tế phát sinh
Tài khoản sử dụng
nhân công trực tiếp, và chi phí sản xuất chung theo từng đối tượng trên các TK 621,
622, 627, kế toán sẽ tiến hành kết chuyển hoặc phân bổ các loại chi phí này để tập
hợp toàn bộ chi phí sản xuất cho từng đối tượng chịu chi phí.
• Trường hợp doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho
theo phương pháp kê khai thường xuyên
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
Tk 627 Tk 154(631)
Tk 632
Tk 334,338
Tk 152
Tk 153(142,242)
Tk 214
Tk 111,112,141,331
Chi phí nhân viên
Chi phí vật liệu
Chi phí công cụ dụng cụ
Chi phí khấu hao TSCĐ
Chi phí dịch vụ mua ngoài
ngoµi ,
Chi phí khác bằng tiền
CPSXC phân bổ vào chi
Chi phí chế biến trong kỳ
CPSXC không được phân bổ
ghi nhận CPSXKD trong kỳ
19
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (phương pháp kê
khai thường xuyên)
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
20
tính theo lương của nhân
viên phân xưởng
CP NVL, CCDC xuất dùng
chung cho phân xưởng
CP khấu hao TSCĐ
TK 214
TK 111, 112, 141
CP dịch vụ mua ngoài và
CP khác bằng tiền
TK 133
Thuế GTGT
được khấu trừ
K/C chi phí
SXC
TK 155
157
Zsp hoàn thành
nhập kho
Zsp hoàn
thành gửi bán
Zsp hoàn
thành đã bán
CP SXC dưới mức công suất bình
thường không được phân bổ vào giá
thành
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
• Trường hợp Doanh nghiệp áp dụng phương pháp kế toán hàng tồn kho
theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Sơ đồ kế toán tập hợp chi phí sản xuất toàn doanh nghiệp (Phương pháp
kiểm kê định kỳ)
NC trực tiếp
TK 632
CP SXC dưới mức
công suất bình
thường không được
phân bổ vào giá
thành
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
1.3.2.5 Máy thi công
Máy thi công là các loại xe máy chạy bằng động lực (Điện, xăng dầu, khí
nén…) được sử dụng trực tiếp để thi công xây lắp các công trình như:Máy trộn
bê tông, cần cẩu, máy đào xúc đất, máy ủi, máy đóng cọc, ô tô vận chuyển đất
đá ở công trường
Chi phí sử dụng máy thi công là toàn bộ các chi phí về vật liệu, nhân công và
các chi phí khác có liên quan đến sử dụng máy thi công và được chia thành 2
loại: chi phí thường xuyên và chi phí tạm thời
• Chi phí thường xuyên: Là những chi phí phát sinh trong quy trình sử dụng
xe máy thi công, được tính thẳng vào giá thành của ca máy như: Tiền
lương của công nhân trực tiếp điều khiển hay phục vụ xe máy, chi phí về
nhiên liệu, động lực…
• Chi phí tạm thời: Là những chi phí phải phân bổ dần theo thời gian sử
dụng máy thi công như: Chi phí tháo lắp, vận chuyển, chạy thử…Những
chi phí này có thể phân bổ dần hoặc trích trước theo kế hoạch cho nhiều
kỳ
1.4 Tổ chức công tác kế toán tính giá thành tại doanh nghiệp
1.4.1 Kỳ tính giá thành
Kỳ tính giá thành là thời điểm bộ phận kế toán giá thành cần tiến hành công
việc tính giá thành cho các đối tượng tính giá thành.
Mỗi doanh nghiệp có đặc điểm sản xuất khác nhau thì kỳ tính giá thành là
khác nhau:
x
Định mức chi phí
giai đoạn i
+Với chi phí bỏ từ từ:
CPSXDD cuối
kỳ giai đoạn i
=
Số lượng
SPDD cuối kỳ
giai đoạn i
x
Mức độ
hoàn thành
của SPDD
x
Địnhmức
chi phí giai
đoạn i
Ưu điểm: Phương pháp này cho phép tính toán nhanh chóng, thuận tiện,
đáp ứng yêu cầu thông tin tại mọi thời điểm.
Nhược điểm: Tuy nhiên, nếu sử dụng phương pháp này thì kết quả tính
toán có độ chính xác không cao, và cũng khó áp dụng vì thông thường xây
dựng được định mức chuẩn xác là rất khó khăn.
Điều kiện áp dụng: Việc áp dụng phương pháp này phù hợp với những
doanh nghiệp đã xây dựng được định mức chi phí hợp lý hoặc sử dụng phương
pháp tính giá thành theo định mức.
1.4.2.2 Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí sản xuất
thực tế
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí vật liệu trực
tiếp (hoặc chi phí vật liệu chính trực tiếp)
v
: CPNVL chính trực tiếp ( hoặc CPNVL trực tiếp) phát sinh trong kỳ.
Q
ht
: Khối lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ.
Q
dck
: Khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ.
Điều kiện áp dụng: Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp
doanh nghiệp có chi phí nguyên liệu, vật liệu chính trực tiếp (hoặc chi phí
nguyên liệu, vật liệu trực tiếp) chiếm tỷ trọng lớn trong tổng chi phí sản xuất,
khối lượng sản phẩm dở dang ít và tương đối ổn định giữa các kỳ.
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
24
Học viện tài chính Luận văn cuối khóa
Theo phương pháp nhập trước, xuất trước:
D
CK
=
C
v
Q
bht
+ Q
dck
x Q
dck
Trong đó: Q
bht
: Khối lượng sản phẩm bắt đầu sản xuất và hoàn thành trong kỳ.
chuyển sang
Q
hti
+ Q
dcki
x
Q
dcki
Ưu điểm của phương pháp này là tính toán đơn giản, dễ làm, xác định
chi phí sản phẩm dở dang cuối kỳ được kịp thời phục vụ cho việc tính giá
thành sản phẩm được nhanh chóng.
Nhược điểm của phương pháp này là cho kết quả có độ chính xác không cao
vì không tính đến các chi phí chế biến khác.
Phương pháp đánh giá sản phẩm dở dang theo khối lượng sản phẩm
hoàn thành tương đương
Nội dung của phương pháp: Theo phương pháp này, kế toán tính cho
sản phẩm dở dang cuối kỳ cả chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và các chi phí
sản xuất khác, khối lượng sản phẩm dở dang cuối kỳ được quy đổi thành khối
SV: Nguyễn Phi Trương Lớp CQ44/21.13
25