luận văn đại học sư phạm Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh THPT - Pdf 26

Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cả nhân loại bước sang thế kỉ thứ XXI, một nền văn minh mới “Nền văn
minh hậu công nghiệp”. Xã hội có được sự thay đổi to lớn này là do: Có sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật. Sự phát triển đú đó ảnh hưởng lên tất cả
các mặt văn hoá- kinh tế- chính trị trong đó có giáo dục. Giáo dục đóng một vai
trò lớn trong việc phát huy tiềm năng trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người
Việt Nam, là động lực quan trọng để đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước đưa nước ta tiến lên, vững vàng hội nhập kinh tế quốc tế và sánh vai
cựng cỏc cường quốc trên thế giới.
Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, nhu cầu của thực
tiễn xã hội đòi hỏi con người lao động mới phải là con người có năng lực tri
thức (năng lực trí tuệ), năng lực giải quyết vấn đề trong môi trường sống luôn
biến động. Vì vậy giáo dục nước nhà cần phải có sự đổi mới cả về nội dung và
phương pháp giảng dạy, nhà trường phải tổ chức hoạt động dạy và học như thế
nào để sau khi ra trường học sinh có khả năng tự học, tự thích nghi với hoàn
cảnh mới, muốn vậy phải đạt mục tiêu “ giúp học sinh phát triển toàn diện về
đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ, các kĩ năng cơ bản, phát triển năng lực cá
nhân, tính năng động sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội
chủ nghĩa, xây dựng tư cách, trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp
tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động tham gia xây dựng và bảo vệ tổ
quốc” (Điều 27- Luật Giáo dục của quốc hội nước CHXHCN Việt Nam số
38/2005/ QH 10 ngày 14- 6- 05).
Để đạt mục tiêu đó, ngành giáo dục kết hợp với cấp uỷ, chính quyền tích
cực thực hiện các biện pháp phát triển giáo dục. Ngành luôn chú trọng thực hiện
các biện pháp nâng cao chất lượng giáo dục, thực hiện đổi mới chương trình nội
dung sách giáo khoa, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Tuy nhiên thực tế
cho thấy việc thực hiện mục tiêu trên là chưa hiệu quả, đặc biệt là môn Công
nghệ ở các trường phổ thông. Do nhiều nguyên nhân khác nhau cả chủ quan lẫn
Nguyễn Thị Giang K55A-

4.1. Nhiệm vụ
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
2
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài phải giải quyết các
vấn đề sau:
- Xác định cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc khai thác kiến thức vật
lí trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT nhằm tích
cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh.
- Đề xuất các con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ
thuật điện môn công nghệ 12 ở trường THPT.
- Thiết kế bài dạy theo hướng khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần
kĩ thuật điện môn công nghệ 12.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của đề tài.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 ở THPT theo
chương trình hiện hành và những kiến thức vật lí phổ thông có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí luận (nghiên cứu lí thuyết): Nghiên cứu và thu
thập thông tin liên quan đến môn công nghệ và môn vật lí, con đường khai thác
kiến thức vật lí trong bài dạy môn công nghệ 12.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Sử dụng phương pháp thực nghiệm sư phạm.
6. Cấu trúc của khóa luận
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cả nhân loại bước sang thế kỉ thứ XXI, một nền văn minh mới “Nền văn
minh hậu công nghiệp”. Xã hội có được sự thay đổi to lớn này là do: Có sự phát
triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật. Sự phát triển đú đó ảnh hưởng lên tất cả
các mặt văn hoá- kinh tế- chính trị trong đó có giáo dục. Giáo dục đóng một vai

các thiết bị kĩ thuật, chưa được tham gia vào lao động sản xuất thực tế. Vì vậy
học sinh không hứng thú học tập, khả năng tư duy, năng lực vận dụng kiến thức
kĩ thuật vào thực tiễn để giải quyết các vấn đề kĩ thuật còn yếu.
Kiến thức công nghệ liên quan rất nhiều đến kiến thức cỏc mụn khoa học
khác đặc biệt là môn vật lớ. Mụn công nghệ THPT nói chung và môn công nghệ
12 nói riêng có nội dung kiến thức liên quan nhiều đến môn vật lí vì vậy cần làm
rừ lụgic phát triển của nội dung môn học đó là: từ kiến thức cơ bản đến triển
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
4
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
khai ứng dụng. Là một sinh viên sắp ra trường sẽ tiếp tục dạy môn công nghệ ở
trường phổ thông, tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu là: “Khai thác kiến thức vật lí
trong dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt
động nhận thức của học sinh THPT”. Với mong muốn đóng góp một phần nhỏ
bé của mình vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học môn học, góp phần
hoàn thành mục tiêu giáo dục trong thời đại mới, dạy học theo hướng phát huy
tích cực, tự lực của của học sinh. Góp phần định hướng nghề nghiệp cho học
sinh khi rời khỏi ghế nhà trường tiếp tục học tập chuyờn sõu hoặc tham gia vào
lao động sản xuất.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiờn cứu và đề xuất con đường khai thác kiến thức vật lí trong dạy học
phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức
của học sinh.
3. Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp dạy học phần kĩ thuật điện môn công nghệ 12 THPT trên cơ
sở khai thác kiến thức VL nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh
4. Nhiệm vụ ,phạm vi nghiên cứu
4.1. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ của đề tài phải giải quyết các

Phần II: Nội dung
Chương I: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương II: Khai thác kiến thức vật lí trong dạy học phần kĩ thuật điện
môn công nghệ 12 THPT.
Chương III: Thực nghiệm sư phạm.
Phần III: Kết luận và một số kiến nghị
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
6
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
PHẦN HAI: NỘI DUNG
Chương I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CỞ SỞ THỰC TIỄN
1.1. Cơ sở lí luận
Hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, hoà nhập với cộng đồng trong khu vực Đông Nam Á và thế giới.
Trước tình hình đó, Hội nghị ban chấp hành TW Đảng cộng sản Việt Nam lần
thứ 2, khoá VIII đã chỉ rõ mục tiêu của giáo dục trong giai đoạn hiện nay là giáo
dục thế hệ trẻ Việt Nam thiết tha, gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và Chủ
nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ tổ
quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa; tham gia tích cực vào sự nghiệp Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn hoá truyền
thống, tiếp thu tinh hoa văn hoá của nhân loại; có ý thức cộng đồng và phát huy
tính tích cực cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy
sáng tạo, kĩ năng thực hành giỏi, có tác phong lao động công nghiệp…. Như vậy
mục tiêu giáo dục của nước ta trong thời gian dài vẫn giữ vững quan điểm giáo
dục toàn diện.
Đặc biệt, cùng với xu hướng phát triển của giáo dục thế giới, các phương
pháp dạy học nhằm đào tạo ra những con người phát triển toàn diện mà cụ thể là
hình thành và phát triển tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh đã được

Tuy nhiên, quá trình nhận thức trong học tập của học sinh là quá trình nhận thức
những gì mà nhân loại đã biết, sau đó học sinh tự vận dụng kiến thức đó cú vào
cuộc sống.
Tóm lại quá trình từ không có kiến thức đến có kiến thức là quá trình đòi
hỏi sự vận động tích cực, tự lực trong học tập của học sinh. Đây là quá trình vận
động biện chứng được phản ánh trong các quy luật của duy vật biện chứng. Để
quá trình học tập của học sinh có hiệu quả thì phải phát huy tính tích cực, tự lực
học tập của học sinh.
1.1.2. Quan điểm giáo dục học.
Phát huy tính tích cực, tự lực học tập của học sinh trong quá trình dạy học
luôn được các nhà giáo dục học quan tâm
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
8
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
Nhà giáo dục học dân chủ Đức Disterver A. hết sức coi trọng sự phát triển
năng lực nhận thức nói chung và tính tích cực, tự lực sáng tạo nói riêng của học
sinh. Theo ông người giáo viên cần khơi dậy được sự nhiệt tình say mê học tập
của học sinh, lòng khát khao tri thức và dạy cho các em tính độc lập suy nghĩ
tìm tòi để phát triển năng lực sẵn có của mình. X.L Rubinxtin khi sinh thời đã
nói: “Con người chỉ thực sự nắm vững cái mà chính bản thân họ giành được
bằng lao động của mỡnh.Cú thể cái mà họ giành được chỉ là những khám phá
lại”. Như vậy học sinh sẽ ghi nhớ đầy đủ và khắc sâu được những kiến thức
trong bài học mà các em biểu lộ tính tích cực tư duy cao. Khoa học giáo dục học
vẫn đang tiếp tục nghiên cứu vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực của học sinh
nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học ở phổ thông. Qua quá trình nghiên cứu các
nhà giáo dục học đã chỉ ra các nguyên tắc lí luận giáo dục mới nhất cần chú ý
khi thực hiện việc dạy học. Các nguyên tắc đó là:
- Việc dạy học phải được tiến hành ở mức khó khăn cao.
- Việc nắm vững kiến thức phải chiếm ưu thế cao.

bày tài liệu, chương trình và tổ chức công tác học tập của học sinh, với sự căng
thẳng trí tuệ bên trong của các em mới tạo nên cơ sở của sự học tập có kết quả.
Tính tích cực, tự lực của học sinh càng cao thì sự cân bằng sinh hoá càng
phong phú, kiến thức học sinh lĩnh hội càng sâu sắc và vững chắc.
Tõm lí học và lí luận dạy học hiện đại đã khẳng định: Con đường hiệu quả
nhất, để làm cho học sinh nắm vững kiến thức và phát triển năng lực sáng tạo là
phải đưa học sinh vào chủ thể của hoạt động nhận thức. Nắm vững kiến thức,
thực sự lĩnh hội chúng cái đó phải tự mình làm lấy bằng trí tuệ của bản thân.
Tóm lại theo quan điểm này việc nắm vững nguồn tri thức đòi hỏi học sinh
phát huy tính tích cực tìm tòi, ham hiểu biết.
1.1.4. Bản chất tính tích cực, tự lực học tập của học sinh.
Khi xem xét vấn đề phát huy tính tích cực tự lực học tập của học sinh theo
các quan điểm khác nhau: triết học, giáo dục học, tâm sinh lí học thì tất cả
những quan điểm này đều đưa ra qui luật của sự học tập và coi qui luật này là
quá trình hoạt động tích cực nhận thức của học sinh. Vậy bản chất tính tích cực
tự lực của học sinh được hiểu như thế nào?
a. Tính tích cực
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
10
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
- Tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã
hội. Tính tích cực của con người biểu hiện trong mọi hoạt động, đặc biệt là
những hoạt động chủ động. Học tập là hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi đi học. Tính
tích cực của con người ở lứa tuổi này là tính tích cực trong học tập.
- Tính tích cực học tập là một hiện tượng sư phạm biểu hiện sự cố gắng cao
về nhiều mặt trong học tập. Nói tới tính tích cực trong học tập thực chất là nói
tới tính tích cực nhận thức của học sinh.
- Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của học sinh đặt trên bờ
khát vọng hiểu biết, sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững

lớp, trong phòng thí nghiệm, thực hành ở nhà.
+ Việc nghiên cứu ở sách giáo khoa, sách bài tập và tài liệu kĩ thuật có liên
quan đến bài học.
+ Việc thực hiện các bài thí nghiệm, tìm tòi phát hiện kiến thức mới.
1.1.5. Những chỉ tiêu của tính tích cực, tự lực nhận thức
Tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh được thể hiện qua nhiều hành
động như:
+ Câu hỏi của học sinh nêu lên cho giáo viên là một biểu hiện về tính tích
cực nhận thức. Câu hỏi có thể thể hiện lòng mong muốn làm sáng tỏ điều mình
chưa rõ, muốn đi sâu vào môn học mà mình hứng thú. Câu hỏi do học sinh tự
đặt ra, thể hiện mong muốn tìm ra những điều chưa biết. Còn những học sinh
thờ ơ thụ động trong học tập thì họ không thắc mắc, không có gì băn khoăn khi
gặp những vấn đề không giải quyết được. Tuy nhiên bất kì một thắc mắc nào
của học sinh không chỉ là chỉ tiêu của tính tích cực mà còn là con đường củng cố
tính tích cực cũng như hứng thú học tập của học sinh.
+ Tính tích cực, tự lực là lòng mong muốn của học sinh tham gia vào các hoạt
động, các cuộc thảo luận những vấn đề đó nờu trong buổi học, trong việc bổ sung
hoặc sửa chữa những câu trả lời của bạn hay muốn thể hiện quan điểm của mình.
+ Tính tích cực nhận thức đi kèm với hứng thú nhận thức là sự vận dụng
linh hoạt vốn tri thức và kĩ năng đó cú vào những tình huống có vấn đề.
Như vậy để phát huy tính tích cực, tự lực nhận thức của học sinh cần phải
có phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của học
sinh. Được cụ thể hóa đối với từng môn học, sẽ có những con đường tiếp cận
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
12
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
kiến thức khác nhau để phù hợp với nội dung môn học, đạt được mục tiêu bài
học và tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh.
1.2. Cơ sở thực tiễn

công nghiệp trên cơ sở những kiến thức công nghệ ở THCS và quan điểm công
nghệ, đồng thời tiếp tục hình thành và phát triển tư duy kĩ thuật (TDKT) và năng
lực sáng tạo ở sau bậc trung học cơ sở (THCS).
- Kĩ năng: Hình thành và phát triển tiếp một số kĩ năng thực hành kĩ thuật
cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và hướng nghiệp thuộc lĩnh vực công nghiệp
dựa trên cơ sở những kiến thức được học và những kĩ năng đã được hình thành ở
bậc THCS, đồng thời học sinh được bồi dưỡng năng lực kĩ thuật (NLKT) ban
đầu trong học tập và nghiên cứu được thể hiện qua việc vận dụng kiến thức vào
đời sống thực tiễn và xã hội.
- Thái độ: Học sinh phải có hứng thú hiểu biết và có ý thức sáng tạo, có
thói quen lao động theo kế hoạch, tuân thủ qui trình công nghệ. Rèn luyện, hình
thành tác phong công nghiệp và có ý thức bảo vệ môi trường và định hướng
được nghề nghiệp sau khi tốt nghiệp phổ thông.
b. Môn Vật lí
Căn cứ vào mục tiêu chung của giáo dục phổ thông, được cụ thể hoá đối
với môn học. Mục tiêu của dạy học môn vật lí ở trường THPT là:
- Kiến thức: Học sinh có hiểu biết về hệ thống kiến thức vật lí phổ thông ,
cơ bản, hiện đại mang tính khái quát về các khái niệm, qui luật, định luật vật lí,
nội dung chính của các thuyết vật lí và các ứng dụng quan trọng nhất của vật lí
trong đời sống và trong sản xuất.
- Kĩ năng: Hình thành và phát triển một số kĩ năng cơ bản như kĩ năng sử
dụng các dụng cụ vật lí, đặc biệt là những dụng cụ đo lường, kĩ năng lắp ráp
thiết bị để thực hiện các thí nghiệm vật lí, vẽ biểu đồ và xử lớ cỏc số liệu đo đạc
thu được và đưa ra kết luận.
- Thái độ: Học sinh phải có hứng thú hiểu biết, ham học hỏi, có ý thức sáng
tạo. Rèn luyện và hình thành tác phong lao động tuân thủ theo qui trình. Có ý
thức bảo vệ môi trường và định hướng được nghề nghiệp trong tương lai.
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
14

Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
15
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
học- kĩ thuật phát triển mạnh sau này
+ Nhiệm vụ giáo dục: nhằm quán triệt nguyên tắc thống nhất giữa dạy học
và giáo dục do vậy thông qua dạy học các phần nội dung cụ thể chú ý giáo dục
học sinh về các mặt:
- Kĩ thuật tổng hợp và hướng nghiệp.
- Tác phong công nghiệp: lao động có kế hoạch có quy trình, trật tự vệ sinh,
kỉ luật an toàn lao động và bảo vệ môi trường.
- Thế giới quan khoa học để học sinh có niềm tin về vận dụng tri thức vào
thực tiễn và dễ dàng hoà nhập vào cuộc sống sau khi tốt nghiệp THPT.
Ba nhiệm vụ của dạy học môn công nghệ ở THPT có mối quan hệ chặt chẽ
với nhau, có mối quan hệ biện chứng có sự tương hỗ thúc đẩy cho việc thực
hiện. Thực hiện nhiệm vụ trí dục là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ phát triển và
giáo dục, vì không có nền tri thức và phương pháp nhận thức đỳng thỡ không
thể phát triển trí tuệ và hình thành nhân cách. Mặt khác sự phát triển trí tuệ và
năng kĩ thuật là kết quả có được qua nắm vững tri thức và cũng là điều kiện cho
việc chiếm lĩnh tri thức mới và tạo điều kiện hình thành niềm tin, nhân cách.
Hình thành nhân cách chính là kết quả tất yếu khi đã nắm vững được tri thức và
phát triển trí tuệ. Đây là mục đích cuối cùng của dạy học nhưng lại là yếu tố kích
thích thúc đẩy việc nắm vững tri thức và phát triển năng lực.
b. Môn Vật lí
Các mục tiêu và nhiệm vụ của trường phổ thông được thực hiện chủ yếu
thông qua dạy học cỏc mụn khoa học. Căn cứ vào mục tiêu nhiệm vụ chung và
đặc điểm riêng của môn học để xác định nhiệm vụ cụ thể của dạy học môn vật lí:
+ Trang bị cho học sinh những kiến thức phổ thông, cơ bản, hiện đại, có hệ
thống,bao gồm:
- Các khái niệm vật lí.

học kiên trì, dũng cảm đi sâu tìm kiếm những định luật vật lớ dự gặp phải một
số hiện tượng mà trước đây chưa biết nguyên nhân. Mặt khác không có trình độ
tư duy phát triển thì khó có thể thực hiện sự khái quát hoá cao, do đó khó có thể
có thế giới quan khoa học vững chắc.
Vật lí ở trường phổ thông chủ yếu là vật lí thực nghiệm, trong đó có sự kết
hợp nhuần nhuyễn giũa quan sát, thí nghiệm và suy luận lí thuyết để đạt được sự
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
17
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
thống nhất giữa lí luận và thực tiễn. Bởi vậy, việc rèn luyện kĩ năng, kĩ xảo thực
hành thí nghiệm sẽ bổ trợ rất tốt cho việc phát hiện những quy luật của tự nhiên
cũng như kiểm tra tính đúng đắn của các kiến thức lí thuyết. Những ứng dụng
trong kĩ thuật của vật lí không những phục vụ nhu cầu đời sống và sản xuất mà
còn phục vụ cho chính công việc nghiên cứu vật lí học, nâng cao khả năng hoạt
động của chính người nghiên cứu, học tập vật lí.
1.2.3. Đặc điểm kiến thức
a. Môn công nghệ
+ Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
- Tính đa chức năng,đa phương án:
Tính đa chức năng thể hiện rõ ở công dụng, khả năng ứng dụng và phạm
vi công nghệ của đối tượng kĩ thuật là các sản phẩm kĩ thuật thiết bị, quá trình
công nghệ.
Tính đa phương án thể hiện khả năng tạo dựng nờn cỏc đối tượng kĩ thuật
và thực hiện các phương án công nghệ.
Trong quá trình dạy học giáo viên nên hướng dẫn học sinh biết cách khai
thác tìm hiểu những chức năng của đối tượng kĩ thuật để thấy rõ vai trò và phạm
vi ứng dụng của đối tượng kĩ thuật. Đồng thời giáo viên nên gợi mở để học sinh
biết cách đề xuất nhiều phương án thực hiện, nhiều giải pháp kĩ thuật hướng dẫn
các em phân tích để tìm ra phương án tối ưu.

nguyờn lớ kĩ thuật, những diễn biến xảy ra bên trong đối tượng kĩ thuật hoặc
trong quá trình tiến hành qui trình công nghệ. Đó là những vấn đề tạo cơ sở cho
học sinh nhận thức cảm tính ban đầu làm dữ liệu cho tư duy, sách giáo khoa
hoặc những tài liệu học tập những nội dung trừu tượng được mô phỏng bằng
hình vẽ, sơ đồ.
Để đảm bảo được đặc điểm này thì trong quá trình dạy học phải đảm bảo
theo nguyên tắc thống nhất giữa cụ thể và trừu tượng. Khi hướng dẫn học sinh
tiếp thu mọi thông tin trong bài học bằng cách xây dựng xuất phát điểm của
khâu nhận thức là trừu tượng hay cụ thể mà vận dụng hướng dẫn học sinh tư duy
hợp lí theo con đường qui nạp hay diễn dịch. Phải cụ thể hoá nội dung trừu
tượng bằng cách xây dựng và sử dụng đúng đắn vai trò của phương tiện trực
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
19
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
quan, bằng ứng dụng công nghệ thông tin, bằng các ví dụ liên hệ gần gũi để
minh hoạ.
- Tính thực tiễn:
Nội dung môn học mang tính ứng dụng cao bởi đối tượng nghiên cứu của
kĩ thuật thuộc thực tiễn đời sống sản xuất. Mục đích nghiên cứu của công nghệ
(KTCN) nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn của con người ngày càng cao thông
qua việc vận dụng kiến thức khoa học kĩ thuật cơ sở để cải tiến các qui trình lạc
hậu, phát minh ra các thiết bị mới, các qui trình công nghệ ngày càng hoàn hảo
với mức độ tự động hoá ngày càng cao để triển khai vào ứng dụng thực tế.
Trong dạy học công nghệ giáo viên cần cho học sinh thấy tính thực tiễn của
nội dung nghiên cứu khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu chức năng nhiệm vụ của
các đối tượng, vấn đề nghiên cứu trong nội dung bài học nhằm giải quyết vấn đề
nào đặt ra trong thực tiễn, giải quyết bằng con đường nào. Đồng thời cần quan
tâm khai thác kiến thức thực tiễn của học sinh để học sinh biết tích cực chủ động
tìm tòi kiến thức, giải quyết các vấn đề đặt ra trong bài hoặc từ việc hướng dẫn

xuất xứ từ vật lí học nhưng ngày nay cũng được sử dụng rộng rãi trong nhiều
ngành khoa học khác.
Vật lí học nghiên cứu các dạng vận động cơ bản nhất của vật chất nên
nhiều kiến thức vật lí có liên quan chặt chẽ với các vấn đề cơ bản của triết học,
tạo điều kiện phát triển thế giới quan khoa học ở học sinh.
Vật lí học là cơ sở lí thuyết của việc chế tạo máy, thiết bị dùng trong đời
sống và sản xuất .
Vật lí học là một khoa học chính xác, đòi hỏi vừa có kĩ năng quan sát tinh
tế, khéo léo tác động vào tự nhiên khi làm thí nghiệm, vừa phải có tư duy lụgic
chặt chẽ, biện chứng vừa phải trao đổi thảo luận để khẳng định chõn lớ.
1.2.4. Mối quan hệ giữa vật lí, kĩ thuật và công nghệ
a. Các khái niệm
- Vật lí: vật lí là môn khoa học tư nhiên nghiên cứu những quy luật chung
nhất của các hiện tượng tự nhiên, nghiên cứu những tính chất và cấu tạo vật
chất, những định luật chuyển động của nó.
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
21
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
Những khái niệm vật lí và các quy luật của vật lí là cơ sở của toàn bộ khoa
học tự nhiên. Vật lí là môn khoa học chính xác, nó nghiên cứu những quy luật định
lượng của các hiện tượng. Các quy luật của vật lí dựa trên các kết quả nhận được
bằng con đường thực nghiệm hoặc được kiểm nghiệm chính xác bằng thực
nghiệm.
- Kĩ thuật: tuỳ vào cách tiếp cận,ta có nhiều khái niệm khác nhau về kĩ thuật
Kĩ thuật là tập hợp các phương tiện trang thiết bị vật chất cùng với tư liệu
về cách thức sử dụng trong quá trình sản xuất phục vụ nhu cầu sản xuất và đời
sống của con người.
- Công nghệ: là tập hợp gồm các phương pháp gia công và các phương tiện
kĩ thuật và các phương thức sử dụng nó, và những kinh nghiệm để lợi dụng quy

nghệ. Ngược lại kĩ thuật và công nghệ là điều kiện thúc đẩy vật lí phát triển.
1.2.5. Sự giao thoa giữa môn vật lí và môn công nghệ 12 THPT
Sự giao thoa giữa môn vật lí và môn công nghệ 12 THPT thể hiện về mục
tiêu môn học, đối tượng, phương pháp nghiên cứu nội dung của hai môn học
này. Trong nội dung dạy học của môn vật lớ cú một phần rất quan trọng đó là
các ứng dụng kĩ thuật của vật lớ. Đõy chớnh là cơ sơ khoa học của môn công
nghệ, đặc biệt là môn công nghệ 12. Đõy chớnh là ý tưởng ban đầu cho việc chế
tạo sản phẩm phục vụ đời sống sản xuất của con người.
Nội dung môn công nghệ 12 (phần KTCN) ở THPT là các kiến thức về
hiểu biết kĩ thuật, sử dụng và bảo quản chúng, vì vậy liên quan chặt chẽ đến kiến
thức khoa học, đặc biệt là kiến thức vật lí.
Mục tiêu quan trọng trong kiến thức vật lí là các ứng dụng để sáng chế kĩ
thuật. Đây chính là những ứng dụng của vật lí vào trong các ngành công nghệ và
đời sống. Khi dạy phần ứng dụng của kiến thức vật lí, học sinh được tìm hiểu
những nguyên tắc vật lí của các thiết bị kĩ thuật như: nguyên tắc và sơ đồ khối
của nhà máy điện, cách truyền tải điện năng đi xa, động cơ điện, máy phát
điện….
Cần thấy rằng phần ứng dụng của vật lí người ta chỉ đề cập đến các nguyên
tắc ứng dụng xuất phát từ vật lí, trong khi đó môn công nghệ là dựa trên những
nguyên tắc vật lí mà đề cập đến các giải pháp và chi tiết kĩ thuật. Khi học môn
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
23
Khoa S Ph¹m Kĩ Thuật Khóa luận tốt nghiệp
công nghệ nói chung và môn công nghệ 12 nói riêng học sinh hiểu rằng các giải
pháp kĩ thuật để giải quyết một vấn đề nào đó có thể rất khác nhau.
Đặc trưng của việc dạy học môn công nghệ (KTCN) là thường đi từ cái
chung (cái khái quát) đến cỏi riờng (cái cụ thể) để đảm bảo độ tin cậy, thời
lượng khối lượng và nội dung chương trình. Do đó trong dạy học môn công
nghệ 12 cần quan tâm đến cơ sở khoa học mà trực tiếp nhất là cơ sở kiến thức

- Tư duy vật lí (TDVL): là sự quan sát các hiện tượng vật lí, phân tích một
hiện tượng phức tạp thành những bộ phận đơn giản và xác lập giữa chúng những
mối quan hệ và những sự phụ thuộc xác định, tìm ra mối liên hệ giữa mặt định
tính và mặt định lượng của các hiện tượng và đại lượng vật lí, dự đoán các hệ quả
mới từ cỏc lớ thuyết và áp dụng những kiến thức khái quát thu được vào thực tiễn.
- Tư duy kĩ thuật (TDKT): là sự phản ánh khái quát cỏc nguyờn lớ kĩ thuật,
các quá trình kĩ thuật, các thiết bị kĩ thuật dưới dạng mô hình và kết cấu kĩ thuật
nhằm giải quyết các nhiệm vụ đặt ra trong thực tiễn sản xuất. TDKT là một loại
tư duy- một dạng hoạt động trí tuệ- của con người khi nghiên cứu giải quyết các
vấn đề đặt ra trong lĩnh vực kĩ thuật.
Quá trình dạy học phải hướng tới sự tiếp thu tri thức, hình thành và phát
triển toàn diện của học sinh trong học tập, tính ham hiểu biết, khả năng tư duy
và tự sáng tạo, khả năng tự áp dụng kiến thức vào thực tiễn cuộc sống. Một
trong những mục đích quan trọng của quá trình dạy học là làm cho học sinh phát
triển những năng lực nhận thức và năng lực hành động trên cơ sở của quá trình
nắm vững tri thức. Theo các nghiên cứu cho thấy sự phát triển tư duy của học
sinh diễn ra trong quá trình tiếp thu tri thức. Đối với dạy học môn công nghệ nói
chung và phần KTCN nói riêng thì dạy học môn kĩ thuật có mục đích quan trọng
là phát triển TDKT cho học sinh trên cơ sở kiến thức vật lí và TDVL.
Điểm tương đồng trong hai dạng tư duy này là chúng đều thuộc về tư duy
lụgic, một thuộc tính căn bản của con người.
TDVL và TDKT có mối quan hệ biện chứng. Sự khác biệt giữa TDVL và
TDKT thể hiện ở mục đích của hai loại tư duy này:
.TDVL: mục đích là khám phá, phát minh ra những quy luật, định luật trên
cơ sở quy nạp và thực nghiệm.
Nguyễn Thị Giang K55A-
SPKT
25

Trích đoạn Những lưu ý cần thiết khi sử dụng giáo án trên trong dạy học công nghệ 12 THPT KẾT LUẬN CHƯƠNG Đối tượng thực nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status