Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển từ đó đề xuất các giải pháp, liên hệ tại Công ty cổ phần Vinafco - Pdf 26

LỜI MỞ ĐẦU
Từ khi nền kinh tế sản xuất hàng hoá ra đời cho đến nay, vận tải hàng hoá luôn
đóng vai trò là một mắt xích trọng yếu của quá trình sản xuất, đảm trách khâu phân phối
và lưu thông hàng hoá. Các nhà kinh tế học đã ví rằng: “Nếu nền kinh tế là một cơ thể
sống, trong đó hệ thống giao thông là các huyết mạch thì vận tải là quá trình đưa các chất
dinh dưỡng đến nuôi các tế bào của cơ thể sống đó”. Vận tải hàng hóa đóng vai trò quan
trọng trong hoạt động lưu thông hàng hoá góp phần phát triển của xã hội. Vận chuyển
hàng hoá sẽ đóng góp một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng nền kinh tế đất nước.
Dưới góc độ chức năng quản trị logistics trong DN, hoạt động vận chuyển được ví
như sợi chỉ liên kết các tác nghiệp sản xuất-kinh doanh tại các địa bàn khác nhau của
doanh nghiệp.Vận chuyển để cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phẩm và hàng hóa đầu
vào cho các cơ sở trong mạng lưới logistics.Vận chuyển để cung ứng hàng hóa tới khách
hàng đúng thời gian và địa điểm họ yêu cầu, đảm bảo hàng hóa an toàn trong mức giá
thỏa thuận.Tuy nhiên vấn đề đặt ra hiện nay là chi phí vận chuyển vẫn còn cao trong các
DN. Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường các DNVN hiện nay cần thiết phải
tìm ra các biện pháp để cắt giảm chi phí đến mức tốt nhất có thể.Đề tài của chúng tôi "
Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển từ đó đề xuất các giải pháp giảm
CPVT cho cac DN tại VN hiện nay
1
PHẦN I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT.
I. Các nhân tố thuộc về sản phẩm.
1. Khoảng cách vận chuyển.
Khoảng cách vận chuyển là yếu tố cơ bản ảnh hưởng tới chi phí vận chuyển.
Ta có Σ CFVC = CFBĐ + CFCĐ trong đó :
CFBĐ bao gồm 2 loại
• CFBĐ tỷ lệ thuận trực tiếp với biến động của khoảng cách vận chuyển như chi phí
nguyên nhiên liệu, chi phí lao động trực tiếp, chi phí bảo quản hàng hóa, chi phí tạo lập lô
hàng, chi phí hành chính, lệ phí đường,
• CFBĐ chỉ thay đổi khi khoảng cách vận chuyển thay đổi nhiều và rõ ràng như chi phí
lao động gián tiếp, chi phí duy tu, bảo dưỡng máy móc phương tiện vận tải, …
CFCĐ bao gồm chi phí mua phương tiện vận tải, chi phí đầu tư thiết bị bảo quản hàng

nhờ đó giảm chi phí vận chuyển.
3. Mức độ cạnh tranh giữa các đơn vị vận tải.
3
Trong điều kiện Việt Nam gia nhập WTO và Bộ Thương mại tăng cường thực hiện
các chính sách xúc tiến thương mại, ngành vận tải của Việt Nam hứa hẹn sẽ có nhiều
bước phát triển mới. Số lượng các doanh nghiệp tham gia cung ứng dịch vụ vận tải nhằm
đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế đang trên đà tăng trưởng. Mức độ cạnh tranh giữa các
đơn vị vận tải tăng buộc các doanh nghiệp phải tìm cách để nâng cao chất lượng phục vụ
và giảm giá cước vận chuyển để thu hút khách hàng. Điều này chịu ảnh hưởng lớn của chi
phí vận chuyển vì chi phí vận chuyển là nhân tố quan trọng nhất quyết định mức cước vận
chuyển của một doanh nghiệp vận tải.
II. Các nhân tố thuộc về thị trường.
1. Khối lượng hang hóa vận chuyển:
Vận chuyển là nhân tố ảnh hưởng đến chi phí vận chuyển. Cũng như nhiều hoạt
động logistics, tính kinh tế nhờ qui mô đúng với vận chuyển hàng hoá. Mối quan hệ giữa
chi phí vận chuyển bình quân và khối lượng hàng hoá vận chuyển được thể hiện trên đồ
thị
x là giá/đơn vị khối lượng
y là khối lượng vận chuyển
Theo đồ thị, chi phí bình quân/đơn vị khối lượng hàng hoá vận chuyển giảm khi
khối lượng hàng hoá vận chuyển tăng lên.Đó là do chi phí cố định được phân bổ đều cho
4
toàn bộ khối lượng hàng hoá vận chuyển. Vận dụng tính chất này để khi vận chuyển, có
thể tập hợp lô hàng nhỏ thành các lô hàng lớn hơn để có ưu thế kinh tế nhờ qui mô.
VD: khi ta vận chuyển lúa gạo từ Hải Dương sang Phối nối và ngô + rau củ vào
Hà Nội thì chúng ta không nên vận chuyển trên 2 xe chở hàng mà lên gộp chúng
lại vận chuyển vì 2 địa chỉ là Phố Nối và Hà Nội xe có thể chạy trên cùng một trục đường
và đặc trưng của 2 mặt hàng này ki xếp cùng một xe hàng thì không ảnh hưởng đến chất
lượng của sản phẩm do đó có thể giảm được chi phí vận chuyển về mặt nhân lực, phương
tiện cũng như thời gian. Khối lượng vận chuyển tăng thì chi phí bình quân trên một đơn vị

Điều kiện bảo quản và xếp dỡ hàng hoá trong quá trình vận chuyển ảnh hưởng đến chi
phí vận chuyển. Hàng hoá đòi hỏi điều kiện bảo quản đặc biệt hoặc là xe chuyên dụng thì
sẽ có chi phí cao hơn.khi có yêu cầu về điều kiện bảo quản và xếp
dỡ hàng thì chúng ta nên tuân thủ nghiêm nghiêm ngặt để tránh hàng hóa hư hỏng
và làm giảm chi phí hàng hóa hư hỏng.
6
VD: khi mà chúng ta vận chuyển hàng hóa như sản phẩm đông lạnh thì cần chi phí vận
chuyển cao hơn vì cần có xe chuyên dụng cần vận chuyển trong thời gian nhanh và đặ
biệt là sản phẩm phải được ướp lạnh.Các sản phẩm đồng nhất về hình khối, hoặc đóng
thành kiện vuông vắn sẽ góp phần giảm tổng chi phí vận chuyển.
5. Trách nhiệm pháp lí:
Trách nhiệm pháp lý có liên quan đến những rủi ro,thiệt hại trong quá trình vận
chuyển. Các yếu tố sau ảnh hưởng đến mức độ thiệt hại do rủi ro: hàng hoá dễ
hỏng,những thiệt hại do chất xếp, khả năng xảy ra trộm cắp, khả năng cháy nổ, giá trị của
hàng hoá. Giá trị của hàng hoá càng cao và xác suất rủi ro càng lớn thì chi phí càng nhiều.
Người vận chuyển phải mua bảo hiểm để đề phòng khả năng xấu nhất hoặc chấp nhận bất
kỳ mọi sự thiệt hại. Người giao hàng có thể giảm rủi ro và do đó giảm chi phí vận chuyển
bằng cách cải tiến bao gói hoặc giảm bớt những khả năng xẩy ra hao hụt hoặc thiệt hại.
VD: khi vận chuyển hàng hóa có khả năng xảy ra rủi ro trong quá trình vận chuyển nhưng
sản phẩm dễ đổ vỡ , nguy cơ cháy nổ, đổ cỡ như: xăng dầu, gas, những đồ thủy tinh….
Thì doanh nghiệp vận chuyển nên mua bảo hiểm cho hàng hóa và doanh nghiệp thuê
ngoài nên cho biết về giá trị của hàng hóa để có thể theo dõi giám sát trong quá trình vận
chuyển và tránh được rủi ro trong quá trình vận chuyển.Cải tiến bao bì vận chuyển, vận
chuyển bằng container có thể giảm đáng kể những rủi ro.
7
PHẦN II. LIÊN HỆ CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM HIỆN NAY.
I. Thực trạng của vận chuyển hàng hóa tại các DNVN hiện nay.
Cũng như các nước đang phát triển trong khu vực, các doanh nghiệp logistics của
Việt Nam chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, việc liên kết, hợp tác giữa các doanh
nghiệp còn yếu ; nguồn nhân lực cũng rất hạn chế và chưa được đào tạo một cách bài bản.

là với các doanh nghiệp xuất khẩu do hơn 90% hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam theo
điều kiện FOB nên các chi phí do đối tác nước ngoài đàm phán với các hãng tàu.
Điều này khiến cho doanh nghiệp Việt Nam không quản lý được chi phí vận
chuyển rất dễ để các nhập khẩu nước ngoài hạ giá thành sản phẩm. Việc thay đổi tập quán
này không đơn giản do các doanh nhiệp xuất khẩu Việt Nam còn thiếu thông tin về thị
trường quốc tế, chưa có đại diện ở nước ngoài, thiếu liên kết các hãng vận tải trong và
ngoài nước.
Tổng Giám đốc Công ty ATL (Trade & Logistics) Ruby Ngọc cho biết, làm
logistics ở Việt Nam hạn chế nhất là giao thông đường bộ. Việc giao nhận luôn gắn liền
với tốc độ thời gian và đó cũng chính là uy tín của doanh nghiệp. Tuy nhiên, doanh
nghiệp không thể chủ động thời gian được vì giao thông phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng của
cả xã hội. Bởi vậy, các doanh nghiệp chỉ cố làm sao hạn chế mức thấp nhất những lần
giao hàng chậm.
Theo Cục Hàng hải Việt Nam (Bộ Giao thông Vận tải), lĩnh vực quan trọng nhất trong
logistics là vận tải biển. Hiện có đến 90% hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam được vận
chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, các doanh nghiệp trong nước mới chỉ đáp ứng
chuyên chở được 18% tổng lượng hàng hóa xuất nhập khẩu; phần còn lại do các công ty
logistics nước ngoài nắm giữ. Việt Nam có nhiều doanh nghiệp dịch vụ logistics nhưng đa
phần là doanh nghiệp nhỏ, chỉ dừng lại ở vai trò cung cấp dịch vụ vệ tinh cho các hãng
nước ngoài trong chuỗi hoạt động như làm thủ tục hải quan, cho thuê phương tiện vận tải,
kho bãi….
9
I. Giải pháp giảm chi phí vận chuyển hàng hóa tại Công ty cổ phần Vinafco.
1. Giới thiệu chung về doanh nghiệp
Tên công ty: Công ty cổ phần Vinafco
Tên giao dịch: Vinafco joint stock corporation
Tên viết tắt : Vinafco
Ngành, nghề kinh doanh: Kho bãi và lưu giữ hàng hóa; Vận tải hàng hoá bằng đường
biển, đường sông, ô tô trong và ngoài nước; Đại lý vận tải hàng hoá; Kinh doanh vật tư và
dịch vụ các mặt hàng: than, thạch cao, apatite, quặng các loại, cát, xỉ perit, đá vôi, gỗ,

đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng đáng kể. Dịch vụ 3PL đem lại nhiều giá trị
gia tăng cho khách hàng và giá trị đó thể hiện rất rõ ở dịch vụ thuê ngoài. Nếu DN đầu tư
vào xây kho và mua phương tiện vận tải thì chi phí đầu tư cơ bản cao, mà hiệu suất khai
thác có khi chỉ được 30 – 50%/ngày. Chưa kể việc đầu tư vào các phương tiện đường dài
container, hay các kho vệ tinh ở các khu vực lân cận để điều tiết nguồn hàng mà công suất
khai thác thấp do mức tiêu thụ ở các vùng này có tỉ lệ không cao, dẫn đến lãng phí nguồn
lực và nguồn vốn.Sử dụng dịch vụ của các công ty chuyên nghiệp về logistics sẽ giúp
công việc của nhà sản xuất được trôi chảy, giảm các “nút tắc” trong hệ thống vận hành, có
thể khai thác các nguồn lực của nhà cung ứng dịch vụ logistics với các giải pháp linh
hoạt. Trong hoạt động vận hành chuỗi cung ứng có rất nhiều rủi ro: an toàn vận chuyển
hàng, an toàn kho hàng, mất mát hàng hóa trong kho, giao hàng trễ hẹn … và nhất là hiện
nay, tai nạn giao thông liên tục xảy ra đối với xe tải, xe container là vấn đề nhức nhối của
xã hội, vì thế những rủi ro này – nếu có xảy ra – thì bên thứ ba là người trực tiếp giải
quyết.Một số nhà sản xuất vẫn cho rằng giữa việc lựa chọn tự làm hay thuê ngoài, thì tự
làm chi phí sẽ rẻ hơn. Tuy nhiên, họ chưa tính đến hiệu suất đầu tư, chi phí vô hình từ
chuyển rủi ro, uy tín thương hiệu khi làm hài lòng khách hàng từ việc vận hành chuỗi
cung ứng chuyên nghiệp, đúng cam kết về chất lượng hàng hóa (vận chuyển không hỏng,
mất mát) và thời gian (đúng giờ). Đó là những giá trị gia tăng không thể đong đo được.
b. Đầu tư các phương tiện vận tải hiệu quả
11
Công ty chủ động đầu tư vào phương tiện và công nghệ. Nằm trong chiến lược đầu
tư phát triển từ nay cho đến năm 2014, cùng với việc đầu tư mạnh mẽ cơ sở hạ tầng, các
kho hàng, trung tâm tiếp vận trên các địa bàn trọng điểm kinh tế, Vinafco chủ trương đầu
tư nâng cao năng lực về vận tải bằng việc đầu tư các phương tiện vận tải như ô tô tải, xe
đầu kéo container, xe téc chuyên dụng, tàu biển…Giai đoạn 2011-2012, Vinafco sẽ đầu tư
khoảng một trăm tỷ đồng trang bị đa phương tiện chuyển xe tải nhỏ, đầu kéo container,
romooc 20’, 40’; romooc đặc chủng khác phục vụ cho việc vận chuyển hàng hóa siêu
trường, siêu trọng; xe bồn, xe téc chuyên dụng. Vinafco sẽ mua thêm tàu biển để nâng cao
năng lực đội tàu biển nội địa đồng thời thiết lập hệ thống bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa
phương tiện trên toàn quốc.

Năm 2012, Vinafco sẽ tiếp tục hoàn thiện năng lực về cơ sở, hạ tầng, thiết bị vận
tải, kho bãi. Ba trung tâm phân phối mới với tổng mức đầu tư trên 350 tỉ đồng theo tiêu
chuẩn quốc tế tại các vị trí chiến lược như 4ha tại Thanh Trì (Hà Nội), 1.4ha tại Sóng
Thần (Bình Dương), 4ha tại Hòa Cầm (Đà Nẵng) đảm bảo sẽ nâng cao khả năng cung
ứng dịch vụ cho khách hàng hiện tại và đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của thị
trường logistics trên toàn quốc. Các loại xe tải phân phối, đầu kéo, xe bồn… sẽ tiếp tục
được đầu tư. Năm qua là năm thành công của công ty cổ phần Vận tải biển Vinafco và
năm tới công ty sẽ đầu tư mua thêm tàu biển để nâng khả năng phục vụ theo chiến lược đã
được phê duyệt. Bên cạnh đó, Vinafco xây dựng và kiểm soát mô hình vận hành theo tiêu
chuẩn HS&E (sức khỏe, an toàn và môi trường) trên toàn hệ thống, đảm bảo giá trị phát
triển “xanh, bền vững” chung của khách hàng, cộng đồng
III.Đề xuất giải pháp giảm chi phí vận chuyển hàng hóa tại các doanh nghiệp
Việt Nam hiện nay.
1. Giải pháp cho toàn hệ thống logistics việt nam.
 Phát triển cơ sở hạ tầng giao thông.
Vì hệ thống giao thông nội địa vừa kém phát triển, vừa phức tạp nên Phát triển kết
cấu hạ tầng giao thông vận tải là một nhiệm vụ cấp bách cần ưu tiên đầu tư. Phát triển
đồng bộ cơ sở hạ tầng cho ngành vận tải, bao gồm hạ tầng đường bộ, đường sắt, hàng
13
không và đường thủy nội địa tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động logistics nhanh chóng,
thuận lợi giảm thời gian lưu thông trên đường cắt giảm cho phí đáng kể cho các doanh
nghiệp.
Hệ thống cản biển quốc gia chủ yếu tiếp nhận tàu nhỏ, chỉ thực hiện công đoạn trung
chuyển hàng hóa ngắn giữa Việt Nam – Singapore hoặc những cảng khu vực ở Cao Hùng,
Đài Loan hoặc Hồng Kong. Thông qua những cảng này, hàng hóa xuất khẩu từ Việt Nam
mới được vận chuyển sang các nước Bắc Mỹ và Châu Âu => Đẩy mạnh xây dựng hệ
thống cơ sở hạ tầng hiện đại chất lượng như các cảng nước sâu , sân bay quốc tế, khu kinh
tế mở.
Hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật:
Thủ tục hải quan được làm thủ công, nặng tính giấy tờ, tốn thời gian ảnh hưởng đến việc

mất mát) và thời gian (đúng giờ). Đó là những giá trị gia tăng không thể đong đo được.
3. Sử dụng hình thức vận tải đa phương thức.
Việt Nam đã nhiều lần thực hiện vận tải liên hợp. Năm 1982, Công ty thuê tàu Vietfracht
đã chở hàng từ thành phố Hồ Chí Minh đi Paris (Pháp) qua các chặng đường: Sài Gòn /
Biển Đen bằng tàu biển của hãng Interlighter, từ Biển Đen đi Regenburg (Đức) bằng tàu
kéo sà lan, từ Regenburg đi Paris bằng xe lửa. Khoảng năm 1980, Công ty giao nhận
Vietrans chở hàng từ Hải Phòng đi Tiệp Khắc qua các chặng: Hải Phòng đi Singapore
bằng tàu biển của hãng Blasco, từ Singapore đi Trieste (Italia) bằng tàu của hang
Hapaglloyd, từ Trieste đi Chop bằng xe ôtô tải và từ Chop đi Praha bằng xe lửa. Các công
ty Transimex, Viconship, Gemartrans, Vosa tuy chưa lập tuyến vận tải thường xuyên
nhưng đã có tổ chức những chuyến vận tải lien hợp có kết quả tốt, đã quen những kiểu
vận tải liên hợp Seaair (đường biển- đường hàng không), Searoad (đường biển-đường bộ)
hay Searoadsea (đường biển-đường bộ-đường biển)
15
Trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp nên xây dựng mối quan hệ chiến lược
với một số hãng tàu để dành được thế chủ động trong việc đàm phán với người mua về
quyền thuê tàu. Nhờ đó, doanh nghiệp vừa có được mức giá hợp đồng thấp hơn so với
mức giá thị trường, vừa có cớ sở để đàn phán với đối tác nước ngoài nhằm giành quyền
vận chuyển để từ đó kiểm soát được chi phí vận chuyển và không bị gây sức ép về giá.
Quy định điều kiện giá dịch vụ trong hợp đồng vận chuyển, trong điều kiện hiện
nay nên chọn phương pháp giá linh hoạt. Các doanh nghiệp sử dụng dịch vụ vận chuyển
nên yêu cầu các hãng vận chuyển chào giá dịch vụ vận chuyển tách rời phụ phí xăng dầu.
Giá dịch vụ sẽ được giữ nguyên trong suốt hợp đồng và có phụ phí xăng dầu sẽ được điều
chỉnh dựa trên giá thị trường.
Chọn phương án vận chuyển trực tiếp trong điều kiện có thể để giảm các chi phí
trong hàng trình. Những khoảng chi phí luôn “ăn” đáng kể lợi nhuận vào công ty. Vì vậy,
hãy tiết kiệm thời gian và chi phí vận chuyển trực tiếp tới khách hàng.
4. Một số biện pháp khác
Tham gia vào các hiệp hội để tạo lợi thế đàm phán các hãng vận chuyển. Trên
thực tế, các hãng vận chuyển thường có ưu thế đàm phán hơn so vớicác chủ hàng và vì


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status