Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài dạy chính tả so sánh phụ âm đầu cho học sinh lớp 4 - Pdf 26

PHÒNG GD – ĐT GIÁ RAI
Trường TH Phong Tân
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
(ĐỀ TÀI : “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả bài dạy chính tả so sánh
phụ âm đầu cho học sinh lớp 4”)
Họ và tên : Trương Vũ Phương.
Năm sinh : 02/09/1979.
Trình độ chuyên môn : Đại học.
Đơn vị công tác : Trường TH Phong Tân.
Nhiệm vụ được phân công năm học 2011 - 2012: Dạy lớp.
*******
I/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
Nhân cách con người chỉ có thể được hình thành thông qua hoạt động và giao
tiếp. Để xã hội tồn tại và phát triển, để giao tiếp được thuận tiện, thì mỗi dân tộc,
mỗi quốc gia đều có ngôn ngữ riêng. Tiếng Việt là ngôn ngữ được thống nhất trên
toàn bộ lãnh thổ Việt Nam.Trong cuộc sống hàng ngày, mọi người muốn giao tiếp
hay trao đổi thông tin thường thông qua hai hình thức là sử dụng ngôn ngữ nói hoặc
ngôn ngữ viết. Về ngôn ngữ viết thì yêu cầu trước tiên là phải viết đúng chính tả.
Vì chính tả có thống nhất thì việc giao tiếp bằng ngôn ngữ viết mới không bị cản
trở giữa các địa phương, các vùng trong cả nước, cũng như giữa các thế hệ đời
trước với các thế hệ đời sau.
Trong các vấn đề về ngôn ngữ, vấn đề chính tả được đặt ra trong nhà trường
là một cách hết sức cần thiết. Vì vậy, việc dạy chính tả phải được coi trọng ngay từ
buổi đầu đối với học sinh tiểu học. Trong nhà trường, việc rèn luyện cho học sinh
viết chính tả là một khâu rất cần thiết và vô cùng quan trọng . Dạy chính tả là dạy
kỹ năng sử dụng âm tiết, chữ viết, tiến tới hiểu và sử dụng ngôn ngữ một cách
1
chính xác. Việc viết đúng chính tả giúp học sinh trong quá trình giao tiếp đạt hiệu
quả cao trong đời sống.
Viết sai lỗi chính tả là hiện tượng thường gặp trong tất cả các học sinh ở
các cấp học. Vì vậy, muốn giảm bớt được điều này thì ngay ở bậc Tiểu học, người

học của học sinh, để tìm hiểu những ưu điểm, nhược điểm, những thành tựu và hạn
chế của hoạt động dạy học chính tả lớp 4 ở trường Tiểu học.
- Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học chính tả so sánh phụ âm
đầu cho học sinh lớp 4 ở trường Tiểu học.
3/ Cơ sở lý luận:
a) Cơ sở tâm lý học:
- Mục đích dạy chính tả là hình thành cho học sinh năng lực viết thành thạo
thuần thục chữ viết Tiếng Việt theo các chuẩn chính tả, nghĩa là giúp học sinh hình
thành các kĩ xảo chính tả.
- Hình thành cho học sinh kĩ xảo chính tả nghĩa là giúp học sinh viết đúng chính
tả một cách tự động hoá, không cần phải trực tiếp nhớ tới các quy tắc chính tả,
không cần đến sự tham gia của ý chí. Để dạt được điều này, có thể tiến hành theo
hai cách: Có ý thức và không có ý thức. Cách không có ý thức (còn gọi là phương
pháp máy móc, cơ giới) chủ trương dạy chính tả không cần biết đến sự tồn tại của
các quy tắc chính tả, không cần hiểu mối quan hệ giữa ngữ âm và chữ viết, những
cơ sở từ vựng và ngữ pháp chính tả, mà chỉ đơn thuần là việc viết đúng từng
trường hợp, từng từ cụ thể. Cách dạy học này tốn nhiều thời giờ, công sức và
không thúc đẩy được sự phát triển của tư duy, chỉ củng cố trí nhớ máy móc ở một
mức độ nhất định. Cách có ý thức (còn gọi là phương pháp có ý thức, có tính tự
giác) chủ trương cần phải bắt đầu từ việc nhận thức các quy tắc, các mẹo luật
chính tả. Trên cơ sở đó, tiến hành và từng bước đạt tới các kĩ xảo chính tả. Việc
hình thành các kĩ xảo bằng con đường có ý thức sẽ tiết kiệm được thời gian, công
sức. Đó là con đường ngắn nhất và có hiệu quả cao nhất. Đối với học sinh tiểu
học cần vận dụng cả hai cách nói trên. Trong đó cách không có ý thức chủ yếu
được sử dụng ở các lớp đầu cấp, còn cách có ý thức cần được sử sụng thích hợp
3
chủ yếu ở các lớp cuối cấp.
Gần đây một số nhà nghiên cứu vấn đề dạy - học chính tả lại có xu hướng
khẳng định trong các cách học, cách “nhớ từng chữ một” (cách không có ý thức)
được coi là giải pháp hữu hiệu hơn cả, hợp lý hơn cả, nhất là đối với học sinh tiểu

đúng chính tả, việc nắm nghĩa của từ rất quan trọng. Hiểu nghĩa của từ là một
trong những cơ sở giúp người học viết đúng chính tả. Ví dụ nếu giáo viên đọc một
từ có hình thức ngữ âm là “za” thì học sinh có thể lúng túng trong việc xác định
hình thức chữ viết của từ này. Nhưng nếu đọc gia đình hoặc da thịt hay ra vào
(đọc trọn vẹn từ, mỗi từ gắn với một nghĩa xác định) thì học sinh dễ dàng viết
đúng chính tả. Vì vậy, có thể hiểu rằng chính tả Tiếng Việt còn là loại chính tả
ngữ nghĩa. Đây là một đặc trưng quan trọng về phương diện ngôn ngữ của chính
tả Tiếng Việt mà khi dạy chính tả, giáo viên cần chú ý.
4/ Một số nguyên tắc dạy chính tả:
a) Nguyên tắc dạy chính tả theo khu vực:
- Dạy chính tả theo khu vực nghĩa là nội dung giảng dạy về chính tả phải sát
hợp với phương ngữ. Tức là phải xuất phát từ tình hình thực tế mắc lỗi chính tả của
học sinh ở từng khu vực, từng miền để hình thành nội dung giảng dạy, phải xác
định được trọng điểm chính tả cần dạy cho học sinh ở từng khu vực, từng địa
phương.
Ví dụ phương ngữ Nam bộ: Có hiện tượng đồng nhất hoá hai phụ âm đầu /v/
và /z/ và đồng nhất hoá hai cặp phụ âm cuối /n/, /ng / và /t/ , /k/ khi phát âm.
Ví dụ : áo len – leng keng -> Phát âm tiếng “len “và tiếng “leng” hoàn toàn giống
nhau.
Xem xiếc – xiết chặt -> Phát âm tiếng “xiếc “và tiếng “xiết” hoàn toàn
giống nhau.
- Nguyên tắc này giáo viên trước khi dạy cần tiến hành điều tra cơ bản để nắm
lỗi chính tả phổ biến của học sinh, từ đó lựa chọn nội dung giảng dạy thích hợp.
Nguyên tắc này giáo viên cần tăng cường sự linh hoạt sáng tạo trong giảng dạy, cụ
thể trong việc xây dựng nội dung bài sao cho sát hợp với đối tượng học sinh lớp
5
mình dạy.
b) Nguyên tắc kết hợp chính tả có ý thức với chính tả không có ý thức:
Trong quá trình dạy chính tả cho học sinh, giáo viên không chỉ sử dụng một
phương pháp mà phải sử dụng phối hợp hai phương pháp có ý thức và không có ý

+ Lỗi chính tả do viết theo lỗi phát âm địa phương hoặc do không nắm vững
chính âm. Loại lỗi này mỗi địa phương sai một khác. Có vùng viết d thành r, có
vùng viết l thành n…Để sửa loại lỗi này, học sinh cần nắm vững chính âm trong
Tiếng Việt, cần tập phát âm đúng chuẩn, tập viết nhiều lần những lỗi mà địa
phương mình thường mắc. Giáo viên có thể xây dựng các “ mẹo” để giúp học sinh
viết đúng.
- Để học sinh sửa các loại lỗi chính tả theo hướng loại bỏ cái sai, xây dựng cái
đúng, đi từ cái sai đến cái đúng, giáo viên có thể nêu ra những đoạn văn, đoạn thơ
trong đó có nhiều từ viết sai chính tả để học sinh mình tự phát hiện lỗi, tìm hiểu
nguyên nhân sai và chữa lại cho đúng.
- Phương pháp tiêu cực giúp học sinh phát hiện óc phân tích, xét đoán, đồng thời
kiểm tra, củng cố được kiến thức về chính tả của học sinh. Phương pháp tiêu cực
chỉ nên coi là thứ yếu, có tính chất bổ trợ cho phương pháp tích cực. Trong quá
trình giảng dạy chính tả giáo viên cân phối hợp một cách hợp lý, hài hoà và có hiệu
quả hai phương pháp này.
5/ Cơ sở thực tiển:
a) Chương trình và sách giáo khoa:
Chương trình phân môn chính tả lớp 4, ngoài các tuần ôn tập thì các bài học
chính tả được trình bày trong 31 tuần. Mỗi tuần có một tiết, học kỳ 1 có 16 tiết,
học kỳ 2 có 15 tiết. Bài chính tả được bố chí song song với tập đọc, luyện từ và
câu, kể chuyện, tập làm văn. Bài chính tả gồm các dạng bài chính tả : nghe - viết,
nhớ - viết.
* Chính tả đoạn bài:
- Về nội dung: Bài viết chính tả có thể được trích từ bài tập đọc trước đó
hoặc là một nội dung tóm tắt của bài tập đọc, có thể là nội dung biên soạn mới có
7
cùng chủ đề (độ dài khoảng 80 - 90 chữ).
- Về hình thức: Có hai hình thức. Chính tả đoạn bài được sử dụng là chính tả
nghe - viết và chính tả nhớ - viết. Sách chú trọng hình thức chính tả nghe - viết và
nhớ - viết. Hình thức chính tả nhớ - viết chỉ có ở HKI (3 bài), HKII (5 bài). Hình

+ Tập phát hiện và sửa lỗi trong bài chính tả của em.
+ Ghi các lỗi và cách sửa từng lỗi vào sổ tay chính tả.
+ Xếp các từ ngữ cho sẵn thành hai cột (cột gồm các từ viết đúng và cột
gồm các từ viết sai chính tả).
+ Tìm các từ láy có tiếng chứa âm hoặc thanh cho sẵn.
+ Viết lại các câu cho đúng chính tả.
+ Tìm các tính từ có âm đầu hoặc vần cho trước.
+ Tìm tiếng thích hợp với mỗi ô trống để hoàn thiện câu chuyện hoặc đoạn
văn cho trước.
+ Tìm các trường hợp chỉ viết với một hình thức chính tả duy nhất (không
có đối lập).
Học sinh được tiếp cận với những kiến thức nêu trên sẽ được rèn những kĩ
năng như sau:
+ Rèn kĩ năng viết chính tả và kĩ năng nghe cho học sinh.
+ Kết hợp rèn luyện một số kĩ năng sửng dụng Tiếng Việt và phát triển tư
duy cho học sinh.
+ Mở rộng hiểu biết về cuộc sống, con người, góp phần hình thành nhân
cách con người mới.
* Các bài so sánh phụ âm đầu được sắp xếp như sau :
+ l/n : Học kỳ I : 5 tiết ; Học kỳ II : 3 tiết.
+ s/x : Học kỳ I : 4 tiết ; Học kỳ II : 4 tiết
+ tr/ch : Học kỳ I : 4 tiết ; Học kỳ II : 4 tiết
+ r/d/gi : Học kỳ I : 3 tiết ; Học kỳ II : 4 tiết.
Trong các phần trên học sinh Nam Bộ thường hay bị mắc lỗi s/x, tr/ch,
r/d/gi là đa số, phần lớn l/n học sinh rất ít mắc lỗi.
9
Trong khi đó ngoài các trường hợp dễ bị mắc lỗi trên học sinh vẫn còn bị
mắc một số lỗi khác tương đương như : v/d, ng/ngh, g/gh. Nhưng sách giáo khoa
Tiếng Việt 4 không đề cập đến.
Ví dụ : - v/d : da chạm (va chạm); dá áo ( vá áo); duốt de (vuốt ve); dò đầu

tả,…
- Khâu soạn bài giáo viên sử dụng quá máy móc bài soạn hướng dẫn của sách
giáo viên mà không chế biến thành cụ thể cho phù hợp trình độ của lớp mình. Một
phần giáo viên không có đủ thời gian để nghiên cứu sáng tạo trong tiết dạy thiết
thực, vì rất nhiều công việc khác chi phối ảnh hưởng rất nhiều đến việc soạn bài
của giáo viên. Các hình thức chuẩn bị bài dạy đều phụ thuộc vào các tài liệu có
sẵn .
- Vịêc quy định giáo viên phải soạn các giáo án chi tiết vừa không phù hợp
với điều kiện lao động của giáo viên vừa tạo ra hình thức đối phó hoặc soạn bài
một cách hình thức.
Dạy học theo phương pháp như vậy đang cản trở việc đào tạo những người lao
động, năng động tự tin, linh hoạt sáng tạo, sẵn sàng thích ứng với những đổi mới
diễn ra hàng ngày. Vì vậy đòi hỏi phải có biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong
giờ dạy cũng như nhằm tích cực hoá các hoạt động học tập của học sinh.
Thực trạng như vừa phân tích cho thấy cần khai thác nội dung và lựa chọn
hình thức thích hợp để nâng cao chất lượng dạy học chính tả nói riêng Tiếng Việt
nói chung cho học sinh lớp 4 ở trường tiểu học Phong Tân chúng tôi đang công tác.
Chính vì vậy chúng tôi đề xuất một số biện pháp khi dạy chính tả cho học sinh lớp
4 như sau:
6/ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ BÀI DẠY CHÍNH
TẢ SO SÁNH PHỤ ÂM ĐẦU CHO HỌC SINH LỚP 4.
6.1/ Những biện pháp chính:
6.1.1/ Giáo viên phải chú trọng trong việc phát âm đúng:
Theo tôi muốn rèn cho học sinh viết đúng chính tả, điều trước tiên nhất, cần
nhất là giáo viên phải làm gương cho học sinh trong việc phát âm đúng. Cho nên
11
giáo viên cấn phải thường xuyên luyện phát âm đúng bằng cách khắc phục đúng lỗi
do ảnh hưởng của tiếng địa phương. Phải củng cố cho mình những kiến thức về
ngữ âm, từ vựng, ngữ nghĩa học và phải biết vận dụng những kiến thức đó, việc
phân loại lỗi chính tả, vào việc giúp học sinh sữa các lỗi chính tả một cách có cơ

sự hướng thú học tập cho các em trong giờ học. Bởi vì làm việc gì có hứng thú thì
kết quả sẽ cao hơn. Nhà giáo dục học nổi tiếng Nga K.D.Usin-xki đã nói: “Việc
học tập không hứng thú và chỉ do sức mạnh cưỡng bức sẽ giết chết mọi ham muốn
tìm tri thức của học sinh”. Vì vậy gây hứng thú học tập cho học sinh là điều rất
quan trọng. Tôi thường tổ chức các trò chơi học tập trong tiết chính tả nhằm gây
hứng thú cho học sinh và thông qua đó giúp các em rèn kĩ năng viết đúng chính tả.
Các trò chơi tôi tổ chức có tên như : Tìm từ nhanh nhất ; tiếp sức ; ai nhanh…
Ví dụ: Tìm tính từ, có hai tiếng đều bắt đầu bằng l hoặc n ( thời gian 3 phút ) ở
bài : “Người tìm đường lên các vì sao”. BT(2). a) - Trang 126.
Yêu cầu : Các nhóm học sinh sẽ hoạt động trao đổi lẫn nhau tìm hết khả năng của
mình, các em đều viết vào giấy nháp riêng.
Hết 3 phút GV tổng kết qua vở nháp theo cặp học sinh của từng nhóm, công bố
kết quả, tuyên dương nhóm cao điểm nhất. Sau đó GV chỉ định một cặp của một
nhóm nào đó trong các nhóm của lớp lên bảng. Một em khá đọc em yếu nghe - nhớ
- viết hết số từ ngữ của nhóm mình tìm được. Cả lớp theo dõi nhận xét, sửa sai, bổ
sung. Sau đó GV kết luận chốt lại kết quả đúng.
Ví dụ 2 : Cùng nhau hiểu biết
Sử dụng bảng lớp những em trong tổ đều được tham gia chơi “Tiếp sức” trong
việc tìm từ mới .
Giáo viên hô câu lệnh, các em hãy tìm từ láy có tiếng chứa âm s hay âm x
( bài : Người viết truyện thật thà). Mỗi đội 4 học sinh cùng tham gia một lúc, đội
nào tìm được nhiều từ đúng trong một thời gian qui định là thắng. Trò chơi này
giúp các em tìm hiểu nhiều từ mới rất vui và bổ ích cho các em.
Bên cạnh đó, tôi còn tiến hành cho học sinh thói quen : nghe - nhớ hết câu, cụm
từ trước khi viết bài bằng cách cần nhắc lại câu văn, cụm từ giáo viên vừa đọc hay
13
bạn vừa đọc.
Ví dụ: Cho học sinh: Đọc – nghe – nhớ – nhắc lại (không viết) một đoạn văn sau
trong bài chính tả : “ Dế Mèn bênh vực kẻ yếu”
“Một hôm, qua một vùng cỏ xước xanh dài / tôi trợt nghe tiếng khóc tỉ tê./ Đi vài

- GV luôn theo dõi biểu dương kịp thời những học sinh có ý thức viết đúng,
viết đẹp trong lớp qua các tiết học, cổ vũ động viên lôi cuốn những học sinh còn
viết chưa đúng học tập theo bạn.
6.1.6/ Giúp học sinh nắm vững các mẹo luật chính tả:
Một số học sinh còn sai lỗi chính tả do không nắm vững qui tắc chính tả, do
phát âm địa phương và do quen với hình thức chữ viết. Vì vậy giáo viên cần giúp
học sinh nắm vững thuật nhớ và các mẹo chính tả trong từng trường hợp mắc lỗi
của học sinh. Sau đây xin trình bày một số mẹo chính tả mà học sinh thường mắc :
a) Phân biệt ch / tr:
a.1/ Thuật nhớ cách viết phân biệt ch / tr dựa vào nét nghĩa chung:
- Từ chỉ người thân trong gia đình, họ hàng đều viết với ch .
Ví dụ : cha, chú, chồng, chị, cháu, chắt, chút , chít…
- Từ chỉ đồ dùng, dụng cụ nhà nông phần lớn viết với ch .
Ví dụ : chai, chảo, chày, chạn, chăn, chiếu, chậu, chén, chĩnh, chuỗi hạt, dây
chuyền, chuôi dao,…
* Ngoại lệ : bàn trang, bức tranh, cái tráp, cái trống.
- Tên động vật sống gần người, chim muôn, cá phần lớn được viết với ch .
Ví dụ : chó, gà chọi, chàng hiu, châu chấu, con chí, chim chóc, chèo bẻo, chìa
vôi, chích choè, chiền chiện, con chồn, con chuột, cá chim, cá cháo, cá chẻm, cá
chuối, cá chép,…
* Ngoại lệ :cá tra, con trai, cá trích , trôi, trê, chim trĩ, con trâu, con trùn (con
giun).
- Tên cây và hoa quả phần lớn viết với ch.
Ví dụ : cây chò, cây chỉ, cây chàm, chòi mòi, chôm chôm, …
* Ngoại lệ : sơn trà, trà mi, cây trám, trầm hương, trinh nữ,…
15
- Tên các món ăn phần lớn viết với ch.
Ví dụ : chả, chao, cháo, bánh chay, bánh chưng, chè,…
* Ngoại lệ : bánh tráng, bánh trôi.
- Cử động thao tác của cơ thể, động tác lao động chân tay thường viết với ch.

- Nhiều đồ vật viết với s :
Ví dụ : sa bàn, sà lan, cây sào, cái sịa, cái sọt, sơ đồ, …
- Tên các thức ăn và đồ dùng liên quan tới việc nấu ăn viết với x :
Ví dụ : thịt xá xíu, nước xá xị, phở xào, xi rô, xì dầu, xíu mại, xốt cá chua…
* Ngoại lệ : kẹo sô cô la, bánh su sê, kem sữa, bánh sừng bò, canh sườn.
- Một số vật thể và dụng cụ viết với x :
Ví dụ : vải xa tanh, xà beng, gỗ xà cừ, xà nhà, xà cột, xà mâu (vũ khí), xà phòng,
túi xách, xi măng, cối xay, cái xẻng, thùng xô, cái xửng,…
b. 2/ Căn cứ vào âm đệm để phân biệt s / x :
- s rất ít kết hợp với các vần oa, oă, oe, uê, …Trước những vần này thường viết
với x : xoa đầu, tóc xoăn, mùa xuân, xoè hoa, xuề xoà, vòng xuyến, xuý xoá…
* Ngoại lệ : soạn bài, rà soát, sột soạt, sờ soạng.
Ngoài ra còn một số cách khác để phân biệt như: dựa vào đặc điểm từ láy âm;
dựa vào nghĩa của từ để phân biệt.
c. Đối với g – gh:
- GV chú ý hướng dẫn HS vận dụng có ý thức một số qui tắc để làm căn cứ,
giúp cho học sinh biết phân loại, so sánh và viết đúng các trường hợp chính tả.
- GV gợi cho học sinh nhớ lại qui tắc chính tả và nêu ra :
+ “ngh” kết hợp được với các nguyên âm: i, e, ê, iê, ia.
+ “ng” kết hợp được với các nguyên âm:a, ă, â, o, ô, ơ, u, ư, uô, ươ, ua, ưa.
Cho học sinh chép lại vào sổ tay chính tả và ghi nhớ.
- Ngoài ra học sinh cũng hay nhầm lẫn khi viết các từ có phụ âm đầu “g” và “
gh”.Tuy “g” và “ gh” khác nhau nhưng lại đọc giống nhau nên khi viết các em
thường nhầm chúng với nhau.
Chẳng hạn : ghen -> gen
17
Muốn viết đúng phụ âm này cần phải ghi nhớ khả năng kết hợp chúng với các
vần có nguyên âm khác nhau. Cụ thể:
+ “g” kết hợp với các vần có nguyên âm : a, â, ă, o, ô, ơ, u, ư, uô, ươ không
kết hợp được với ua, ưa.

6.1.9/ Chấm chữa lỗi bài chính tả.
Trong bước soát lại bài viết (sử dụng bài viết ở bảng đen) giáo viên đưa ra
mẫu đúng một số từ có vấn đề chính tả. Yêu cầu học sinh phân tích âm tiết đúng rồi
đối chiếu với chữ mình và tự chữa (nếu sai). Đối với những em mắc lỗi, giáo viên
có thể gọi và hỏi: Trong bài viết em đã mắc những lỗi nào? Những lỗi đó thường
gặp ở bộ phận nào của tiếng?…Dần dần năng lực kiểm tra và tự chữa của học sinh
được hình thành.
Tiếp theo, GV gọi một em mắc lỗi nhiều lên bảng đọc lại và viết lại cho đúng
một trong các từ đã sai, lớp nhận xét đúng, sai và chữa lại hoàn chỉnh.
Khi chấm bài chính tả GV dùng bút mực đỏ gạch chân những lỗi mắc phải và
học sinh về nhà tự chữa lại cho đúng vào vở (Giáo viên có kiểm tra).
Ngoài các biện pháp trên, GV cần phải chú ý một số điều quan trọng sau đây :
- Phải tổ chức luyện tập thường xuyên về chính tả.
- Phải phân loại các lỗi chính tả để tìm cách khắc phục thích hợp từng loại.
- Phải phối hợp sinh động giữa phương pháp dạy có ý thức với phương pháp
không có ý thức, phương pháp tích cực và phương pháp tiêu cực.
** Một số bài minh hoạ:
1. Một số ví dụ về bài khó và cách dạy
a) Bài: (Nghe –viết) “Người tìm đường lên các vì sao” Tuần 13 – TV4 tập 1-
trang 126.
*Nội dung : Bài tập (2).a) Tìm các tính từ :
- Có hai tiếng đều bắt đầu bằng l. M: lỏng lẻo
- Có hai tiếng đều bắt đầu bằng n. M: nóng nảy
*Những khó khăn:
- Học sinh phải thực hiện theo hai yêu cầu :
19
+ Một là: Từ tìm được thuộc loại tính từ.
+ Hai là: Cả hai tiếng đều bắt đầu bằng l hoặc n. Như vậy từ này có thể là từ
ghép hoặc từ láy.
Qua bài tập này tôi thấy học sinh sẽ rất lúng túng, dễ nhầm lẫn, khó tìm được từ

Nếu HS thảo luận, trao đổi trong nhóm mà không tìm được lời giải thì giáo viên
dùng câu hỏi gợi ý như sau:
+ Con gì sống trên bờ nhưng đẻ trứng dưới nước? (ếch nhái).
+ Trứng nở ra thành con gì? (nòng nọc). Đây là vấn đề học sinh cần phải phát
huy vốn hiểu biết của mình về cuộc sống tự nhiên để có câu trả lời đúng.
Sau cùng giáo viên giải thích thêm cho học sinh hiểu và giáo dục lòng yêu thiên
nhiên.
c) Bài : “ Chiếc áo búp bê”; Phân biệt s/x, ât/âc – Tuần 14.
* Nội dung : BT2 và BT3 trang 136 Tiếng Việt 4 – tập 1.
Bài (2). Điền vào ô trống:
a) Tiếng bắt đầu bằng s hay x? (Để hoàn chỉnh đoạn văn).
b) Tiếng chứa vần ât hay âc? (Để hoàn chỉnh đoạn văn).
Bài (3).Thi tìm các tính từ:
a) Chứa tiếng bắt đầu bằng s hoặc x.
b) Chứa tiếng có vần âc hoặc ât.
* Những khó khăn:
- Học sinh dễ nhầm lẫn và rất khó làm vì bài tập gồm hai yêu cầu: Một là, thuộc
từ loại tính từ. Hai là, tiếng có chứa âm, vần cho trước.
*Cách dạy: Giáo viên có thể giúp học sinh hoàn thành hai bài tập qua các bước
sau :
- Giáo viên giúp học sinh phân tích tìm hiểu yêu cầu của BT.
- Giúp học sinh làm một phần của BT.
- Tổ chức cho học sinh làm theo nhóm để trao đổi học tập lẫn nhau.
- Đại diện nhóm báo cáo kết quả.
- Các nhóm khác nhận xét, bổ sung.
21
Đối với BT3, sau khi HS nhận xét xong giáo viên có thể bổ sung thêm một số
tính từ.
Ví dụ : a) siêng năng, sảng khoái, sáng suốt, sành sỏi,…
b) xấc xược, lấc cấc, vất vả, chất phác, ngất ngưỡng…

được sự góp ý trân thành của quý thầy cô tập thể nhà trường. Xin cảm ơn!
Phong Tân, ngày 01/03/2012.
Người viết SKKN
Trương Vũ Phương
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status