Tên đề tài: Thực trạng nghèo đói và các chính sách
xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam trong giai đoạn từ năm
hiện nay
Môn: Kinh Tế Phát Triển
GVHD: Nguyễn Ngọc Châu.
Nhóm: NO3.
Tên Nhóm: Pikachu.
Danh sách nhóm:
1. Nguyễn Thị Thùy Phương
2. Đoàn Thị Hồng Hiệp
3. Trần Thị Thu Trang
4. Đỗ Thị Thiên Trang
5. Lê Thị Tuyết Cầm
6. Phạm Thị Thùy Dung
7. Lê Thị Nhật Phương
8. Trần Thị Thanh Tâm
1
Mục lục:
Phần I: ĐẶT VẤN ĐỀ 4
1. Tính tất yếu của đề tài (lý do chọn đề tài) 4
2. Mục tiêu nghiên cứu 5
Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 6
1.1 Cơ sở lý luận 6
1.2. Cơ sở thực tiễn 8
Chương 2: Thực trạng nghèo đói và các chính sách xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam giai đoạn hiện nay 12
2.1. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay 12
2.2. Các chính sách XĐGN ở Việt Nam hiện nay 24
Phần III: Kết luận và kiến nghị 30
3.1 kết luận: 30
3.2 Kiến Nghị 31
Tài liệu tham khảo: 32
là một nhiệm vụ chính trị quan trọng hàng đầu, mục tiêu kinh tế -xã hội cấp thiết, các chính sách
XĐGN qua các chương trình 134, 135, 257 đã được nhà nước cùng các chính quyền địa
phương tổ chức triển khai hết sức chặt chẽ, được đông đảo người dân hưởng ứng và đồng tình
thực hiện, vì vậy đời sống nhân dân từng bước được cải thiện rõ rệt.
Tuy nhiên, công tác XĐGN đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức: Kết quả giảm
nghèo chưa bền vững, tỷ lệ tái nghèo hàng năm còn cao, nhất là trong điều kiện khi có thiên tai,
bão lụt xảy ra, khả năng tự ứng cứu khả năng và phục hồi tại chỗ là rất hạn chế, tốc độ giảm
4
nghèo không đồng đều, nhận thức về trách nhiệm của một bộ phận người nghèo chưa cao, còn tư
tưởng trông chờ, ỷ lại, thiếu ý thức tự giác vươn lên Bên cạnh đó việc triển khai thực hiện các
chính sách XĐGN đến các vùng khó khăn còn nhiều lúng túng, bất cập và thiếu đồng bộ nên
không đạt được kết quả và mục tiêu đề ra .
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hóa và làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn về công tác XĐGN.
- Nghiên cứu thực trạng nghèo đói ở Việt Nam.
- Phân tích đánh giá thực trạng nghèo đói ở Việt Nam và từ đó tìm ra nguyên nhân và những
nhân tố ảnh hưởng đến đời sống người nghèo.
- Đánh giá tình hình thực hiện của công tác XĐGN ở Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đất nước nhằm
nâng cao hiệu quả của công tác XĐGN trong giai đoạn hiện nay và hướng đến năm 2020.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Những vấn đề kinh tế - xã hội của người dân nói chung và dân số nghèo ở Việt Nam nói riêng,
những chính sách XĐGN ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2005 đến nay.
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi không gian: Tìm hiểu thực trạng nghèo đói và các chính sách XĐGN ở Việt Nam.
Phạm vi thời gian: nghiên cứu tình trạng nghèo đói và các chính sách XĐGN giai đoạn từ năm
2005 đến nay.
4. Phương pháp nghiên cứu
a) Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
với cộng đồng là một khía cạnh của quá trình nghèo đói.
1.1.2. Các chỉ tiêu để đánh giá, xác định hộ nghèo đói
6
a) Quan niệm của thế giới:
Chỉ tiêu thu nhập: Ngân hàng thế giới đưa ra khuyến nghị thang đo đói nghèo như sau:
- Đối với các nước nghèo, các cá nhân được gọi là nghèo đói khi có thu nhập dưới 0,5
USD/ngày.
- Đối với các nước đang phát triển là 1USD/ngày.
- Đối với các nước thuộc châu Mĩ La Tinh và Caribe là 2USD/ngày.
- Đối với các nước Đông Âu là 4USD/ngày.
Chỉ tiêu HDI:
Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ số tổng hợp của tuổi thọ trung bình, tỷ lệ biết chữ, giáo
dục và các tiêu chuẩn cuộc sống của các quốc gia trên thế giới. Nó là chỉ số tiêu chuẩn của chất
lượng cuộc sống, đặc biệt là phúc lợi trẻ em. Là chỉ số cho ta cái nhìn tổng quát và không kém phần
xâu sắc.
Thế giới chia mức HDI như sau;
- Mức độ phát triển con người cao có giá trị HDI từ 0,799 trở lên
- Mức độ phát triển con người trung bình có giá trị HDI từ 0,500 - 0,799.
- Mức độ phát triển con người thấp có giá trị HDI nhỏ hơn 0,500.
Hiện nay có 83/187 nước đạt mức độ phát triển con người cao, đứng đầu là Nauy với giá trị HDI
là 0,995 ( năm 2013 ), có 75/187 nước đạt mức độ phát triển con người trung bình, và 24/182 nước
đạt mức độ phát triển con người thấp, Nigie là nước thấp nhất với HDI là 0,340. Việt Nam đang nằm
trong nhóm nước có mức độ phát triển con người trung bình, HDI của Việt Nam hiện nay là 0,617
đúng thứ 7 Đông Nam Á và đứng thứ 127/187 quốc gia và vùng lãnh thổ.
b) Quan điểm của Việt Nam:
Ở Việt Nam hiện nay còn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về nghèo đói và các phương
pháp xác định chuần nghèo khác nhau, dưới đây là chỉ tiêu về thu nhập và chi tiêu:
Giai đoạn 2006-2010:
Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ ban hành ngày 08 tháng 07
năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là:
1.2.1.2 Khoảng cách giàu nghèo ngày càng lớn
Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Thế Giới đang tổ chức nhiều hội nghị thường niên
vào mùa xuân trong tuần này và một trong những chủ đề chính là chiến dịch đấu tranh chống đói
nghèo. Trong nội dung hội nghị, Ngân Hàng Thế Giới đã phát hành một báo cáo về tình hình nạn
nghèo đói toàn cầu vào tuần trước, mà trong đó có các số liệu khá thú vị
Đây là một thực tế là quá trình phát triển kinh tế lâu dài nhưng thiếu công bằng đã đẩy một bộ
phận dân chúng của nhiều quốc gia phát triển rơi vào tình trạng nghèo9
Hình 2: số lượng người cực nghèo trên thế giới năm 2010.
Nhìn vào hình ảnh trên ta thấy được một sự thật bất ngờ về nghèo đói: đó là số lượng người cực
nghèo trên toàn thế giới không nằm ở các nước có thu nhập thấp mà nó nằm chủ yếu ở các nước có
thu nhập cao và thu nhập trung bình.
So với năm 1990, tỉ lệ % dân số thế giới sống trong nghèo khó đã giảm từ 36% xuống còn 18%.
Những nền kinh tế đang phát triển, thậm chí phát triển rất mạnh điển hình cho thực trạng này là
Ấn Độ và Trung Quốc, mỗi quốc gia sở hữu số dân hơn 1 tỷ người và chỉ cần 1 bộ phận nhỏ của 2
người khổng lồ này cũng đủ tương đương dân số cả châu Âu.
Theo UNICEF, mỗi ngày có khoảng 22.000 trẻ em chết do nghèo đói, không có cơm bánh để ăn,
và thuốc men cần thiết. Con số khoảng 22.000 trẻ em chết do nghèo đói, không có cơm bánh để ăn,
và thuốc men cần thiết mỗi ngày cho ta những suy nghĩ về sự bất công trong việc phân chia và sở
hữu lợi tức, của cải, cùng với chủ nghĩa cá nhân hưởng thụ, khuynh hướng co cụm, ích kỷ, dửng
dưng của một thời đại công nghiệp số hóa và hưởng thụ hóa. Khoảng từ 27 cho đến 28% tất cả các
trẻ em ở các nước đang phát triển (The Developing Countries) đều là những em thiếu cân, còi cọc.
1.2.2. Kinh nghiệm rút ra từ công tác XĐGN ở một số nước trên thế giới
10
1.2.2.1 Hàn Quốc
Sau chiến tranh thế giới lần thứ 2, chính phủ Hàn Quốc không chú ý đến việc phát triển nông
nghiệp nông thôn mà đi vào tập trung phát triển ở các vùng đô thị, xây dựng các khu công nghiệp tập
trung ở các thành phố lớn, thế nhưng 60% dân số Hàn Quốc sống ở khu vực nông thôn, cuộc sống
2.1. Thực trạng nghèo đói ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay
2.1.1.Thu nhập – kinh tế xã hội Việt Nam trong những năm qua
Kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ tăng tương đối khá, đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém
phát triển, bước vào nhóm nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình.
Tính ra, trong mười năm 2001-2010, bình quân mỗi năm tổng sản phẩm trong nước tăng 7,26%,
trong đó kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội 5 năm 2001-2005 tăng 7,51%/năm; kế hoạch phát triển
kinh tế-xã hội 5 năm 2006-2010 tăng 7,01%/năm. So với giai đoạn 1991-2000, quy mô nền kinh tế
đã tăng lên đáng kể cả về mức của lượng tuyệt đối của 1%, cũng như tốc độ tăng trưởng bình quân
mỗi năm vẫn đạt 7,26%, xấp xỉ tốc độ tăng 7,56%/năm của chiến lược ổn định và phát triển kinh tế-
xã hội 1991-2000, đây là một thành tựu rất quan trọng
Bảng 1: GDP&GNI thời kỳ 2005-2010
Tổng số (triệu USD) Bình quân đầu người(USD)
GDP GNI GDP GNI
2005 52899 51841 642 629
2006 60819 59420 730 713
2007 71003 68802 843 817
2008 89553 86687 1052 1018
2009 91533 87207 1064 1027
2010 101623 97404 1169 1114
Nhìn vào số liệu ở bảng 1 ta thấy: thu nhập bình quân đầu người của nước ta từ năm 2005 –
2010 có xu hướng tăng dần theo thời gian, cho đến năm 2010, đạt 101623 triệu USD.
2.1.2. Thực trạng nghèo đói của Việt Nam trong những năm vừa qua
2.1.2.1 Các chỉ số đánh giá nghèo đói.
a) Chỉ số HDI của Việt Nam
Công thức tính: HDI = 1/3(chỉ số tuổi thọ bình quân + chỉ số giáo dục + chỉ số GDP bình
quân đẩu người.
Bảng 2: Các chỉ số thống kê HDI của Việt Nam từ năm 1990-2012
1990 1995 2000 2005 2010 2011 2012
0,499 0,565 0,534 0,573 0,612 0,614 0,617
Nguồn: báo cáo của UNDP (liên hợp quốc tại Việt Nam)
Năm GDP/người (%). Tỷ lệ
Lạm phát (%)
Tốc độ tăng
GDP/người
thực (%)
GDP/người(USD)
2005 640
2006 725 13,3 6,6 +6,7
2007 835 15,1 12,6 +2,5
2008 1052 25,9 22,9 +3
2009 1064 1,1 6,88 -5,78
2010 1170 9.9 11,2 -1,3
Nguồn: tổng cục thống kê.
Nhìn vào bảng 4 cho t thấy GDP/người thực tăng đều qua các năm, tăng mạnh nhất là vào giai
đoạn năm 2007 – cho đến năm 2008: 22,9 % nguyên nhân ở đây là do năm này có cuộc khủng hoảng
tài chính toàn cầu, làm tỷ lệ lạm phát tăng cao.
Đến năm 2010 GDP/người của nước ta đạt trên 1000 USD, và chính thức là quốc gia đạt mức
thu nhập trung bình.
2.1.2.2 Thực trạng nghèo đói
Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nghèo đói trên toàn quốc có xu hướng giảm, tuy nhiên lượng
tăng giảm này không đều và khoảng cách nghèo giữa các vùng ngày càng giãn rộng ra.
Hình 3: Biểu đồ nghèo các khu vực trên toàn quốc giai đoạn 2010 - 2013
Nhìn vào biểu đồ ta có thể thấy:
14
- Xu hướng nghèo của các khu vực trong cả nước đang có xu hướng giảm từ năm 2010 cho đến
năm 2013.
- Các khu vực nghèo tập trung chủ yếu ở miền núi: miền núi Tây bắc, Đông Bắc, bắc Trung Bộ
trong đó miền núi Tây Bắc có tỉ lệ nghèo cao nhất cả nước trong giai đoạn này năm 2010 lên đến
39%, ngược lại ở những vùng đồng bằng thì tỉ lệ nghèo rất thấp, và thấp nhất là Đông Nam Bộ chỉ
loại nghèo, so với chỉ 12,9% ở người Kinh.
Hình 4: tỷ lệ nghèo (%) nghèo tính cho nhóm dân tộc thiểu số năm 2009.
Các bản đồ nghèo mới được xây dựng trên cơ sở kết quả Tổng Điều tra Dân số và Nhà ở năm
2009 và năm 2010. Bản đồ này cho thấy hiện nay tình trạng nghèo chủ yếu tập trung ở các vùng cao
của Việt Nam, gồm miền núi Đông Bắc và Tây Bắc và một số khu vực ở Tây Nguyên. Ngược lại,các
bản đồ “giàu có” hộ bổ xung cho thấy:các hộ giàu chủ yếu tập trung ở Đồng bằng sông Hồng (gần
Hà Nội) và Đông Nam bộ, cũng như các trung tâm đô thị dọc bờ biển.Người dân tộc thiểu số chiếm
15% dân số Việt Nam và gần nửa trong số họ vẫn ở diện nghèo.
Việt Nam đang đối mặt với một số nguy cơ đe dọa phá hoại thành quả phát triển. Trong đó có
thể kể đến thâm hụt tài khoản vãng lai gia tăng nhanh từ 1,7% giai đoạn 2000 – 2007 lên 6,45% giai
đoạn 2007 – 2011.
16
Bảng 5: Ước tính tỉ lệ nghèo mới cho năm 2010 theo khu vực thành thị và nông thôn
Tỉ lệ nghèo của TCTK-NHTG Tỉ lệ nghèo chính thức Tỷlệ dân
số (%)
Tỉ lệ (%) Mức đóng góp cho
tỉ lệ chung (%)
Tỉ lệ (%) Mức độ độ
Đóng góp cho
Tỷ lệ chung.
Tỉ lệ chung của
quốc gia
20.7 100 14.2 100 100
Thành thị 6.0 9.0 6.9 6.0 30
Nông thôn 27.0 91.0 17.4 94.0 70
Nguồn: báo cáo giảm nghèo năm 2011 của word bank .
- Theo phương pháp và chuẩn nghèo mới của TCTK-NHTG: 20,7% dân số Việt nam vẫn thuộc
diện nghèo vào năm 2010, bao gồm 27% ở khu vực nông thôn và 6% ở khu vực thành thị, và 8% dân
số vẫn thuộc diện cực nghèo. Con số này cần so với tỷ lệ nghèo chính thức 14,2% vốn được xác định
theo các chuẩn nghèo chính thức áp dụng cho khu vực nông thôn và thành thị của Việt Nam nêu
18
số 8,7% trẻ em thiếu nước sạch có thể quá thấp. Về yếu tố dân tộc, những dân tộc ít người, sống
phân tán ở vùng cao, điển hình là người Mông trong mẫu điều tra, có tỷ lệ trẻ em nghèo cao về tất cả
các lĩnh vực. Trẻ em thuộc các dân tộc có dân số đông, sống tập trung và ở vùng núi thấp, vùng đồng
bằng như Tày, Nùng, Mường, Thái… thì mức độ nghèo về thông tin là điều đáng chú ý.
-Tóm lại:
Sau 10 năm nỗ lực xóa đói, giảm nghèo, Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO) đã công nhận
Việt Nam có thành tích trong xóa đói giảm nghèo. Việt Nam nằm trong nhóm 18 quốc gia được trao
bằng khen chứng nhận việc sớm đạt được Mục tiêu Phát triển thiên niên kỉ 1 (MDG1) – hướng tới mục
tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015. Điều đó khẳng định Định hướng Chiến lược toàn
diện về tăng trưởng và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam là đúng đắn, hợp lòng dân và phù hợp với xu
thế chung của thế giới.
- Đặc biệt, tham luận của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh, Trưởng Ban chỉ đạo Trung ương về
giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020, dẫn báo cáo “Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn
thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những thách thức mới” của Ngân hàng
Thế giới (WB), công bố đầu năm 2013, cho biết: WB đã đánh giá tỷ lệ nghèo ở Việt Nam giảm từ
gần 60% xuống 20,7% trong 20 năm qua (1990-2010) với khoảng 30 triệu người. Bên cạnh đó, Việt
Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế. Tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học của người
nghèo hơn 90% và ở bậc trung học cơ sở là 70%.
- Tuy nhiên, tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa bền vững, khoảng cách giàu – nghèo giữa các
vùng, nhóm dân cư còn lớn; nhiều vùng còn nhiều khó khăn, có vùng còn trên 50% hộ nghèo, cá biệt
có vùng còn 60% -70% hộ nghèo. Tỷ trọng hộ nghèo dân tộc thiểu số chiếm gần 50% tổng số hộ
nghèo trong cả nước, thu nhập bình quân của hộ dân tộc thiểu số chỉ bằng 1/6 mức thu nhập bình
quân cả nước. Với mục tiêu cụ thể đặt ra, đến cuối năm 2013, tỷ lệ hộ nghèo của cả nước giảm
2%/năm (từ 9,6% xuống còn 7,6%), riêng tỷ lệ hộ nghèo ở các huyện nghèo giảm bình quân 4%/năm
(từ 43,89% năm 2012 xuống còn 38,89% năm 2013), đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo cả nước
giảm còn dưới 5% theo chuẩn nghèo hiện hành, tỷ lệ nghèo các huyện nghèo còn dưới 30%.
2.1.3. Thành tựu đạt được:
a) Tỷ lệ giảm nghèo:
- Theo tổng kết của Bộ Lao động, Thương binh & Xã hội về chương trình mục tiêu quốc gia
mục tiêu Quốc hội đề ra từ 14,2% (năm 2010) xuống còn 9,6% (năm 2012). Thông qua thực hiện
Chương trình 135 giai đoạn II, tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn giảm từ 47%
(năm 2006) xuống còn 28,8% (năm 2010), thu nhập bình quân đầu người là 4,2 triệu
đồng/người/năm.
- Theo Báo cáo Đánh giá nghèo Việt Nam năm 2012 mới công bố của Ngân hành thế giới World
Bank, hơn 30 triệu người Việt Nam đã thoát khỏi đói nghèo trong hai thập kỷ qua. Nghèo đói ở Việt
Nam đã giảm nhanh chóng từ 60% hồi đầu những năm 1990 xuống 20,7% trong năm 2010. Việt
Nam đã đạt được tỷ lệ nhập học tiểu học và trung học cơ sở cao, lần lượt hơn 90% và 70%.
Theo đánh giá gần đây nhất của Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc FAO, Việt Nam là một trong
những nước đạt được thành tích nổi bật trong việc giảm số người bị đói từ 46,9% (32,16 triệu người)
trong giai đoạn 2010 – 2012, và đã đạt được Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ 1 (MDG1) – hướng
20
tới mục tiêu giảm một nửa số người bị đói vào năm 2015.
b) Thu nhập bình quân đầu người.
- Do kinh tế liên tục tăng trưởng với tốc độ khá; đồng thời, các ngành, các địa phương triển khai
thành công Chương trình mục tiêu quốc gia về xóa đói, giảm nghèo và nhiều chương trình liên quan
khác nên đời sống dân cư nhìn chung được cải thiện rõ rệt.
- Theo kết quả Khảo sát mức sống hộ gia đình do Tổng cục Thống kê tiến hành 2 năm một lần
thì thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của dân cư đã tăng từ 356,1 nghìn đồng năm 2002 lên 484,4
nghìn đồng năm 2004; 636,5 nghìn đồng năm 2006; 995,2 nghìn đồng năm 2008 và 1387,2 nghìn
đồng năm 2010. Chi tiêu bình quân 1 người 1 tháng vào các năm tương ứng cũng tăng từ 293,7
nghìn đồng lên 396,8 nghìn đồng; 511,4 nghìn đồng; 792,5 nghìn đồng và 1210,7 nghìn đồng Cũng
theo kết quả của các cuộc Khảo sát mức sống hộ gia đình nêu trên thì tỷ lệ hộ có nhà kiên cố tăng từ
17,2% năm 2002 lên 27,8%năm 2008 và 49,2% năm 2010.Tỷ lệ hộ sinh sống trong nhà tạm giảm từ
24,6% năm 2002 xuống còn 13,1% năm 2010. Tỷ lệ hộ có xe máy tăng từ 32,3% năm 2002 lên
64,8% năm 2008; tỷ lệ hộ có tủ lạnh tăng từ 10,9% lên 31,5%; tỷ lệ hộ có ti vi màu tăng từ 52,7%
lên 86,6%; tỷ lệ hộ có máy vi tính tăng từ 2,4% lên 10,9%; tỷ lệ hộ có máy giặt tăng từ 3,8% lên
13,1%; tỷ lệ hộ có máy điều hòa nhiệt độ tăng từ 1,1% lên 4,4%; tỷ lệ hộ có ô tô tăng từ 0,1% lên
0,4%; tỷ lệ hộ có điện thắp sáng tăng từ 86,5% lên 97,6%; tỷ lệ hộ dùng nước hợp vệ sinh cho ăn
uống tăng từ 78,1% lên 92,1%.Tỷ lệ nghèo chung (tính theo chuẩn chi tiêu của NHTG-TCTK) đã
- Trong những năm vừa qua, tỷ lệ nghèo của nước ta đã giảm đáng kể nhưng đến nay vẫn còn
tương đối cao. Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn nghèo mới5) của một số vùng vẫn trên 20%
(Vùng Trung du và miền núi phía Bắc còn 29,4%; Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung 20,4%;
Tây Nguyên 22,2%). Đến năm 2010 ở nhiều vùng số hộ nghèo vẫn lớn đến mức bình quân cứ 4-5 hộ
có 1 hộ nghèo.
- Đời sống của một bộ phận dân cư, nhất là dân cư sinh sống ở vùng sâu, vùng xa, vùng thường
xuyên bị thiên tai vẫn rất khó khăn
- Những hộ cận nghèo và vừa mới thoát nghèo có thể lại rơi vào nhóm các hộ nghèo một khi gặp
khó khăn trong sản xuất và đời sống. Trên ý nghĩa đó mà xét thì kết quả xoá đói giảm nghèo vẫn
chưa thật vững chắc.
- Thu nhập của các tầng lớp dân cư đều tăng trong những năm vừa qua, nhưng thu nhập của một
bộ phận dân cư tăng chậm, làm cho khoảng cách chênh lệch giàu nghèo tương đối cao và có xu
hướng ngày càng doãng ra. Thu nhập bình quân 1 người 1 tháng năm 2002 của 20% số hộ thuộc
nhóm thu nhập cao nhất đạt 872,9 nghìn đồng, gấp 8,1 lần thu nhập bình quân 1 người 1 tháng của
20% số hộ thuộc nhóm thu nhập thấp nhất; năm 2004 đạt 1182,3 nghìn đồng; gấp 8,3 lần; năm 2006
22
đạt 1541,7 nghìn đồng, gấp 8,4 lần; năm 2008 đạt 2458,2 nghìn đồng, gấp 8,9 lần; năm 2010 đạt
3411,0 nghìn đồng, gấp 9,23 lần.
2.1.5: Nguyên nhân dẫn đến nghèo đói ở Việt Nam
2.1.5.1 Nguyên nhân khách quan:
Việt Nam là một nước nông nghiệp lạc hậu vừa trải qua một cuộc chiến tranh lâu dài và gian
khổ, cơ sở hạ tầng bị tàn phá, ruộng đồng bị bỏ hoang, bom mìn, nguồn nhân lực chính của các hộ
gia đình bị sút giảm do mất mát trong chiến tranh, thương tật, hoặc phải xa gia đình để tham gia
chiến tranh, học tập cải tạo trong một thời gian dài.
Chính sách nhà nước thất bại: sau khi thống nhất đất nước việc áp dụng chính sách tập thể hóa nông
nghiệp, cải tạo công thương nghiệp và chính sách giá lương tiền đã đem lại kết quả xấu cho nền kinh tế vốn
đã ốm yếu của Việt Nam làm suy kiệt toàn bộ nguồn lực của đất nước và hộ gia đình ở nông thôn cũng như
thành thị, lạm phát tăng cao có lúc lên đến 700% năm.
Hình thức sở hữu: việc áp dụng chế độ sở hữu toàn dân, sở hữu nhà nước và tập thể của các tư
liệu sản xuất chủ yếu trong một thời gian dài đã làm thui chột động lực sản xuất.
Hiệu năng quản lý chính phủ thấp.
2.2. Các chính sách XĐGN ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Mục tiêu:
a) Mục tiêu tổng quát
Tạo sự chuyển biến nhanh hơn về đời sống vật chất, tinh thần của người nghèo, đồng bào dân
tộc thiểu số thuộc các huyện nghèo, bảo đảm đến năm 2020 ngang bằng các huyện khác trong khu
vực. Hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp bền vững, theo hướng sản xuất hàng hóa, khai thác
tốt các thế mạnh của địa phương. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phù với đặc điểm của
từng huyện; chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả theo quy hoạch;
xây dựng xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường
sinh thái được bảo vệ; bảo đảm vững chắc an ninh, quốc phòng.
b) Mục tiêu cụ thể đến năm 2015.
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của tỉnh. Tăng cường năng lực cho
người dân và cộng đồng để phát huy hiệu quả các công trình cơ sở hạ tầng thiết yếu được đầu tư,
từng bước phát huy lợi thế về địa lý, khai thác hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; bước đầu phát triển
sản xuất theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô nhỏ và vừa, người dân tiếp cận được các dịch vụ sản
xuất và thị trường tiêu thụ sản phẩm một cách thuận lợi; lao động nông nghiệp còn dưới 60% lao
24
động xã hội; tỷ lệ lao động nông thôn qua đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 40%.
c) Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
Giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống mức ngang bằng mức trung bình của khu vực. Giải quyết cơ bản vấn
đề sản xuất, việc làm, thu nhập để nâng cao đời sống của dân cư ở các huyện nghèo gấp 5 – 6 lần so
với hiện nay. Lao động nông nghiệp còn khoảng 50% lao động xã hội, tỷ lệ lao động nông thôn qua
đào tạo, tập huấn, huấn luyện đạt trên 50%; số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới khoảng 50%. Phát
triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội nông thôn, trước hết là hệ thống thủy lợi bảo đảm tưới
tiêu chủ động cho toàn bộ diện tích đất lúa có thể trồng 2 vụ, mở rộng diện tích tưới cho rau màu,
cây công nghiệp; bảo đảm giao thông thông suốt 4 mùa tới hầu hết các xã và cơ bản có đường ô tô
tới các thôn, bản đã được quy hoạch; cung cấp điện sinh hoạt cho hầu hết dân cư; bảo đảm cơ bản
điều kiện học tập; chữa bệnh, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc.
2.2.2. Các chính sách XĐGN của đảng và nhà nước