THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM. - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn chuyên đề :
Theo kết quả giải quyết việc làm,phát triển thị trường lao động,vào năm 2009, cả
nước có 57 triệu người trong độ tuổi lao động , trong đó 43,8 triệu người có việc
làm, chiếm 51,1% dân số. Trong năm này, nước ta đã tạo được việc làm mới cho
1,51 triệu lao động ,trong đó, giải quyết việc làm trong nước khoảng 1,6 triệu lao
động , ngoài nước khoảng 73 nghìn lao động, tuyển mới dạy nghề đạt 104,5% kế
hoạch; tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 11,3%, việc triển khai Đề án hỗ trợ các
huyện nghèo xuất khẩu lao động góp phần giảm nghèo nhanh và bền vững giai
đoạn 2009-2020, đến nay đã có 3.500 người được đào tạo nghề, học ngoại ngữ,
trong đó có 1.000 người đã được xuất cảnh đi làm việc ở nước ngoài. Cơ cấu lao
động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ lệ lao động làm việc
trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp và tăng trong khu vực công nghiệp, xây dựng
và thương mại dịch vụ.
Đứng trước thềm 2010, chỉ tiêu đặt ra là việc làm trong nông nghiệp giảm xuống
còn 40% vào năm 2015; đạt cơ cấu kỹ năng của lực lượng lao động ở mức 60%
lao động qua đào tạo và 40% lao động qua đào tạo nghề vào năm; tỷ lệ thất
nghiệp đô thị dưới 5% , với tốc độ tăng này cùng với bối cảnh kinh tế đất nước
ngày càng khởi sắc, Việt Nam có thể thực hiện được mục tiêu giảm tỷ lệ lao
động trong nông nghiệp đã đề ra .
Theo ý kiến của nhiều chuyên gia, yếu tố chuyển dịch lao động rất quan trọng
trong việc xây dựng, phát triển thị trường lao động. Cùng với quy định về cung
cầu, tiền lương, quan hệ lao động, thì chuyển dịch lao động được coi là vấn đề
mấu chốt.
Hiện nay , nền kinh tế nước ta đang trên đà phát triển , tuy nhiên tình trạng thất
nghiệp vẫn còn là vấn đề nan giải tạo sức ép lớn về lao động và việc làm, do đó
xuất khẩu lao động là một hướng giải quyết hữu hiệu và ngày càng được chú
trọng nhằm giải quyết việc làm cho người lao động trong nước, tăng thu nhập,
tạo sự ổn định và phát triển đất nước. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X (năm
2006) về xuất khẩu lao động lại tiếp tục được khẳng định trong Nghị quyết của
Đại hội: “Đẩy mạnh xuất khẩu lao động. Xây dựng và thực hiện đồng bộ, chặt

5.Nguồn số liệu
Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An
Niên giám thống kê năm 2007 - Chi cục thống kê Nghệ An
Niên giám thống kê xuất bản năm 2009 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống
kê Nghệ An
Báo cáo kinh tế xã hội tỉnh nghệ an năm 2009
6.Kết cấu:
Chương I
1.Một số khái niệm......................................................................
2.
3
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN.
1.1.Một số khái niệm :
Thuật ngữ xuất khẩu lao động được sử dụng ở Việt Nam để chỉ hoạt động chuyển
dịch lao động từ quốc gia này sang quốc gia khác.Tham gia vào quá trình này
gồm hai bên: Bên nhập khẩu lao động và bên xuất khẩu lao động.
Nghị định số 152/NĐ-CP nêu rõ :“ Xuất khẩu lao động và chuyên gia là một hoạt
động kinh tế -xã hội góp phần phát triển nguồn lực, giải quyết việc làm ,tạo thu
nhập và nâng cao trình độ tay nghề cho người lao động,tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước…cùng với giải pháp giải quyết việc làm trong nước là chính, xuất
khẩu lao động và chuyên gia là một chiến lược quan trọng,lâu dài, góp phần xây
dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá ….”.
4
Theo quy định của pháp luật lao động Việt Nam, “Người lao động đi làm việc ở
nước ngoài theo hợp đồng là công dân Việt Nam, cư trú tại Việt Nam,có đủ các
điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam và pháp luật của nước tiếp nhận
người lao động, đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của pháp luật.
Nhà nước ta cũng thể hiện sự quan tâm đối với hoạt động này thông qua việc

đ ầu
tư ra nư ớc ngoài. Hình thức này được áp dụng chủ yếu trong lĩnh vực xây
dựng. Đây là hình thức người lao động thuộc quyền quản lý của các
doanh
5
nghiệp
Việt Nam được đi nước ngoài làm việc đồng bộ tại các công trình cho
doanh nghiệp Việt Nam.
Cung ứng lao động t rực tiếp theo các yêu cầu c ủ a công t y n ư ớc ngoài
thông qua các h ợp đồ ng lao độ ng được ký k ết b ởi các doanh ngh i ệp Việt Nam
làm dị ch v ụ cung ứ ng lao đ ộ ng . Được hình thành từ sau khi có nghị định
370/HĐBT ngày 9/11/1991 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) hình
thức này đã trở nên
phổ

biến
nhất hiện nay. Việc cung ứng lao động cho các tổ
chức, cá nhân nước ngoài chủ yếu được giao cho các tổ chức kinh tế có
chức năng đưa lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài. Đây là các doanh
6
nghiệp chuyên doanh về XKLĐ, được Nhà nước cấp giấy phép hành nghề, thực hiện
việc ký kết,
đư
a lao động đi nước ngoài làm việc và quản lý số lao động đó theo quy
định của Nhà nước. Hình thức này đòi hỏi đối tượng lao động tương đối đa dạng,
tuỳ theo yêu cầu và mức độ phức tạp của công việc mà bên nước ngoài yêu cầu lao
động giản đơn hay lao động có tay nghề cao.

làm việc, tìm kiếm được nguồn thu nhập tốt, góp phần tích cực vào việc giải quyết
việc làm cho xã hội .
Xuất khẩu lao động thời gian qua đã mang lại hiệu quả kinh tế đáng khích lệ, góp phần
quan trọng trong việc cải thiện đời sống cho người lao động và tăng nguồn thu ngoại tệ
cho đất nước ,nó không những làm tăng thu nhập quốc dân mà còn là cơ hội tốt để
người lao động tích lũy vốn, cải thiện đời sống và điều kiện làm việc của bản thân và
gia đình họ. Theo thống kê, đến tháng 6 năm 2009 Việt Nam đã có hơn 96.000 lao động
đi làm việc ở nước ngoài. Phần lớn, người lao động Việt Nam đi sang các thị trường
truyền thống như Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Malaysia, Macau và một số quốc gia
Trung Đông… (95%); số còn lại sang lao động tại một số nước Châu Âu và Châu Mỹ.
Theo Cục Quản lý lao động ngoài nước, để đạt mục tiêu tăng số lượng lao động đi làm
việc ở nước ngoài đến năm 2010 là hơn 100.000 lao động, Cục sẽ thực hiện một số giải
pháp trọng tâm như đẩy mạnh tuyên truyền, vận động người lao động sang thị trường
trọng điểm Malaysia; mở rộng các thị trường mới, thị trường có thu nhập cao, khuyến
khích xuất khẩu lao động có nghề, lao động kỹ thuật…
So với nguồn lao động dồi dào của Việt Nam hiện nay, thì việc hoàn thành chỉ tiêu trên
không phải là khó. Nếu như trong thời gian qua, các hoạt động liên quan tới việc xuất
8
khẩu lao động được thực hiện nghiêm túc, có sự quản lý tốt, thì chắc chắn con số đi lao
động ở nước ngoài còn lớn hơn nhiều, so với kết quả đã đạt được.
Mặt khác,đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài giúp Nhà nước giảm được khoản chi
phí đầu tư đào tạo nghề và tạo chỗ làm việc mới cho người lao động. Thông qua lao
động ở nước ngoài, người lao động đã nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật ,ngoại
ngữ, tiếp thu được những công nghệ và tác phong sản xuất công nghiệp tiên tiến, do đó
từng bước đáp ứng các yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
khi họ trở về. Như vậy, hoạt động XKLĐ nước ta đã đem lại lợi ích kinh tế - xã hội
không nhỏ, góp phần trực tiếp và gián tiếp vào việc tăng tích lũy vốn cho công nghiệp
hóa.
1.1.2.Khó khăn, hạn chế :
Bên cạnh các mặt tích cực như đã nêu trên, song trước nhu cầu hội nhập và cạnh tranh

tỉnh...). Từ đó doanh nghiệp xuất khẩu lao động không chủ động được nguồn lao động
để cung cấp cho các đơn hàng đã ký, hậu quả là các đối tác kém hấp dẫn khi đàm phán
với các doanh nghiệp xuất khẩu lao động của Việt Nam.
Năng lực và trình độ của các doanh nghiệp XKLĐ Việt Nam hiện nay cũng là một
thách thức lớn,trong tổng số trên 140 doanh nghiệp được cấp lại và cấp mới Giấy phép
xuất khẩu lao động theo Luật người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo
hợp đồng, thì có khoảng 1/3 là doanh nghiệp mạnh, bảo đảm được một số tiêu chí chính
như: tìm kiếm được các đơn hàng hấp dẫn (điều kiện làm việc, thu nhập, điều kiện
sống, đi lại tốt, không có hoặc có ở mức thấp về tiền môi giới...), tạo nguồn nhanh và
phù hợp với yêu cầu của đối tác, có cơ sở đào tạo nghề hoặc chủ động hợp tác với cơ sở
đào tạo nghề để tạo nguồn; quản lý tốt và sử lý mọi phát sinh nhanh gọn phù hợp với
pháp luật... Còn lại 2/3 số doanh nghiệp năng lực và trình độ ở mức trung bình và thấp
(năm 2007 chỉ có trên 20 doanh nghiệp và tổ chức đưa được từ 1.000 lao động trở lên đi
làm việc ở nước ngoài, 6 tháng đầu năm 2008 có 15 doanh nghiệp và tổ chức đưa được
từ 500 người trở lên đi làm việc ở nước ngoài, thậm chí có tới 33 doanh nghiệp trong 6
tháng đầu năm 2008 chỉ đưa đi được dưới 50 người).
Bên cạnh đó còn nhiều thách thức khác ảnh hưởng tới sự phát triển công tác xuất khẩu
lao động của Việt Nam, như ý thức tuân thủ hợp đồng của người lao động còn yếu; sự
cạnh tranh không lành mạnh ở một số doanh nghiệp làm công tác XKLĐ; chưa có chính
10
sách và sự gắn kết của các tổ chức trong việc bố trí sử dụng số lao động đã hoàn thành
hợp đồng về nước, chưa có một chiến lược toàn diện và lâu dài cho lĩnh vực này... đa số
người Việt Nam đi lao động ở nước ngoài là nông dân, tiếp thu ngoại ngữ chậm, lại
được đào tạo trong thời gian quá ngắn, vì vậy vốn kiến thức mà họ được trang bị cũng
như học hỏi được là rất ít và không đồng bộ. Ưu điểm của số lao động này là có sức
khỏe, nhưng họ lại không có nghề nghiệp chuyên môn và chưa quen với tác phong công
nghiệp trong nền sản xuất của nước bạn. Mặt khác, hệ thống đào tạo của nước ta chưa
chú trọng về việc cho người lao động tìm hiểu cũng như có kiến thức về văn hóa, chính
trị, luật pháp cũng như những đặc trưng của nước sở tại mà họ sẽ lao động, vì vậy tạo
cho người lao động sự bỡ ngỡ khi làm việc trong môi trường hoàn toàn mới và xa lạ

cuộc Công Nghiệp Hóa đất nước.
2.2.Chính sách XKLĐ :
Nhằm đưa những quan điểm trên vào thực tiễn, Chính phủ sử dụng nhiều chính sách
khuyến khích nhằm tạo cho hoạt động xuất khẩu lao động những con đường phát triển
thuận lợi nhất. Mới đây, thông qua nghị định 81/2003/NĐ-CP, Chính phủ đã có quyết
định về việc thành lập quỹ hỗ trợ xuất khẩu lao động, theo đó quỹ này sẽ hỗ trợ chi phí
cho việc phát triển thị trường lao động mới, cho việc đào tạo người lao động ,việc hỗ
trợ người lao động và doanh nghiệp giải quyết rủi ro cũng như việc thưởng cho các cơ
quan, đơn vị có thành tích trong hoạt động xuất khẩu lao động. Như vậy, quỹ này ra
đời sẽ góp phần phát triển thị trường lao động, nâng cao chất lượng và khả năng cạnh
tranh của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế, đồng thời hỗ trợ rủi ro
cho người lao động và doanh nghiệp trong hoạt động này.
Bên cạnh đó, Nhà nước cũng có những chính sách hỗ trợ cho vay đối với người lao
động đi xuất khẩu, theo đó người lao động đi xuất khẩu lao động không thuộc diện
chính sách được vay tối đa là 20 triệu đồng mà không yêu cầu thế chấp tài sản, điều này
đã tháo gỡ rất nhiều khó khăn cho người lao động, nhất là với những lao động nghèo ở
nông thôn – lực lượng chính của xuất khẩu lao động, những người không có tiền để
đóng góp chi phí xuất khẩu lao động hoặc không có tài sản để thế chấp. Đồng thời với
chính sách này, hồ sơ thủ tục xin đi xuất khẩu lao động cũng đã được giảm bớt và trở
12
nên đơn giản, thuận lợi hơn. Mặc dù chủ trương chính sách đó được ban hành tương đối
đồng bộ và từng bước hoàn thiện, nhưng vẫn còn chậm trong công tác triển khai vào
cuộc sống,một số ngành, địa phương đứng ngoài hoạt động xuất khẩu lao động hoặc có
tham gia nhưng thiếu triệt để, cán bộ quan liêu,hạch sách dân trong việc giải quyết thủ
tục đi xuất khẩu lao động.
Còn nhiều khoản mục cần thiết phải có sự hỗ trợ của Nhà nước nhưng chưa được quan
tâm đúng mực. Ví dụ như chính sách hỗ trợ của Nhà nước đối với vấn đề tạo lập ,giữ
vững và phát triển thị trường ,vấn đề tư pháp quốc tế, vấn đề bảo hộ hoạt động xuất
khẩu lao động khi tham gia vào thị trường mới.…
2.2.3.Quản lý hoạt động XKLĐ :

năng lực đào tạo lao động. Đó hình thành được 154 doanh nghiệp có giấy phép XKLĐ
trong đó chiếm gần 90% là doanh nghiệp được bổ sungchức năng XKLĐ. Nhiều doanh
nghiệp đó tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm thị trường ngoài nước,phối kết hợp
với các cơ quan chức năng, co sở đào tạo nghề để trang bị kiến thức chuyên môn,
nghiệp vụ, luật pháp,phong tục tập quán, ngoại ngữ cho người lao động.Xuất hiện ngày
càng nhiều doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả, có uy tín đối với đối tác nướcngoài, rất
thuận lợi cho việc phát triển thị trường lao động. Kết quả trong 3 năm từ 2001 – 2003
đó có:
1 doanh nghiệp xuất khẩu 10.000 lao động;
4 doanh nghiệp xuất khẩu trên 5.000 lao động;
37 doanh nghiệp xuất khẩu trên 1.000 lao động
Bên cạnh những kết quả này, chất lượng của các doanh nghiệp XKLĐ vẫn tồn tại nhiều
bất cập. Trên thực tế, đội ngũ hoạt động trong lĩnh vực này vẫn còn mỏng, yếu về kinh
nghiệm, thiếu về cơ sở vật chất, tiềm lực tài chính ,vì vậy khả năng khai thác và phát
triển thị trường còn hạn chế. Song song với những khó khăn này, chất lượng của các
trung tâm dạy nghề cũng có nhiều vấn đề đáng bàn, các cơ sở đào tạo nghề đó hiếm, lại
nghèo nàn và lạc hậu về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên mỏng và yếu về chuyên môn
nghiệp vụ, phần lớn những nghề mà trường đào tạo cho học viên là những nghề trường
có khả năng đào tạo chứ chưa dựa vào nhu cầu thực tiễn của từng thị trường lao động
14
ngoài nước . Mặt khác, việc đào tạo nghề chỉ nặng về việc đào tạo chuyên môn, nghiệp
vụ mà chưa đi sâu, đi sát để lồng ghép tốt giữa đào tạo chuyên môn nghiệp vụ với ngoại
ngữ, giáo dục pháp luật, phong tục tập quán của nước nhập khẩu lao động.Như vậy, vấn
đề cần quan tâm của các doanh nghiệp cũng như của các trung tâm làm công tác XKLĐ
là không chỉ nâng cao số lượng lao động xuất khẩu, mà còn phải làm thế nào để cung
lao động xuất khẩu vượt ra khỏi tầm lao động giản đơn, không có nghề, vươn tới lao
động xuất khẩu có trình độ tay nghề cao, đáp ứng yêu cầu về cơ cấu, chất lượng nghề
đào tạo trên thị trường lao động quốc tế.
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG XUẤT KHẨU LAO ĐỘNG

Hiện nay Nghệ An có gần 1,8 triệu lao động, hàng năm số lao động đến tuổi lao động
xấp xỉ 30.000 người.
Xét về cơ cấu, lực lượng lao động ở Nghệ An phần lớn là lao động trẻ,độ tuổi từ 15 - 24
chiếm 22,45%, từ 25 - 34 chiếm 14,16%; từ 35 - 44 chiếm 13% và từ 45 - 54 chiếm
8,71%. (số lao động cụ thể xem bảng 1).Tỷ lệ lao động qua đào tạo chiếm 35,7%, tập
trung vào một số nghề như sửa chữa xe có động cơ, lái xe, may mặc, điện dân dụng,
điện tử,...còn một số nghề như chế biến nông, lâm sản, nuôi trồng thủy sản, vật liệu xây
dựng… có quá ít lao động đã qua đào tạo.
Tổng số lao động của tỉnh :1,8 triệu người
Độ tuổi 15-24 25-34 35-44 45-54
SốLĐ(người) 404.100 254.880 234.000 156.780
Bảng 1.số lao động từ độ tuổi 15 đến 54 của Nghệ An.
Kinh tế
Nghệ An có rất nhiều lợi thế về mặt kinh tế do có vị trí thuận lợi trong giao thương,
buôn bán. Vị trí địa lý của tỉnh Nghệ An nằm trên trục giao thông Bắc - Nam cả về
đường bộ, đường sắt, đường biển lẫn đường hàng không. Vì vậy tỉnh có điều kiện giao
lưu kinh tế với các tỉnh thành trong cả nước và một số nước trong khu vực. Bên cạnh
đó, tỉnh còn có lợi thế là quỹ đất nông nghiệp rộng hơn 19,5 vạn ha, diện tích đất trống,
đồi núi trọc chưa sử dụng trên 58 vạn ha, tài nguyên rừng và biển rất phong phú
với nhiều loại cây, con có giá trị kinh tế cao. Mặc dù thời tiết có phần khắc nghiệt, khi
nóng, khi bão lụt nhưng khí hậu ở đây lại thích hợp với nhiều loại cây trồng và vật nuôi
16
như: lúa, lạc, vừng, mía, dứa, chuối; một số cây công nghiệp, cây ăn quả như: cà phê,
cao su, cam, nhãn, xoài... Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của tỉnh lại tương đối dồi dào,
có truyền thống cần cù, hiếu học, trình độ sản xuất ngày càng cao.
Tổng sản phẩm trong tỉnh qua các năm, so sánh với giá năm 1994 như sau:
Chỉ tiêu
Đơn
vị
2002 2003 2004 2005 2006

2.2 Chất lượng của lực lượng lao động
17
Trong những năm qua nhờ các chính sách đầu tư cho giáo dục và các vấn đề liên quan
đến phát triển con người nên trình độ học vấn nói riêng và chất lượng của lực lượng lao
động nói chung của tỉnh Nghệ An ngày càng được nâng cao. Cho đến nay, tất cả các
huyện, thị, thành phố trong tỉnh và 100% số xã, phường đã được công nhận phổ cập tiểu
học và chống mù chữ.Tỷ lệ lao động được đào tạo khoảng 15%. Toàn tỉnh hiện có 105
tiến sỹ, trên 400 thạc sỹ, gần 24.000 người có trình độ đại học, 14.000 người có trình độ
cao đẳng, 60.000 người có trình độ trung học chuyên nghiệp. Năm 2008, các cơ sở đào
tạo nghề tuyển mới 43.800 học viên thì đến năm 2009 con số đó là 66.900 học viên.
Cùng với sự phát triển về mạng lưới cơ sở đào tạo, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính
sách khuyến khích việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ, thu hút nhân lực có trình độ cao, hỗ
trợ học nghề cho người lao động, tăng ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản và mua sắm
trang thiết bị kỹ thuật cho các trường đào tạo nghề của tỉnh và các trung tâm dạy nghề ở
các địa phương. Đáng chú ý là theo đề án đào tạo công nhân kỹ thuật bậc cao, trong giai
đoạn 2007-2010 các trường dạy nghề sẽ bổ sung cho thị trường lao động khoảng 34.000
công nhân bậc 3, 4.Hằng năm toàn tỉnh đã đào tạo cho trên 5 vạn lao động, đưa tỷ lệ lao
động qua đào tạo đến nay lên gần 40 % trong tổng nguồn lao động, trong đó đào tạo
nghề 26,8%, cơ bản đáp ứng mục tiêu của Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVI.
3. Thực trạng việc làm tỉnh Nghệ An
Trong những năm qua bên cạnh việc đầu tư phát triển kinh tế xã hội của tỉnh,Nghệ An
đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết việc làm,tích cực kêu gọi các nhà đầu tư trong
và ngoài nước.6 tháng đầu năm 2009, toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 16.400 người, trong
đó tạo việc làm mới tập trung 4500 người; tỷ lệ thất nghiệp lao động khu vực thành thị
đến tháng 6/2009 là 3,18%.đến cuối 2009 toàn tỉnh đã tạo việc làm cho 3,2 vạn lao
động. Trong đó, tạo việc làm mới tập trung 10.000 người. Giảm tỷ lệ thất nghiệp lao
động khu vực thành, thị xuống 2,8%; nâng tỷ lệ sử dụng thời gian lao động khu vực
nông thôn lên trên 85%.
Tình hình kinh tế xã hội của tỉnh giai đoạn 2004-2008.
Bảng 1. nông nghiệp

cầm
tấn

Thịt trâu - 3.634 4.240 4.139 4.437 5.324
Thịt bò - 4.333 5.512 6.126 6.694 8.701
Thịt lợn - 80.321 93.810 94.982 104.018 111.300
Thịt gia
cầm
- 17.506 18.512 17.835 18.522 24.078
Trứng
(nghìn quả)
- 277.033 288.313 290.601 297.459 325.021
Bảng 2. lâm nghiệp
Bảng 3. Thuỷ sản

Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An
Bảng 4. Giá trị sản xuất công nghiệp Sản phẩm chủ yếu công nghiệp trong toàn tỉnh
Đơn vị: Triệu đồng
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
Giá trị sản xuất công nghiệp 5.049.032 6.722.022 7.936.511 9.921.143 13.216.488
Trong đó:

TT Nội dung
Đơn vị
tính
2004 2005 2006 2007 2008
1
Giá trị sản xuất

21.131
6 Nuôi nước ngọt ha 16.076 17.493 18.222 18.765 19.455
7 Nuôi nước măn, lợ ha 1.339 1.279 1.560 1.599 1.676
8 Số lượng tàu thuyền Cái 3.169 3.476 3.845
- -
9 Tổng công suất cv 153.190 154.680 153.570
- -
19
Công nghiệp quốc doanh
2.281.919
3.330.949 3.698.525 4.262.054 5.253.661
Công nghiệp ngoài quốc doanh; 2.049.964 2.557.682 3.376.798 4.800.728 6.744.664
Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài 717.149 833.391 861.188 858.361 1.218.163

Bảng 5. Cơ cấu giá trị sản xuất công nghiệp
Đơn vị: %
Năm
Chỉ tiêu
2004 2005 2006 2007 2008
Giá trị sản xuất CN quốc doanh 45,2 49,55 46,6 42,96 39,75
Giá trị sản xuất CN ngoài quốc doanh 40,6 38,05 42,55 48,39 51,03
Giá trị sản xuất CN có vốn đầu tư NN 14,20 12,40 10,85 8,65 9,22

Bảng 6. Giá trị sản suất công nghiệp phân theo ngành công nghiệp:
Đơn vị: Triệu đồng

Năm
Chỉ tiêu
2006 2007 2008
1 . Công nghiệp khai thác 463.074 544.945 650.150

đôi
43 38,9 40 38 40
17 Gỗ xẻ các loại 1000 m3 46,11 56,57 62,71 86 88
18 Trang in Triệu
trang
2155 2328 2267 2363 2603
19 Oxy 1000 m3 1047,38 1096,49 889,1 1343 1668
20 Phân bón hỗn hợp Nghìn
tấn
32,52 35,12 75 84 90
21 Lốp xe đạp 1000 cái 400 126 2 5 -
22 Xi măng các loại 1000
Tấn
1033,62 1327,21 1482,14 1582 1637
23 Gạch nung 1000
viên
267678 352519 377880 427063 510700
20
24 ngói nung 1000
viên
50895 64713 65600 72599 83500
25 Xe cải tiến Cái 2844 2760 3104 5226 5750
26 Nước máy sản xuát 1000 m3 7566 10402 1158 13583 15355
27 Máy tuốt lúa có động
cơ550
611 1600 1810 2000
Niêm giám thống kê năm 2008 tỉnh Nghệ An – Biên soạn Chi cục Thống kê Nghệ An


2
Tổng số
doanh thu:
- Của cơ sở
lưu trú
- Của cơ sở
lữ hành

Triệu
đồng

153188
146549
6639
198101
188992
9109
253022
236985
16037
297988
277068
20920
355798
330148
25650 Thương mại - Dịch vụ


- Du lịch 6.639 9.109 16.037 20.231 25.650

- Khách sạn
nhà hàng
832.540 87.887 1.163.772 10.417.636 13.136.120

- Dịch vụ 297.970 333.032 426.565 571.179 851.850

Bảng 10. Xuất nhập khẩu
22
Năm

Chỉ tiêu

Đơn vị
tính

20042005

2006 2007 2008
Xuất
khẩu
hàng
hoá
6- Gạo
tẻ
Tán 10.069 15.467 6.862 6.570 17.060

7- Quần,
áo dệt
kim
1000 cái 1.445 1.246 777 745 995

8- Sản
phẩm
bằng gỗ
1000
USD
3.241 1.324 2.100 2.427 2.033

9- Tinh
bột sắn
Tấn 75.592 87.505 87.505 61.501 27.564

10-
Vừng
Tấn 30 - - 284 -

11-
Nhựa
thông
Tấn 3.358 2.765 1.818 691 -

12- đá

33.161 23.308
Sắt thép Tấn 15.344 7.830 11.667
1.905 246
Linh
kiện
điện tử
1000
USD
2.031 1.606 2.423
4.055 3000
Phân
bón
Tấn 122.208 79.401 26.901
37.599 115.749
Nhựa
đường
Tấn 7.920 10.589 14.178
5.246 4.611
Gỗ tròn m3 39.139 46.188 70.669
174.171 336.058
Gỗ xẻ m3 5.610 - -
- 2.363
Phụ
tùng
máy
nông
nghiệp
1000
USD
17.000 851 989

1
1 1 1 1 1
Bưu cục cấp
2
" 18
18
18 18 18 18 18
Bưu cục cấp
3
" 110
11
0
102 101 104 104 103
Số thuê bao
điện thoại
Thuê
bao
95916

163861 330214
49091
7
800818 1055989
Cố định
" 92624

150909
18682
1
23693

trang tin
điện tử
riêng

sở
...
...
... ... ... ... 15
Số máy vi
tính đang
sử dụng
Nghì
n cái
286

261 279 308 194 ...
Số đơn vị có
giao dịch
thương mại
điện tử
Đơn
vị
...
...
... ... ... ... ...
Sản lượng
Bưu phẩm
Nghì
n
bưu

Nghì
n tờ
10767
1376
7
18932 14229
1628
1
1463
2
Điện báo
Nghì
n
tiếng
550

761 751 657 509 ...
Điện thoại
Nghì
n
phút
82320

1164
98
11689
2
13227
5
1191


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status