Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
1. SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI:
Trong bất kì một chế độ xã hội nào, thuế luôn luôn là một công cụ thể
hiện quyền lực của Nhà nước và là nguồn tài chính chủ yếu và tin cậy để phục
vụ nhu cầu chi tiêu công cộng xã hội. Với tốc độ gia tăng và đa dạng hóa nhanh
chóng về phát triển kinh doanh cùng với xu thế nhất thể hóa các khu vực và
toàn cầu hóa nhằm khai thác tối đa lợi thế
so sánh của mỗi quốc gia nói riêng
và khu vực nói chung đã đặt các nhà hoạch định chính sách kinh tế, tài chính
trước những thách thức lớn lao đòi hỏi phải cải cách toàn diện.
Hiện nay, thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đang phát triển với tốc
độ cao, đi đầu trong mọi ngành nghề. Khu vực này đã tạo ra nhiều của cải vật
chất cho xã hội, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân và ngày càng khẳng
định vị trí tiên phong. V
ới tốc độ phát triển nhanh chóng của trình độ sản xuất
kinh doanh, hệ thống chính sách thuế và cách thức quản lý thuế có nhiều điểm
tỏ ra không còn phù hợp. Điển hình đối với thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập
doanh nghiệp là hai nguồn thu chủ lực trong tổng nguồn thu thuế nhưng cũng
lại là lĩnh vực bộc lộ nhiều vướng mắc, bất cập nhất.
Tr
ước bối cảnh này, hệ thống thuế nước ta đã có sự tiến triển không
ngừng và ngày càng hoàn thiện đã có đóng góp to lớn cho công cuộc xây dựng
đất nước. Tuy nhiên, cải cách thuế cần được kết hợp chặt chẽ và tương thích
giữa chính sách và quản lý thuế vì một hệ thống chính sách dù có tiên tiến đến
đâu cũng không phát huy được tác dụng nếu không phù hợp với trình độ quản
lý và ngược lại, cải cách qu
ản lý hành chính thuế cần được dựa trên một hệ
thống chính sách thuế ổn định và rõ ràng.
- Đánh giá hiệu quả quản lý thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp
tại Chi cục.
- Tìm ra những tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp luận theo chủ
nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật
lịch sử để nhìn nhận sự việc theo sự vận động và phát triển của nó.
- Phương pháp tổng hợp số liệu dựa trên: các báo cáo, tài liệu của cơ quan
thực tập, các số liệu thống kê của Phòng Thống kê huyện.
- Phương pháp so sánh: theo thời gian, theo chỉ tiêu…
- Phương pháp liên hệ cân đối: dựa vào các mối liên hệ về lượng, v
ề mức độ
biến động giữa hai mặt của một yếu tố và quá trình quản lý.
- Phương pháp đồ thị và biểu đồ: bằng hình ảnh, tính chất của đồ thị để phân
tích mối quan hệ, mức độ biến động của các chỉ tiêu phân tích. SVTH: Lý Thị Thùy Trang
2
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
5. PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
Chi cục thuế huyện Tân Châu thực hiện thu nhiều loại thuế, phí nhưng
thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp đối với khu vực kinh tế ngoài SVTH: Lý Thị Thùy Trang
3
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ THUẾ
1.1 SỰ CẦN THIẾT CỦA THU NGÂN SÁCH, THUẾ:
Lịch sử xã hội loài người đã trải qua những giai đoạn tiến hoá và phát
triển, trong quá trình đó thì sự hình thành Nhà nước là một tất yếu khách quan.
Nhà nước là một phạm trù mang tính lịch sử, Nhà nước do giai cấp thống trị
hình thành nên để cai trị những giai cấp đối kháng trong xã hội. Nhà nước xét ở
khía cạnh phân công lao động xã hội là một bộ máy tổ chức với nhiề
u hệ thống
cơ quan có chức năng nhiệm vụ khác nhau để tổ chức cai quản xã hội. Để hoạt
động được, bộ máy Nhà nước cần nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi
cho việc duy trì và củng cố bộ máy từ trung ương đến địa phương, chi cho
những công việc thuộc chức năng Nhà nước như: chi đầu tư phát triển, chi an
ninh quốc phòng, các vấn đề phúc lợi xã hội…Ngày nay, xã hội càng phát tri
ển
thì nhu cầu chi tiêu càng lớn, cả về phát triển chiều rộng lẫn chiều sâu cho tất
cả lĩnh vực.
Như vậy, vấn đề được đặt ra là thu từ đâu để phục vụ cho chi tiêu? Bộ
máy Nhà nước gồm những người chuyên công tác quản lý điều hành chứ
không trực tiếp sản xuất trong khi thu nhập của xã hội do các tầng lớp dân cư
luậ
t nhằm đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước”. Đồng thời thuế là
công cụ điều tiết kinh tế linh hoạt nhạy bén và hiệu quả. Tính hợp lý của các
hình thức và biện pháp thuế khiến cho thuế trở thành công cụ điều tiết sắc bén,
đa diện và thâm nhập sâu rộng vào đời sống kinh tế.
1.2 BẢN CHẤT CỦA THUẾ:
Bản chất của thuế gắn liề
n với bản chất của Nhà nước. Nhà nước
mang bản chất nào thì thuế mang bản chất của giai cấp mà Nhà nước đó đại
diện. Trong xã hội phong kiến, Nhà nước vương quyền dùng thuế là phương
tiện bóc lột, vơ vét của nhân dân bị trị để phục vụ cho nhu cầu chi tiêu theo ý
chí riêng của giai cấp mình mà không quan tâm đến lợi ích nhân dân. Đến xã
hội tư bản, cũng là xã hội có giai cấp đối kháng là tư sả
n- vô sản, thuế đã đóng
vai trò to lớn trong nền kinh tế xã hội, thực hiện được nhiều chức năng của nó
nhưng xét về bản chất vẫn phục vụ cho giai cấp tư sản- giai cấp thống trị. Nhà
nước ta là Nhà nước của dân do dân và vì dân nên thuế nước ta mục tiêu cuối
cùng cũng phục vụ lợi ích nhân dân. Quan điểm của Nhà nước ta về thuế là
việc động viên vào ngân sách Nhà nướ
c phải vừa hài hòa về lợi ích kinh tế và
xã hội, vừa đảm bảo nguồn thu tài chính để Nhà nước thực hiện các chức năng
điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thực hiện các chính sách xã hội, bảo vệ an ninh
quốc phòng.
1.2.1 Bản chất kinh tế:
Thuế là một bộ phận thu nhập của xã hội được tập trung để phục vụ
nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Kinh tế là cơ
sở của thuế, thuế gắn chặt chẽ
với sản xuất, kinh doanh và kiểm soát thu nhập của mọi tổ chức và cá nhân để
động viên và điều hoà thu nhập, điều tiết kinh tế (điều tiết sản xuất và tiêu
dùng). Nguồn thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước chỉ có thể tăng nhiều và
thấy.
1.2.4 Thuế
được dùng vào chi tiêu công cộng:
Đặc tính này giảm nhẹ ý niệm cưỡng bức của thuế. Ngày nay, quyền lực
công cộng đã thuộc về toàn thể dân chúng, bộ máy Nhà nước do dân chúng
điều khiển nên việc nộp thuế và sử dụng tiền thu thuế cũng do dân chúng quyết
định. Ngoài một phần cung cấp cho quản lý hành chánh, đại bộ phận thuế thu
được chuyển giao lại cho người dân khi Nhà nước chi ngân sách cho văn hoá,
thông tin, thể dục thể thao,giáo dụ
c, y tế, bảo trợ xã hội cho các chương trình
nghiên cứu khoa học, chống ô nhiễm môi trường, chống tệ nạn xã hội…Ví dụ
như tổng thu trên địa bàn An Giang năm 2003 là 1.892.010 triệu đồng, trong đó
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
6
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
thu từ thuế, phí và lệ phí là 444.000 triệu đồng, chiếm 23,47% tổng thu ngân
sách Nhà nước của tỷnh. Số tiền phục vụ chi quản lý hành chính là 100 tỷ
đồng, chi giáo dục đào tạo là 359,5 tỷ đồng, chi đầu tư phát triển 654,6 tỷ đồng,
chi y tế là 78 tỷ…Tổng chi lên đến 1.642,7 tỷ đồng, chiếm 86,82% so tổng thu.
Điều này cho thấy nguồn thu từ thuế chủ yếu phục vụ cho chi tiêu công cộng.
1.2.5 Tính vĩnh viễn:
N
ộp thuế cho Nhà nước không giống cho Nhà nước vay nên không thể
đòi lợi tức và vốn đáo hạn. Thuế được dùng vào tài trợ công chi, mà phần lớn
công chi là những khoản cấp phát, cho không. Trên ý nghĩa đó, đóng thuế cho
chính phủ là san sẻ một phần gánh nặng công chi.
nhận vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế. Và tích cực hay tiêu cực thể hiện
trội hơn thì tuỳ từng phương thức điều hành, quản lý. Thuế cũng vậy, bản thân
thuế cũng chứa đựng những mâu thuẫn nội tại; vai trò của thuế là rất to lớn, rất
quan trọng nhưng đến mức nào còn tuỳ thuộc vào nhiều yếu tố. Vai trò của
thuế hiện nay vẫn t
ồn tại nhiều quan điểm, đôi khi trái ngược nhau. Nhưng nhìn
chung toàn bộ hệ thống thuế trong cơ chế thị trường có các vai trò cơ bản sau:
1.3.1 Thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách Nhà
n ước:
Thuế đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế hiện nay. Thuế là
công cụ chủ yếu để tập hợp và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc đân theo đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thuế được thu
dựa trên cơ sở thu nhập xã hội nên nền kinh tế phát triển ổn định thì nguồn thu
cũng ổn định. Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải bao quát
hầu hết các hoạt động sản xuất kinh doanh, các nguồn thu nhập, mọi tiêu dùng
xã hội để đảm b
ảo thu đầy đủ và hợp lý.
Như vậy, để đảm bảo thuế là nguồn thu chủ yếu, ổn định của ngân sách
Nhà nước thì cần có chính sách, hệ thống thuế phù hợp với khả năng của nền
kinh tế, với sức đóng góp của nhân dân và giúp thực hiện mục tiêu kinh tế tăng
trưởng cao và ổn định.
Điểm giống nhau và khác nhau giữa thuế, phí và lệ phí:
Thuế, phí và lệ
phí giống nhau ở chỗ đều là khoản thu của ngân sách
Nhà nước ; đều là một phần thu nhập của tổ chức, cá nhân đóng góp cho Nhà
nước; đều chứa đựng tính quyền lực của Nhà nước…
Ngoài ra, thuế và phí, lệ phí về mặt kinh tế còn khác nhau về mục đích
sử dụng số tiền thu được và tính hoàn trả cho người nộp: mọi khoản thuế thu
kinh tế. Do vậy, cần ban hành chính sách thuế trên tầm nhìn tổng quan có sự
tác động qua lại giữa các mặt kinh tế- chính trị- xã hội để Nhà nước có thể chủ
động phát huy vai trò điều hòa, thúc đẩy kinh tế phát tri
ển.
Các qui định về đối tượng, pham vi đánh thuế, thuế suất, điều kiện miễn,
giảm thuế… Xét về hiện tượng thì mang tính cưỡng chế nhưng bản chất là
nhằm điều chỉnh những quan hệ kinh tế nhất định, nhằm khuyến khích hay hạn
chế đầu tư vào ngành nghề, sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Bởi đơn giản là,
ng
ười nộp thuế sẽ thấy đầu tư vào đâu thì có lợi hơn.
Tóm lại, thông qua thuế Nhà nước tác động tích cực đến việc thúc đẩy
sản xuất phát triển trên cơ sở tận dụng và sử dụng hợp lý mọi nguồn nhân lực,
vật lực của đất nước trong việc điều chỉnh quan hệ cung cầu và cơ cấu kinh tế.
1.3.3 Thuế góp phần đảm b
ảo bình đẳng giữa các thành
phần kinh tế và công bằng xã hội:
Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành
phần kinh tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã
hội về quyền lợi và nghĩa vụ của mọi công dân, không có những đặc quyền,
đặc lợi bất hợp lý cho đối tượng nào.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
9
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Sự bình đẳng và công bằng thể hiện thông qua chính sách động viên
giống nhau giữa các đơn vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những
điều kiện hoạt động giống nhau. Vì vậy, các tổ chức, cá nhân có điều hoạt
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
10
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Thuế trực thu là loại thuế thu trực tiếp trên thu nhập của người nộp thuế.
Thuế trực thu có bản chất kinh tế là người nộp thuế đồng thời là người chịu
thuế, thường là thuế thu nhập, thuế tài sản…Thuế trực thu có những ưu điểm
như: động viên thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập nên đảm bảo
được công bằng xã hội, ng
ười có thu nhập cao thì nộp nhiều và ngược lại. Mặt
khác, thuế trực thu cũng có những tồn tại như: tính toán phức tạp; dễ bị phản
ứng tiêu cực từ phía người nộp; diện quản lý thu thuế rộng nên thường tốn
nhiều công sức nhưng hiệu quả thấp…
Thuế gián thu là loại thuế Nhà nước thu vào người tiêu dùng nhưng
không trực tiếp vào thu nhập của người tiêu dùng mà thu giá tiếp qua ngườ
i
bán hàng hóa, dịch vụ. Bản chất kinh tế của thuế gian thu là người nộp thuế
không phải là người chịu thuế mà người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa,
dịch vụ. Thuế gián thu thường là thuế giá trị gia tăng, thuế nhập khẩu, thuế tiêu
thụ đặc biệt…Thuế gián thu có những ưu điểm như: nghiệp vụ tính thuế và thu
thuế đơn giản; người tiêu dùng khó nhận biết là mình nộ
p thuế nên ít phản ứng
hơn. Trái lại, thuế gián thu có nhược điiểm là tính lũy thoái của nó. Vì thuế gián
thu đánh như nhau trên cùng một loại hàng hóa và số lượng như nhau thì chịu
thuế như nhau, nhưng thực chất tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập
thì người giàu chịu thấp hơn người nghèo, người có thu nhập càng cao thì tỷ lệ
nộp thuế gián thu trên thu nhập càng thấp.
c lập, bởi vì theo giáo sư Mel Kraus
của trường đại học Amsterdam và Petet O’Brien, nhà kinh tế học tại Geneva
thì:” Khái niệm thuế giá trị gia tăng có liên quan đến phương pháp hành thu chứ
không liên hệ đến một thứ thuế riêng biệt thuộc một nhóm đặc biệt hay một
hoạt động kinh tế đặc biệt theo như nhiều người vẫn tưởng…Về bản chất,thuế
giá trị gia tăng không phải là một thứ thu
ế đánh trên chi phí tiêu thụ mà cũng
không phải là một thứ thuế đánh trên lợi tức xuất phát từ các yếu tố sản xuất,
nó vốn là một cách thức đánh thuế trên căn bản từng cái một, từng giai đoạn
một nhằm tránh cách đánh thuế hai lần”.
Vậy, “thuế giá trị gia tăng là một loại thuế gián thu tính trên khoản
giá trị tăng thêm của hàng hóa dịch vụ phát sinh trong quá trình từ
sản
xuất, lưu thông đến tiêu dùng”.
Thực chất đó là một loại thuế doanh thu đánh vào mỗi giai đoạn sản xuất
lưu thông hàng hóa kể từ khi còn là nguyên liệu thô sơ cho đến thành phẩm và
cuối cùng là cho đến giai đoạn tiêu dùng. Chính vì vậy mà có người gọi đó là
thuế doanh thu có khấu trừ số thuế đã nộp ở giai đoạn trước.Thuế giá trị gia
tăng được phép tính cộ
ng vào giá bán hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng
gánh chịu.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
12
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tổ chức, cá nhân sản
gia tăng đầu vào được xác định căn cứ vào hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ
để kinh doanh của cơ sở kinh doanh. Còn thuế giá trị gia tăng đầu ra thì
dựa trên hóa đơn bán hàng.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
13
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Số thuế phải nộp= Thuế giá trị gia tăng đầu ra –
Thuế giá trị gia tăng đầu vào
Thuế giá trị gia tăng đầu ra=
Giá tính thuế hàng hóa dịch vụ bán ra x Thuế suất
Thuế giá trị gia tăng đầu vào
= Tổng số thuế giá trị gia tăng đã thanh toán được
ghi trên hóa đơn giá trị gia tăng mua hàng hóa,
dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế giá trị gia tăng
hàng hóa nhập khẩu
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Nộp thuế đầy đủ đúng quy định vào ngân sách Nhà nước. Thời hạn nộp
thuế chậm nhất là ngày 25 của tháng tiếp theo.
Thực hiện quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế. Năm quyết toán
thuế được tính theo năm dương lịch.
Ưu điểm của thuế giá trị gia tăng :
Tuy còn nhiều tranh cãi nhưng không một ai có thể phủ nhận tính tích
cực của thuế giá trị gia tăng đối với toàn bộ nền kinh tế nói chung và từng
doanh nghiệp nói riêng. Một số ưu điểm của thuế giá trị gia tăng như: tính trung
lập của thuế đối với qui trình sản xuất, kinh doanh khác nhau thông qua việc
xoá bỏ các vấn đề thuế đánh chồng thuế.
Thuế giá trị gia tăng ít mang phản
ứng nặng nề về phía người chịu thuế
lẫn người nộp thuế, bởi đánh thuế theo phương pháp này, dưới hình thức một
loại thuế gián thu mà người nộp thuế không phải chịu thuế được đánh giá là
cách đánh thuế khôn ngoan, tiện lợi; thuế giá trị gia tăng dễ hành thu vì gánh
nặng của thuế được chuyển qua từng công đoạn để cuối cùng qui vào người
tiêu thụ s
ản phẩm; sự đơn giản trong công tác quản lý thu thuế; thuế giá trị gia
tăng là loại thuế trung tính đối với độ dài ngắn của qui trình sản xuất và phân
phối, nhưng lại không trung tính về mặt kinh tế do đó tác động tích cực đối với
sự phát triển kinh tế; thuế giá trị gia tăng được chấp nhận tương đối dễ dàng và
ít có trường hợp gian lận, ngoại trừ khu vực có qui mô nhỏ
và khu vực cung
ứng dịch vụ, khu vực có nhiều hoạt động ngầm không khai báo.
Tổ chức cá nhân sản xu
ất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
doanh nghiệp Nhà nước; công ty trách nhiệm hữu hạn; công ty cổ phần; doanh
nghiệp có vốn dầu tư nước ngoài và bên nước ngoài tham gia hợp đồng, hợp
tác kinh doanh theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam; doanh nghiệp tư
nhân; hợp tác xã; tổ hợp tác; tổ chức kinh tế của tổ chức chính trị, tổ chức
chính trị- xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội- ngh
ề nghiệp, đơn vị vũ trang
nhân dân; cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp có sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ.
Căn cứ tính thuế là thu nhập chịu và thuế suất:
Thu nhập chịu thuế bao gồm: thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác, kể cả thu nhập thu được từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài.
Xác
định thu nhập chịu thuế:
Thu nhập chịu thuế
trong kỳ tính thuế
=
Doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế trong
kỳ tính thuế
-
Chi phí hợp lý
trong kỳ tính
thuế
+
Thu nhập chịu
thuế khác trong
kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của năm trước và khả năng của năm tiếp theo tự
kê khai doanh thu, chi phí, thu nhập chịu thuế, số thuế phải nộp cả năm, có chia
ra từng quý theo mẫu của cơ quan thuế và nộp cho cơ
quan thuế trực tiếp quản
lý chậm nhất là ngày 25 tháng1; nếu tình hình sản xuất, kinh doanh trong năm
có sự thay đổi lớn thì cơ sở kinh doanh phải báo cáo cơ quan thuế trực tiếp
quản lý để điều chỉnh số thuế tạm nộp cả năm và từng quý. Trong trường hợp
cơ quan thuế kiểm tra phát hiện việc kê khai thuế của cơ sở kinh doanh chưa
phù hợp thì có quyền ấn đị
nh số thuế tạm nộp cả năm và từng quý.
Nộp thuế: cơ sở kinh doanh tạm nộp số thuế hàng quý theo bảng tự kê
khai hoặc theo số thuế cơ quan thuế ấn định đầy đủ, đúng hạn vào ngân sách
Nhà nước. Thời hạn nộp thuế hàng quý chậm nhất là ngày cuối quý.
Quyết toán thuế hàng năm với cơ quan thuế.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
17
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Tác dụng của thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng rộng rãi đối các cơ sở sản xuất
kinh doanh. Trong sự phát triển của nền kinh tế, tích lũy của các đơn vị kinh tế
ngày càng tăng lên sẽ là cơ sở tăng thu thuế thu nhập doanh nghiệp cho Nhà
nước. Và góp phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh phát triển theo hướng có lợi
cho nền kinh tế. Điều này thể hiện qua việc thiết kế thuế suất chung cho các
ngành ngh
ề và thực hiện miễn, giảm thuế khuyến khích tái đầu tư vào sản xuất.
CHƯƠNG 2: GIỚI THIỆU SƠ LƯỢC VỀ CHI CỤC THUẾ HUYỆN
TÂN CHÂU
2.1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH KINH TẾ- XÃ HỘI TỈNH AN GIANG:
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên và hành chính:
An Giang là vùng đất mới và còn rất trẻ so với các vùng khác của đất
nước. An Giang nằm ở vùng Tây Nam Bộ, thuộc Đồng bằng sông Cửu Long, là
tỷnh biên giới có nhiều dân tộc và tôn giáo. Ngoài ra, An Giang còn nằm ở hạ
lưu lưu vực sông Mê Kông nên bị ảnh hưởng nhiều bởi lũ lụt, sụt lở bờ sông…
Tỷnh An Giang có thành phố Long Xuyên, thị
xã Châu Đốc, 9 huyện và
140 đơn vị hành chính cơ sở (118 xã,11 phường, 11 thị trấn).
2.1.2 Tình hình kinh tế- xã hội những năm vừa qua:
Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng GDP tỷnh An Giang qua 3 năm
ĐVT: %
Năm 2001 2002 2003
Tốc độ tăng trưởng GDP (%)
4,52 10,54 9,13
Khu vực nông nghiệp (%)
-0,51 10,33 2,75
Khu vực công nghiệp-xây dựng (%)
11,65 10,84 12,77
Khu vực dịch vụ (%)
7,04 10,63 13,58
Nguồn: Phòng Thống kê huyện Tân Châu
Năm 2002, tỷnh An Giang đứng trước thách thức vô cùng khó khăn là
GDP năm 2001 có tốc độ tăng trưởng thấp nhất trong 12 năm qua, chỉ đạt
4,52%. Trong đó khu vực nông nghiệp là thế mạnh to lớn của tỷnh lại tăng
Khu vực công nghiệp- xây dựng chiếm tỷ trọng 12,73%, sản xuất công
nghiệp năm nay ổn định và đạt mức tăng trưởng khá 14,52%. Đây là tốc độ
tăng trưởng cao nhất trong 10 năm qua. Nhờ sự tăng trưở
ng khu vực nông
nghiệp kích thích, tạo điều kiện cho khu vực công nghiệp- xây dựng tăng
trưởng theo nhờ giá lúa cao làm tăng sức mua của nhân dân làm cho thị
trường nội địa sôi động, sản xuất phát triển.
Khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng 49,62%, xấp xỉ 50%. Hoạt động kinh doanh
năm 2003 tiếp tục phát triển, nổi bật là hoạt động xuất khẩu đạt tốc độ tăng
24,21% so cùng kỳ, đạt kim ngạch 183 triệu USD. Xuất khẩu gạo thuận lợi,
nông dân có lợi nhuận, tác động tích cực đến sản xuất, mức lưu chuyển
hàng hóa, dịch vụ tăng 15,64% so cùng kỳ.
Một yếu tố không kém phần quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển là
vốn. Ngân hàng và các tổ chức tín dụng đã hoàn thành xuất sắc vai trò của
mình trong việc cung vốn đúng nơi, đúng lúc.
Ngoài ra, tỷnh còn đạt
được những chỉ tiêu chủ yếu trong năm 2003
như:
Thu ngân sách trên địa bàn tỷnh đạt 1.080.000 triệu đồng, tăng 17% so 2002,
trong đó thu thuế ngoài quốc doanh đạt 250.000 triệu đồng tăng 27,92% so
cùng kỳ. Đây là năm đầu tiên thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 1000 tỷ đồng.
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
20
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Đồng thời, GDP bình quân đầu người đạt 6,147 triệu đồng, tăng 14,65% so
2002, tăng 2,74% so kế hoạch.Giải quyết việc làm cho 25.000 lao động, tỷ lệ hộ
huyện đạt 159.068 người trong đó số người trong độ tuổi lao động là 94.343
người, nữ chiềm tỷ lệ 51,44%. Mật độ dân cư là 1.013 người/ km
2
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
21
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
Do vậy, huyện có dân cư đông đúc và chủ yếu sống bằng nghề nông và
thương mại- dịch vụ.
2.2.2 Tình hình kinh tế- xã hội và định hướng phát triển:
Phát huy thành tích đạt được năm 2002, cùng với sự quan tâm của trung
ương, của tỷnh đầu tư cơ sở hạ tầng và phúc lợi xã hội đã tạo điều kiện cho
nền kinh tế huyện Tân Châu năm 2003 đạt tốc độ tăng trưởng là 10,6%. Năng
lực và trình độ các ngành kinh tế đã được nâng lên, các chính sách và cơ chế
mới được hoàn thiện có tác động tích cực trong việc huy động nguồn nhân lực
cho đầu tư phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện, văn hóa- xã hội có
nhiều tiến bộ, tình hình an ninh, trật tự ổn định.
Những kết quả chủ yếu trong năm 2003 như:
Tổng sản phẩm gia tăng (VA-GDP) đạ
t 902.681 triệu đồng, tăng 10,6%.
Nâng GDP bình quân đầu người từ 5,120 triệu đồng lên 5,695 triệu đồng.Tổng
thu ngân sách Nhà nước đạt 70.233 triệu đồng, tăng 16,81% so cùng kỳ; trong
đó thu từ kinh tế địa bàn đạt 47.662 triệu đồng, tăng 32,08% so cùng kỳ. Tỷ lệ
hộ nghèo giảm chỉ còn 4,81%. Số người được giải quyết việc làm là 3.474.
Qua 3 năm, từ 2001 đến nay tốc độ tăng trưởng đều và ổn định, lần
lượt là 10,4%, 10,8%,10,6%. Đồng thời, thu ngân sách mỗi năm đều đạt kế
p, tăng thu nhập cho nông dân. Đối với khu
vực này, huyện chủ trương thực hiện các giải pháp thiết thực để nâng cao hiệu
quả sản xuất như: tiếp tục tăng sản xuất lúa vụ 3; nâng cao chất lượng sản
phẩm gắn với nhu cầu thị trường và hướng tới xuất khẩu quy hoạch vùng sản
xuất lúa chất lượng cao; củng cố mạng lưới nhân giống; t
ăng cường công tác
khuyến nông đưa nhanh ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất góp phần
nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành; tạo điều kiện thuận lợi cho nông
dân vay vốn; hoàn chỉnh hệ thống thủy nông nội đồng…
Trong ba năm qua thì tỷ trọng khu vực nông nghiệp có xu hướng giảm vì
đây là khu vực có tốc độ tăng trưởng thấp nhất. Tuy nhiên, với đa số dân cư
sống bằng nghề nông và đa số diện tích của huyện là đất canh tác nên tỷ trọng
khu vực này cũng chiếm tương đối cao là 33,07%.
Khu vực công nghiệp- xây dựng tăng trưởng 13,78% đạt mục tiêu kinh
tế đề ra. Do đẩy mạnh chương trình khuyến công giải ngân kịp thời cho các cơ
sở, đặc biệt là bộ phận xây dựng khá cao nhờ đẩy nhanh tiến độ xây dựng cụm
tuyến dân cư, các công trình công c
ộng, cơ sở sản xuất và hộ dân xây dựng
nhà ngày một tăng. Các mục tiêu được đưa ra đối với khu vực là: đạt tốc độ
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
23
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
tăng trưởng 14,50% trong năm 2004; tập trung phát triển ngành nghề thuộc thế
mạnh địa phương, thu hút nhiều lao động; phát triển công nghiệp- tiểu thủ công
nghiệp gắn bó với phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp
tế để định hướng cho sự phát triển kinh tế xã hội của huyện sao cho đúng
hướng và phát huy tối đa nguồn lực sẵn có, tạo đà cho sự phát tri
ển ổn định và
SVTH: Lý Thị Thùy Trang
24
Đánh giá hiệu quả quản lý thuế GTGT, thuế TNDN GVHD: Th.S Nguyễn Duy Nhất
bền vững về sau. Các mục tiêu được đưa ra là mục tiêu lâu dài và các giải
pháp là chiến lược, thiết thực nhưng đạt được kế hoạch đề ra là nhiệm vụ
không dễ dàng cho các thành phần kinh tế, các cơ quan chức năng thực thi.
Bởi vì để kinh tế phát triển thì cần có sự phát triển đồng bộ về mọi mặt của xã
hội cả về văn hóa và ổn định an ninh, quốc phòng…Và công tác quản lý Nhà
nước phải đảm bảo cho mọi việc diễn ra đồng bộ, hỗ trợ nhau tạo sức bật đủ
lớn cho tiến trình xây dựng huyện.
Những thuận lợi và khó khăn trong môi trường kinh doanh ở Tân
Châu:
Thuận lợi:
Có được sự lãnh đạo, điều hành hiệu quả của Ủy ban nhân dân huyện
và các ngành các cấp; tốc độ tăng trưởng từ 2001 đến nay đều trên 10%; cơ
cấu kinh tế chuyển đổi theo thế mạnh của địa phương; cơ sở hạ tầng, phúc lợi
xã hội được quan tâm đầu tư; có nhiều chính sách phát triển kinh tế; đời sống
vật chất, tinh thần nhân dân được cải thiện đáng kể; văn hóa xã hội từng bước
phát triển; kinh nghiệm và trình độ sản xuất được nâng cao, nhiều mô hình sản
xuất giỏi, sản xuất thí đ
iểm mang lại hiệu quả cao….
Khó khăn: