Lời mở đầu
Sau 20 năm cùng với sự nghiệp đổi mới đất nước, hệ thống các ngân
hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc,
lớn mạnh về mọi mặt, kể cả số lượng, qui mô, nội dung và chất lượng; đã có
những đóng góp xứng đáng vào công cuộc công nghiệp hóa - hiện đại hóa nền
kinh tế nói chung và quá trình đổi mới, phát triển của các thành phần kinh tế,
các doanh nghiệp và dân doanh nói riêng; thực sự là ngành tiên phong trong
quá trình đổi mới cơ chế kinh tế. Đặc biệt trong những năm qua, hoạt động
ngân hàng nước ta đã góp phần tích cực huy động vốn, mở rộng vốn đầu tư
cho lĩnh vực sản xuất phát triển, tạo điều kiện thu hút vốn nước ngoài để tăng
trưởng kinh tế trong nước. Ngành ngân hàng đã xứng đáng là công cụ đắc lực
hỗ trợ cho nhà nước trong việc kiềm chế, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá cả.
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong
những hoạt động tạo ra giá trị cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp
vụ chủ yếu của hệ thống NHTM ở nước ta hiện nay, chiếm tỷ trọng lớn nhất
(trên 60%) trong danh mục tài sản nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất. Do
đó, song song với việc tăng trưởng tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống
ngân hàng Việt Nam là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn
thiện các giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng.
Trước tình hình đó, cộng với những kiến thức có được trong quá
trình nghiên cứu thực tập tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Hà Nội, tôi quyết định chọn tên đề tài “Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng
tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội” để từ đó có
nhận thức rõ hơn về tầm quan trọng của quản lý rủi ro tín dụng đối với sự an
toàn và vững mạnh của NHTM nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Nội nói riêng.
1
Kết cấu của chuyên đề ngoài lời mở đầu và kết luận gồm 3 phần:
Chương 1: Lý thuyết chung về rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và
phát triển nông thôn Hà Nội.
quản lý nhằm đảm bảo an toàn và sinh lợi.
Theo hình thức tài trợ, tín dụng được chia thành cho vay, bảo
lãnh, cho thuê, chiết khấu.
- Cho vay là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết
khách hàng phải hoàn trả gốc và lãi trong thời gian xác định. Trong phần lớn
các ngân hàng, cho vay luôn chiếm tỷ trọng lớn trong hoạt động tín dụng.
- Bảo lãnh là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghĩa vụ tài
chính hộ khách hàng của mình trong trường hợp khách hàng không thực hiện
đúng nghĩa vụ như cam kết. Bảo lãnh có nhiều loại như bảo lãnh dự thầu, bảo
lãnh thanh toán, bảo lãnh chất lượng, bảo lãnh thực hiện hợp đồng…
- Cho thuê là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách
hàng thuê theo những thoả thuận nhất định. Cho thuê có hai hình thức là cho
thuê nghiệp vụ và thuê tài chính.
- Chiết khấu thương phiếu là việc ngân hàng ứng trước tiền cho
khách hàng tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của
ngân hàng để sở hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
Theo tài sản đảm bảo, tín dụng được chia thành tín dụng có và
không có tài sản đảm bảo.
- Tín dụng có tài sản đảm bảo là việc ngân hàng cho khách hàng
vay vốn dựa trên cam kết người nhận tín dụng sẽ dùng tài sản đảm bảo để trả
nợ trong một số trường hợp.
4
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: có thể được cấp cho khách
hàng có uy tín, thường làm ăn thường xuyên có lãi hoặc các khoản vay của
các tổ chức lớn hay theo chỉ định của Chính phủ.
Ngoài ra, tín dụng ngân hàng còn được phân loại theo ngành kinh tế
(công, nông nghiệp…), theo đối tượng tín dụng (tài sản lưu động, tài sản cố
định), theo mục đích sử dụng vốn (sản xuất, tiêu dùng…). Việc phân loại tín
dụng cho phép ngân hàng theo dõi rủi ro và sinh lợi, gắn liền với những lĩnh
vực tài trợ để có chính sách lãi suất, bảo đảm, hạn mức và chính sách mở rộng
chất lượng tín dụng để tránh những ảnh hưởng xấu. Như vậy, ngay đối với
bản thân ngân hàng, tín dụng đã chiếm một vai trò quan trọng, quyết định tới
sự tồn tại và phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, đối với nền kinh tế, tín
dụng ngân hàng lại thể hiện một vai trò rõ nét hơn.
Thứ nhất, tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình điều hoà vốn giữa các
chủ thể trong nền kinh tế. Trong cấu trúc hệ thống tài chính, ngân hàng là
trung gian tài chính, có chức năng chuyển vốn từ người tiết kiệm đến người
đầu tư và kiếm lời bằng phần chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi suất tiền
gửi. Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng đã tập trung vốn từ
những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi, điều chuyển đến những người
muốn sản xuất kinh doanh, nhưng lại thiếu vốn. Do đó, các loại hình tín dụng
càng phong phú và đa dạng bao nhiêu, quá trình điều hoà vốn càng đạt hiệu
quả bấy nhiêu.
Thứ hai, tín dụng ngân hàng cung cấp một nguồn vốn quan trọng,
không chỉ đối với sự phát triển của bản thân các doanh nghiệp mà còn đối với
toàn bộ nền kinh tế. Có thể nói rằng: không một công ty nào có thể hoạt động
6
tốt và tồn tại vững chắc trên thị trường mà không sử dụng vốn vay ngân hàng.
Trong quá trình hoạt động, các doanh nghiệp thường vay ngân hàng để đảm
bảo nguồn tài chính cho các hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, không bị
gián đoạn; đặc biệt là có đủ vốn cho các dự án mở rộng hoặc đầu tư chiều sâu
của doanh nghiệp. Khi sử dụng vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp
phải mất chi phí sử dụng, lại chịu sự thẩm định, giám sát từ phía ngân nên sẽ
có ý thức tốt hơn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của mình.
Thứ ba, tín dụng ngân hàng là một trong những công cụ chính sách tiền
tệ, giúp chính phủ điều tiết nền kinh tế. Thông qua hạn mức tín dụng, lãi suất
tín dụng, Chính phủ có thể điều tiết lượng cung tiền tệ hợp lý, góp phần kiềm
chế lạm phát, bình ổn giá cả. Hơn nữa, tín dụng ngân hàng cũng tham gia vào
quá trình tập trung vốn, khuyến khích đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh để
tạo ra nhiều công ăn việc làm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
doanh, chỉ có thể hạn chế, không thể loại trừ.
1.2.2. Phân loại rủi ro tín dụng
Để có thể xác định, đo lường, quản lý và kiểm soát rủi ro tín dụng, các
ngân hàng thường tiến hành phân loại theo từng tiêu thức:
- Theo cơ cấu các loại hình rủi ro: rủi ro tín dụng được chia thành
rủi ro theo khoản cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn.
- Theo nguồn gốc hình thành , rủi ro tín dụng được chia thành 3
loại:
8
+ Rủi ro từ phía người cho vay: là những rủi ro do chính sách của ngân
hàng; việc nghiên cứu và dự báo; theo dõi, xử lý rủi ro tín dụng; cán bộ tín
dụng; công tác kiểm tra, kiểm soát…
+ Rủi ro từ phía người vay: rủi ro đạo đức, rủi ro vì khả năng tài chính
yếu kém; biến động khả năng kinh doanh; vị trí của doanh nghiệp thay đổi;
mối quan hệ với đối tác…
+ Rủi ro từ nguyên nhân khác: vì khâu quản lý của ngân hàng Nhà
nước, chế độ chính sách, môi trường, biến động kinh tế…
1.2.3. Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Các chuyến thăm khách hàng thường xuyên là cách tốt nhất để phát
hiện nhanh chóng những dấu hiệu này. Những chuyến thăm luôn phải có việc
kiểm tra tình hình thực tế và sổ sách của khách hàng. Sau đây là một số dấu
hiệu thường thấy từ phía khách hàng cần được kiểm tra:
Từ báo cáo tài chính :
- Ngân hàng không nhận được cáo báo cáo tài chính từ người vay
một cách kịp thời.
- Tiền mặt của khách hàng giảm
- Khả năng thanh khoản/vốn lưu động giảm
- Những thay đổi nhanh chóng của tài sản cố định
- Xuất hiện những khoản nợ mà công ty vay hoặc cho vay cán bộ
hoặc cổ đông của công ty.
- Những thay đổi trong quản lý, quyền sở hữu hoặc những nhân
vật chủ chốt
- Chậm trễ trong việc phản ứng lại với sự đi xuống của thị trường
hoặc các điều kiện kinh tế
Tuy nhiên, khi khách hàng có một trong những dấu hiệu trên thì không
đáng kể. Nhưng khi một số dấu hiệu xảy ra đồng thời thì cán bộ cần xem xét,
đánh giá kỹ để có thê hạn chế và giảm thiểu tác động của rủi ro tín dụng gây
nên.
1.2.4. Một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
Nhiều năm về trước,để đánh giá rủi ro tín dụng hầu hết các ngân hàng
chỉ dựa duy nhất vào phương pháp định tính như xem xét khách hàng có đủ tư
cách không, có tài sản thế chấp không, mục đích vay có hợp lý không…Tuy
nhiên, phương pháp này tỏ ra vừa mất thời gian, tốn kém, lại mang tính chủ
quan, chính vì vậy, ngân hàng không ngừng cải tiến phương pháp đánh giá
khách hàng để ra quyết định cho vay.
Ngày nay, một số ngân hàng đã sử dụng mô hình cho điểm để lượng
hoá rủi ro tín dụng người vay. Mô hình cho điểm tín dụng có ưu điểm so với
phương pháp truyền thống ở chỗ là nó cho phép xử lý nhanh chóng một khối
lượng lớn các đơn xin vay, với chi phí thấp, khách quan, do đó góp phần tích
cực trong việc kiểm soát rủi ro tín dụng ngân hàng. Các mô hình cho điểm tín
11
dụng sử dụng các số liệu phản ánh những đặc điểm của người vay để lượng
hoá xác suất vỡ nợ cũng như phân loại người thành các nhóm có mức độ rủi
ro khác nhau. Để sử dụng các mô hình này, nhà quản lý phải xác định các tiêu
chí về kinh tế và tài chính liên quan đến rủi ro tín dụng đối với từng nhóm
khách hàng cụ thể. Đối với tín dụng tiêu dùng, các tiêu chí đó có thể là thu
nhập, tài sản, tuổi tác, giới tính… Đối với tín dụng công ty thì các chỉ tiêu tài
chính thường là các chỉ tiêu chủ yếu. Sau khi tiêu chí đã được xác định, kỹ
thuật thống kê sẽ được sử dụng để lượng hoá xác suất rủi ro tín dụng hoặc để
phân loại rủi ro tín dụng. Sau đây là một số mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
doanh.
1.2.4.2. Mô hình điểm số tín dụng tiêu dùng
Ngày nay rất nhiều ngân hàng trên thế giới, trong đó có cả Việt nam sử
dụng phương pháp cho điểm để lượng hoá rủi ro tín dụng trong việc xử lý các
đơn xin vay của người tiêu dùng. Nhiều khách hàng ưa thích sự thuận tiện và
nhanh chóng khi những yêu cầu tín dụng của họ được xử lý bằng hệ thống
cho điểm tự động. Thông thường, khách hàng có thể gọi điện thoại đến ngân
hàng để xin vay, thông qua hệ thống máy tính nối mạng và có kết quả tín
dụng sau vài phút.
Các yếu tố quan trọng liên quan đến khách hàng sử dụng trong mô hình
cho điểm tín dụng tiêu dùng bao gồm: hệ số tín dụng, tuổi đời, trạng thái tài
13
sản, số người phụ thộc, sở hữu nhà, thu nhập, tài khoản…Mô hình cho điểm
tín dụng tiêu dùng thường sử dụng từ 7 đến 12 hạng mục, mỗi hạng mục được
cho điểm từ 1 đến 10 tương ứng với tình trạng người xin vay. Tổng điểm ở tất
cả các hạng mục của khách hàng đó là tiêu chí để xếp hạng mức độ rủi ro cao
hay thấp và từ đó có quyết định cho vay hay không?
Rõ ràng là mô hình điểm số đã loại bỏ được sự phán xét chủ quan trong
quá trình cho vay và giảm đáng kể thời gian quyết định tín dụng của ngân
hàng. Tuy nhiên mô hình này cũng có nhược điểm như không điều chỉnh linh
hoạt thích ứng với những thay đổi trong nền kinh tế.
1.2.5 . Tác động của rủi ro tín dụng
1.2.5.1. Tác động của rủi ro tín dụng tới hoạt động của ngân hàng
Do vốn chủ sở hữu của ngân hàng chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng
tài sản nên chỉ cần một tỷ lệ nhỏ của danh mục cho vay có vấn đề là đã ảnh
hưởng lớn đến ngân hàng. Dưới đây là một số tác động xấu mà ngân hàng có
thể gặp phải khi rủi ro tín dụng xảy ra:
Thứ nhất, rủi ro tín dụng làm giảm thu nhập của ngân hàng. Khi có một
khoản nợ bị coi là quá hạn, thu nhập của ngân hàng bị giảm sút ngay; một
phần vì không thu được lãi hoặc nợ gốc như cam kết, trong khi vẫn phải trả
vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, cũng như hiệu lực của các
chính sách tài chính tiền tệ của Chính phủ.
1.2.6. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng. Thông thường, người
ta phân rủi ro tín dụng thành ba nhóm: nguyên nhân thuộc về ngân hàng,
nguyên nhân thuộc về người vay, nguyên nhân khác.
1.2.6.1. Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
15
Thứ nhất, sự yếu kém của đội ngũ cán bộ. Sự yếu kém ở đây bao gồm cả
về năng lực và phẩm chất đạo đức. Nếu một cán bộ tín dụng non kém về trình
độ, thiếu kiến thức, thiếu kinh nghiệm thì sẽ không có khả năng thẩm định và
xử lý thông tin, đánh giá khách hàng thiếu chính xác, mức vay,lãi suất vay và
kỳ hạn không phù hợp ; dẫn đến chất lượng tín dụng thấp, rủi ro cao. Ngoài
ra, nếu cán bộ tín dụng không tuân thủ theo đúng quy trình tín dụng như giải
ngân trước khi hoàn thành chứng từ hay không kiểm tra giám sát việc sử dụng
vốn của người vay, thì việc mất vốn rất dễ xảy ra. Hơn nữa, cán bộ tín dụng
mà phẩm chất đạo đức kém, không có tinh thần trách nhiệm, dễ bị cám dỗ thì
sẽ gây thiệt hại rất lớn cho ngân hàng bằng cách cho vay chỉ dựa trên mối
quan hệ với khách hàng, dựa trên lợi ích cá nhân mà bỏ qua những điều kiện
và thủ tục cần thiết.
Thứ hai, sự giám sát của các cấp quản lý trong ngân hàng là thiếu sát
sao. Cán bộ tín dụng cần có sự phê duyệt của lãnh đạo trước khi giải ngân.
Vậy nên nếu cấp trên không có sự kiểm tra, đánh giá xem quyết định của cán
bộ đã thực sự chính xác chưa thì nguy cơ rủi ro tín dụng sẽ là rất cao. Hơn
nữa, sau khi giải ngân rồi, cán bộ tín dụng vẫn phải tiếp tục theo dõi khách
hàng để sớm phát hiện ra dấu hiệu của những khoản nợ có vấn đề. Tuy nhiên,
việc theo dõi này đối với nhiều cán bộ chỉ mang tính hình thức. Do vậy, nếu
các cấp quản lý không có sự giám sát đối với cán bộ tín dụng, hoạt động của
các cán bộ tín dụng sẽ không hiệu quả, thậm chí dẫn đến những sai phạm đạo
đức trong cho vay và thu nợ. Ngoài ra, các cơ quan cấp trên không quan tâm
vay sẵn sàng lao vào những cơ hội kinh doanh mạo hiểm với kỳ vọng thu
được lợi nhuận cao, mà không tính toán kỹ hoặc không có khả năng tính toán
những bất trắc có thể xảy ra nên khả năng xảy ra tổn thất với ngân hàng là rất
lớn.
17
Thứ hai, do khách hàng cố tình chiếm dụng vốn của ngân hàng. Để đạt
được mục đích thu được lợi nhuận, nhiều khách hàng sẵn sàng tìm mọi thủ
đoạn để ứng phó với ngân hàng như mua chuộc hoặc cung cấp các báo cáo tài
chính sai lệch. Trong trường hợp này, nếu không phát hiện ra, ngân hàng sẽ
đánh giá sai về khả năng tài chính của khách và cho vay vốn với khối lượng
và thời hạn không hợp lý, dẫn đến rủi ro tiềm ẩn là rất cao.Ngoài ra, cũng có
những trường hợp người kinh doanh có lãi song vẫn không trả nợ cho ngân
hàng đúng hạn mà cố tình chây ỳ với hy vọng có thể quỵt nợ hoặc tiếp tục sử
dụng vốn vay càng lâu càng tốt.
1.2.6.3. Nguyên nhân khác
Những nguyên nhân này phần lớn xuất hiện từ môi trường xung quanh
như chất lượng thông tin, biến động kinh tế, chính sách pháp luật…
Thứ nhất, chất lượng thông tin chưa cao. Các thông tin mà ngân hàng
thu thập thường liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, khả năng tài
chính của khách hàng, tình hình kinh tế xã hội, cạnh tranh trên thị trường; sau
đó dựa vào các thông tin thu thập được để ra quyết định cho vay. Tuy nhiên,
trên thực tế thì không phải lúc nào các thông tin ngân hàng thu thập được đều
có tính chính xác, đầy đủ và kịp thời. Do vậy, nếu hệ thống thông tin tín dụng
của ngân hàng không hoạt động có hiệu quả, cập nhật được những thông tin
đáng tin cậy thì tất yếu dẫn đến việc ngân hàng thất thoát vốn khi cho vay.
Thứ hai, những biến động kinh tế không dự báo được. Khi nền kinh tế
ổn định, tăng trưởng lành mạnh thì nhu cầu đầu tư trong xã hội có xu hướng
gia tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động tín dụng. Tuy nhiên khi xuất
hiện những biến động kinh tế như lạm phát, giá tăng ở một số mặt hàng nào
đó ảnh hưởng đến một nhóm ngành thì rủi ro tín dụng với ngân hàng là rất
và đánh giá đúng về cơ hội kinh doanh. Ngược lại, chính sách tín dụng không
cụ thể, không thích ứng được với những thay đổi của môi trường, không phù
hợp với khả năng và mục tiêu của ngân hàng sẽ làm giảm chất lượng của
những khoản vay, dễ phát sinh rủi ro. Thực tế đã chứng minh rằng ngân hàng
nào xây dựng được một chính sách tín dụng hợp lý, chất lượng tín dụng tại
ngân hàng đó thường cao hơn.
Trong khi đó, quy trình tín dụng lại bao gồm các bước cụ thể hoá chính sách
tín dụng, giúp cán bộ tín dụng tiến hành quá trình cho vay diễn ra thống nhất,
khoa học, góp phần đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng. Quy trình cho
vay gồm nhiều bước nhỏ nhưng thường được chia thành 4 giai đoạn: phân
tích trước khi cấp tín dụng, xây dựng và ký kết hợp đồng, giải ngân, kiểm soát
sau khi cấp tín dụng. Chính vì cán bộ tín dụng cho vay chủ yếu dựa vào các
bước trong quy trình tín dụng nên đối với mỗi ngân hàng, quy trình cần được
xây dựng cụ thể, chi tiết đối với mỗi loại hình tín dụng, mỗi đối tượng khách
hàng để đảm bảo việc thực hiện đúng, đủ quy trình là có thể hạn chế được rủi
ro xảy ra.
1.3.2. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng
Trong công tác phòng ngừa rủi ro tín dụng, ngoài việc tuân thủ theo các
quy chế cho vay, bảo lãnh, bảo đảm tiền vay…do ngân hàng trung ương ban
hành, các ngân hàng thương mại cần xây dựng riêng cho mình một chính sách
quản lý rủi ro tín dụng phù hợp. Mục tiêu của xây dựng chính sách này là
nhằm giảm đến mức tối thiểu khả năng xảy ra rủi ro tín dụng và tổn thất ở
mức ngân hàng cho là hợp lý. Do vậy, chính sách này cần phải quản lý được
các rủi ro hiện hữu ở từng khoản vay, cả trước và sau khi rủi ro gây ra tổn thất
cho ngân hàng. Thông thường, chính sách quản lý rủi ro tín dụng thường đưa
ra những khuyến cáo về ngành, lĩnh vực, đối tượng khách hàng không nên
hoặc thận trọng cho vay để cán bộ tín dụng có thể sớm nhận biết được những
rủi ro tiềm ẩn, đồng thời đưa ra những công cụ quản trị hữu hiệu, thích hợp
20
với đặc điểm của từng ngân hàng. Cũng như vậy, trong trường hợp rủi ro đã
22
Chương ii
Thực trạng rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát
triển nông thôn Hà Nội
2.1. Đặc điểm ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Nội
2.1.1. Lịch sử phát triển
Thành lập ngày 26/3/1988 theo luật các tổ chức tín dụng, đến nay Ngân
hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Việt Nam là Ngân hàng thương
mại hàng đầu giữ vai trò chủ đạo và chủ lực trong đầu tư vốn phát triển kinh
tế nông nghiệp, nông thôn cũng như đối với các lĩnh vực khác của nền kinh tế
Việt nam. Đứng trước tình hình đổi mới của nền kinh tế, nhu cầu về vốn ngày
càng tăng, Ngân hàng đã mở rộng mạng lưới hoạt động, đa dạng hoá các dịch
vụ Ngân hàng từ đó NHNo &PTNT VN đã thành lập thêm nhiều chi nhánh
trên cả nước đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh, Đà Nẵng,Huế , Gia Lai…Trên địa bàn Hà Nội ngày 27/6/1988 căn cứ
theo quyết định số 51/QĐ-NH của thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
đã quyết định thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông
thôn Hà Nội.
Ngay từ khi thành lập chi nhánh NHNo & PTNT Hà Nội đã được phép thực
hiện mọi hoạt động kinh doanh, được thanh toán trong và ngoài nước, tham
gia các hoạt động mua bán ngoại tệ. Ngân hàng hoạt động kinh doanh chủ yếu
trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và dịch vụ ngân hàng trên địa bàn Hà Nội, đóng
vai trò tao lập vốn tập trung cho vay các thành phần kinh tế trong và ngoài
quốc doanh cung cấp các loại hình dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu
cầu tín dụng của các thành phần kinh tế trên địa bàn thủ đô, góp phần thực
hiện các chương trình mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của hệ thống NHTM
quốc doanh.
23
2.1.2. Chức năng và nhiệm vụ của ngân hàng nông nghiệp Hà Nội
Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội có những
Trong nm va qua, ngõn hng nụng nghip v phỏt trin nụng thụn H
Ni ó tn dng thun li, khc phc khú khn hon thnh mc tiờu phỏt trin
kinh t Th ụ do u ban nhõn dõn thnh ph H Ni ra. Vi mc tiờu
25
Giám đốc
Phó giám đốcPhó giám đốc
Phòng
kinh
doanh
Phòng
KDNT
&
TTQT
Phòng
Kế toán
Kế
hoạch
tổng
hợp
Phòng
thẩm định
Phòng tổ chức
hành chính
Phòng kiểm tra
kiểm toán nội bộ
Phòng vi tính Tổ tiếp thị