SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM HỌC VẦN LỚP 1 THỊ TRẤN THAN UYÊN - Pdf 26

phần mở đầu
I- lý do chọn đề tài:

Bớc vào thế kỷ XXI, thế kỉ mở đầu một thiên nhiên kỉ mới, đất nớc chúng ta
bớc vào thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Những thay đổi quan trọng trong
kinh tế, xã hội, giáo dục đòi hỏi nhất thiết phải nâng cao chất lợng giảng dạytrong
nhà trờng nói chung và bậc tiểu học nói riêng.
Tronggiai đoạn hiện nay,xu hớng của sự đổi mới phơng pháp dạy học ở bậc
tiểu học là làm sao để giâo viên không chỉ là truyền thụ kiến thức mà còn là ngời
tổ chức, định hớng cho học sinh hoạt động, để học sinh huy động vốn hiểu biết và
kinh nghiệm của bản thân vào việc chiếm lĩnh kiến thức mới.
Nh chúng ta đã biết Tiếng Việt vừa là môn học tiếng mẹ đẻ vừa là công cụ
giúp học sinh giao tiếp và tiếp thu các môn học khác tốt hơn ( Các em có đọc
thông, viết thạo, hiểu đợc nội dung văn bản thì mới nắm đợc thông tin và giải
quyết đợc vấn đề mà văn bản nêu ra).
Môn Tiếng Việt lớp một là môn học khởi đầu giúp các em chiếm lĩnh công
cụ mới dể sử dụng trong học tập và giao tiếp, đó là chữ viết. Môn tiếng việt lớp
một còn giúp học sinh hình thành nếp học nh: cách cầm sách đọc đúng t thế, cách
ngắt, nghỉ ( hơi) đúng chỗ, cách trả lời câu hỏi, cách nhận xét bạn đọc, cách cầm
bút; giúp học sinh có kĩ năng nghe nói một số câu đơn giản; bớc đầu có những
hiểu biết về cuộc sống; giúp các em yêu quý việc học tập... Đây chính là nền
móng cho các em học tốt môn Tiếng Việt ở các lớp trên. Chính vì vậy dạy tốt môn
Tiếng Việt ở lớp một ( phân môn Học vần - Tập đọc) là điều cực kì quan trọng.
Với những lí do nêu trên, tôi đã suy nghĩ, nghiên cứu và áp dụng kinh nghiệm:
" Một số biện pháp phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh trong giờ Học
vần, nhằm nâng cao chất lợng học Tiếng Việt lớp Một".
II- Mục đích của đè tài:
- Nghiên cứu thực trạng về việc dạy học Tiếng Việt lớp một phần Học vần.
Phân tích những thuận lợi và khó khăn khi dạy và học Tiếng Việt ở lớp 1 phần
Học vần.
- Tìm ra một số biện pháp nhằm phát huy tính tích cực, chủ động cho học

Trẻ rất hiếu động , ham hiểu biết cái mới nên rất dễ hình thành cảm xúc mới. Do
vậy trong dạy học giáo viên phải sử dụng nhiều đồ dùng dạy học , đa học sinh đi
tham quan , đi thực tế , tăng cờng thực hành, thực nghiệm , tổ chức các trò chơi
xen kẽ.
Trẻ dễ xúc động nhng hình ảnh lại cha bền vững dễ mất đi vì tính mục đích cha
cao. Trẻ rất hiếu động nên chóng chán , do vậy trong giờ dậy giáo viên phải gây
chú ý cho học sinh nhiều xúc cảm đọng lại thông qua bài học và các hoạt động
khác để củng cố , khắc sâu kiến thức.
Học sinh trờng Tiểu học thị trấn Than Uyên rất hiếu động , thích khám phá
điều mới lạ , nhng cũng chóng chán. Khả năng tập trung , chú ý của các em cha
cao . Nhiều em còn phát âm sai các tiếng có phụ âm n, l , b , v , t , th... Một số em
còn đọc ngọng dấu hỏi và dấu ngã.
2. Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học.
- Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Viêt ( Đọc ,
viết , nghe , nói) Để học tập và giao tiếp trong các môi trờng hoạt động của lứa
tuổi.
- Thông qua việc dạy học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác t duy.
- Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt; Về tự nhiên ,
xã hội và con ngời; Về văn hoá , văn học của Việt Nam và nớc ngoài .
- Bồi dỡng tình yêu Tiếng Việt và thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của
Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con ngời Việt Nam xã hội chủ nghĩa
cho học sinh.
Mục tiêu dạy Tiếng Việt ở Tiểu học rất chú trọng đến việc hình thành kĩ năng
sử dụng Tiếng Việt , do vậy việc hớng dẫn học sinh lớp 1 các kĩ năng thực hành
Tiếng Việt( Đọc , viết , nghe , nói) là điều rất quan trọng.
3.Mục tiêu của chơng trình Tiếng Việt lớp 1
ở lớp Một , mục tiêu dạy học tiếng Việt đợc cụ thể hoá thành những yêu cầu
cơ bản về kiến thức và kĩ năng đối với học sinh lớp 1 nh sau:
2
- Đọc đúng và rõ ràng bài văn đơn giản (Khoảng 30 tiếng / phút).Hiểu nghĩa

*Dạng bài ôn tập:
Trang chẵn: Đầu tiên là bảng âm( Vần ) cần ôn ->từ ứng dụng ->nội dung phần
tập viết.
Trang lẻ: Đầu tiên là tranh minh hoạ nội dung câu ứng dụng-> câu ứng dụng,tiếp
theo là tên truyện và tranh minh hoạ nội dung câu chuyện.
Các chữ ghi âm, tiếng từ và tranh minh hoạ đều đợc in màu sắc đẹp, hợp với tâm
lí của học sinh lớp Một giúp các em hứng thú học tập và nắm nội dung bài học
một cách chủ động. Ngoài ra, từng phần của bài học còn có kí hiệu sử dụng
sách( bằng các hình cụ thể: em bé đọc, viết, nói, kể chuyện ) giúp học dễ dàng
phân biệt phần nào để đọc, viết, luyện nói và kể chuyện.
Tiết một thờng học hết trang chẵn, tiết hai học trang lẻ và luyện viết ở vở tập
viết.
5.Phơng pháp dạy học tích cực .
Chúng ta đều biết rằng quá trình dạy học gồm hoạt động có quan hệ hữu cơ:
Hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của học sinh. Cả hai hoạt động này
đều đợc tiến hành nhằm thực hiện mục đích giáo dục.
Hoạt động học tập của học sinh chính là hoạt động nhận thức. Hoạt động này chỉ
có hiệu quả khi học sinh học tập một cách tích cực chủ động, tự giác với một động
3
cơ nhận thức đúng đắn. Luôn luôn phát huy tích cực, chủ động trong hoạt động
học tập của học sinh ở mỗi tiết học, đó chính là dạy học tích cực.
5.1.Những dấu hiệu cơ bảncủa dạy học nhằm phát huy tính tích cực của học
sinh:
- Coi trọng việc tổ chức các hoạt động của học sinh.
- Tạo điều kiện để học sinh tìm tòi, tiếp nhận tri thức.
- Tạo điều kiện để học sinh chủ động.
- Chú ý hình thành khả năng tự học của học sinh.
5.2.Tác dụng của dạy học phát huy tính tích cực của học sinh:
- Hợp với quy luật hoạt động học tập; Phát huy tính độc lập sáng tạo, hình thành
thói quen tự học.

- Học sinh lớp Một còn bỡ ngỡ.
- Sức ép của các bậc cha mẹ HS đối với giáo viên và nhà trờng .
- Trờng tiểu học Thị trấn Than Uyên nằm ở trung tâm huyện nhng mặt bằng dân
trí cha đồng đều. Sự quan tâm của cha mẹ không nhiều, nên học sinh còn cha
mạnh dạn, một số em còn nhút nhát khi tham gia các hoạt động học tập...
3. Đánh giá thực trạng về tính tích cực,chủ động của học sinh trong giờ học
vần.
3.1. Đánh giá thực trạng
4
Qua một số tiết dạy đầu năm học, nhất là giờ học vần của lớp 1A2 Trờng tiểu
học Thị trấn Than Uyên,tôi nhận thấy tính tích cực, chủ động của học sinh còn
kém, thể hiện qua một số dấu hiệu sau đây:
-Học sinh tìm từ còn chậm và số lợng ít, hay tìm từ giống nhau hoặc giống sách
giáo khoa (chỉ có khoảng 40% số học sinh tìm đợc từ mới).
-Học sinh cha có ý thức lắng nghe và làm theo sự hớng dẫn của cô( chỉ có
khoảng 50% các em chăm chú lắng nghe và làm theo sự hớng dẫn của cô)
* Ví dụ dạy bài 7: ê - v: Sau khi học chủ đề luyện nói " bế bé '', tôi hỏi: Mẹ rất
vất vả chăm sóc chúng ta. Chúng ta phải làm gì cho cha mẹ vui lòng? Thì chỉ có
khoảng 6 -8 em giơ tay.
-Học sinh đọc còn kếm, viết kém ( chiếm 25% ) Đó là các em: Phạm Tiến Đạt,
Cầm Văn Minh,Ngà Tuấn Đạt, Đỗ Hoàng Anh,Từ Kiều Anh, Nguyễn Đức
Hậu,Vũ Lâm Hùng...học sinh lớp 1A2, trờng tiểu học Thị trấn Than Uyên.
3.2.Nguyên nhân của thực trạng
* Về phía giáo viên:
- Còn nặng nề về cung cấp các kiến thức, cha chú ý đến việc tạo điều kiện giúp
cho học sinh tự tìm tòi tiếp thu kiến thức.
- Cha chú ý động viên học sinh mạnh dạn, tích cực học tập.
* Về phía học sinh:
- Các em đang quen với nếp vui chơi tơng đối tự do, thoải mái tuỳ theo hứng thú
của mình. Nhng khi đi học, các em phải làm việc trong một tập thể có nội quy, kỉ

- Làm tăng hứng thú nhận thức của học sinh.
- Đảm bảo tính trực quan, tạo cho học sinh tiếp cận nội dung bài học.
- Tạo điều kiện mở rộng nội dung SGK cho học sinh.
- Tạo điều kiện cho học sinh chủ động chiếm lĩnh kiến thức, hình thành
kĩ năng,kĩ xảo.
3. Một số lu ý khi sử dụng đồ dùng dạy học:
Việc sử dụng đồ dùng dạy học cần:
- Gắn với nội dung của bài học.
- Phù hợp với hình thức dạy học bộ môn.
- Phù hợp với kế hoạch bài học: + Đúng mục đích.
+ Đúng lúc, đúng chỗ.
- Khi sử dụng: + Cần định hớng cho HS quan sát.
+ Khai thác triệt để đồ dùng dạy học.
4.Cách sử dụng:
Đồ dùng dạy học đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện yêu cầu đổi mới
phơng pháp dạy họ. Sử dụng đồ dùng dạy học hợp lí, có hiệu quả sẽ góp phần
nâng cao chất lợng dạy học. Sau đay là một vài cách sử dụng đồ dùng dạy học
trong giờ học vần lớp 1.
4.1.Cách sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật.
a. Sử dụng tranh ảnh, mô hình, vật thật để giải nghĩa từ.
* Ví dụ dạy bài 9: o - b
Sau khi hớng dẫn học âm -tiếng - từ mới o -bò - bò.Giáo vien giới thiệu ảnh
'' con bò'' để học sinh tái hiện về hình ảnh con vật (nếu cha biết ).Giáo viên có thể
nói thêm đôi nét sơ lợc: Con bò thờng ăn cỏ, đợc nuôi để kéo cày dùng trong việc
nhà nông.
* Ví dụ dạy bài 40: iu - êu
Để giảng từ '' Cái phễu '',giáo viên cái phễu ra và hỏi: Cái phễu dùng để làm gì?
- HSTL: Cái phễu dùng để rót chất lỏng nh rợu, nớc mắm ...vào chai cho khỏi rớt
ra ngoài.
Sử dụng tranh, mô hình, vật thật khi giải nghĩa từ giúp học sinh mờng tợng ra sự

nội dung chủ đề luyện nói.
d. Sử dụng tranh ảnh trong phần kể chuyện (Tiết ôn tập)
* Ví dụ dạy kể chuyện '' Hổ ''
- HS mở SGK, đọc tên nhân vật trong câu chuyện: Hổ
- GV gợi mở: Câu chuyện hôm nay nói về hai nhân vật Mèo và Hổ. Nội dung câu
chuyện cho ta thấy Hổ là con vật nh thế nào, các em hãy chú ý lắng nghe.
- GV kể chuyện 2 lần có kết hợp minh hoạ tranh.
- GV gợi ý học sinh quan sát từng tranh, giúp câu chuyện thêm hấp dẫn; kích
thích đợc trí tởng tợng của các em. Dựa theo tranh, các em hình dung ra không
gian, thời gian xảy ra câu chuyện, sắp xếp các ý của câu chuyện, tự nhớ lại nội
dung để kể.
4.2.Sử dụng các đồ dùng dạy học khác.
a. Sử dụng mẫu chữ trong dạy tập viết:
* Ví dụ dạy viết chữ: h
- Giáo viên đa mẫu chữ h
- Yêu cầu học sinh nhận xét độ cao của chữ h; phân tích chữ h gồm mấy nét? Là
những nét nào?
Sử dụng mẫu chữ trong tập viết, giúp cho các em ghi nhớ đợc cách viét chữ bằng
nhiều giác quan ( mắt nhìn, tai nghe ), giúp các em ghi nhớ lâu.
b. Sử dụng bộ đồ dùng dạy học Tiếng Việt.
* Ví dụ dạy bài 44: on - an
- Giáo viên đa lệnh yêu cầu học sinh:
+ Ghép vần on - an
+ Ghép tiếng khoá con, sàn
Cuối tiết 1, giáo viên cho học sinh tự tìm và ghép tiếng, (có nghĩa) mang vần đã
học nhng không xuất hiện trong SGK. Việc làm này giúp các em luyện tập thực
hành để vận dụng kiến thức ,kĩ năng đã học một cách tích cực và sáng tạo.
+ vần on: bón, đòn, gọn, lon ton...
+ vần an: can, cạn, cản, bạn, lan can, đàn ngan, bàn tán...
Sử dụng bộ thực hành Tiếng Việt không những giúp học sinhnắm đợc cấu tạo của

- Xuất phát từ mục đích yêu cầu của nội dung bài, giáo viên xây dựng hệ thống
câu hỏi chính và câu hỏi phụ kèm theo.
- Câu hỏi phải có nội dung rõ ràng, dễ hiểu, chính xác phù hợp với trình độ của
học sinh.
- Câu hỏi phải thể hiện phân hoá đối tợng học sinh, tạo điều kiện cho học sinh
yếu kém đợc trả lời, phát huy tính tích cực của tất cả học sinh trong lớp.
- Sắp xếp câu hỏi từ dễ đến khó.
3.Các loại câu hỏi thờng sử dụng.
3.1.Câu hỏi yêu cầu tái hiện:
* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ơm
Sau khi học xong bài, giáo viên hỏi: Hôm nay các em học hai vần mới nào?
- HS trả lời: Hôm nay con học hai vần là vần uôm và vần ơm.
3.2.Câu hỏi yêu cầu so sánh.
* Ví dụ dạy bài 26: y - tr
Khi dạy chủ đề luyện nói ''Nhà trẻ '', giáo viên đặt câu hỏi để học sinh so
sánhviệc học ở nhà trẻ và học ở lớp 1 có gì giống và khác nhau.
+ Nhà trẻ khác lớp Một ở chỗ nào? ( Đi nhà trẻ khác với đi học lớp Một là ở nhà
trẻ giờ chơi nhiều hơn, có nhiều đồ chơi hơn, các con vừa học lại vừa chơi...)
* Ví dụ dạy bài 66: uôm - ơm
Sau khi học xong vần ơm, giáo viên yêu cầu học sinh so sánh vần uôm và vần -
ơm.
3.3.Câu hỏi yêu cầu suy luận.
* Ví dụ dạy bài 37: Ôn tập, phần kể chuyện '' Cây kế ''.
8
Sau khi học xong câu chuyện, giáo viên hỏi: ''Vì sao ngời em trở nên giàu có?''
-HS phải suy luận từ các sự việc để trả lời: Ngời em hiền lành, chăm chỉ nên trở
nên giàu có.
* Ví dụ dạy bài 27: Ôn tập
Sau khi hình thành xong bảng ôn vần, để học sinh phân biệt khi nào viết gh, khi
nào viêt g. Giáo viên hỏi: Nhìn vào bảng ôn tập, ta thấy gh đứng trớc âm nào?Còn

- Luật chơi rõ ràng, đơn giản, dễ nhớ, dễ thực hiện.
- Điều kiện và phơng tiện tổ chức trò chơi phong phú, hấp dẫn.
- Sử dụng trò chơi đúng lúc, đúng chỗ.
- Kích thích sự thi đua giánh phần thắng cho các em bên tham gia.
3. Cách tổ chức trò chơi học tập.
- Giới thiệu tên trò chơi, hớng dẫn cách chơi, thời gian chơi và phổ biến luật chơi
(Có thể tiến hành nhiều cách khác nhau nhng yêu cầu giáo viên nói ngắn gọn rõ
ràng, dễ hiểu, sao cho tất cả học sinh nắm đợc cách chơi).
- Cho học sinh chơi thử ( nếu cần ).
- Tiến hành chơi ( giáo viên điều khiển trò chơi phải nắm vững tiến trình và theo
dõi chặt chẽ ).
- Đánh giá kết quả chơi ( động viên là chủ yếu ). Nhận xét thái độ của ngời tham
dự và rút kinh nghiệm.
9
4.Các hình thức trò chơi thờng sử dụng trong giờ học vần.
4.1.Loại 1: Trò chơi tô chữ trên tranh
+ Mục đích: Nhận đợc dạng chữ ghi âm, ghi vần mới, đọc tiếng có âm(vần)
mới.
+ Cách chơi: Một hoặc một nhóm hai em dùng bút chì màu tô vào chữ có âm
hoặc vần mới học; sau khi tô, học sinh phải nói rõ ô chữ ở hình vẽ nào (gọi tên con
vật, đồ vật, ngời trong hình vẽ ) có chữ ghi âm (vần) mới. 5 học sinh tô đúng và
xong sớm sẽ chỉ định nói kết quả và nhận thởng.
+ Chuẩn bị và tổ chức: Giáo viên sao chép hình ảnh một số con vật, đồ vật, ng-
ời...có tên gọi là từ chứa âm (vần) mới. Nên sao cả một vài hình ảnh của ngời, vật
mà tên gọi không có âm, vần mới để học sinh lựa chọn. Ghi tên gọi dới mỗi hình,
kẻ khung cho từng chữ ghi mỗi tên gọi. Chụp các hình này vào một trang giấy rồi
nhân bản cho mỗi học sinh hoặc một nhóm một bản để chơi.
Minh hoạ bài 12: i - a
Hình con ong Hình cái lá Hình
ngã ba đờng

tiếng, từ đó.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status