MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU
I. Mục đích, ý nghĩa, lý do chọn đề tài
Trần Thúc Nhẫn hay còn được gọi là Trần Thúc Bình (1841- 1883), là
một trong những nhân vật quan trọng, trong khúc quanh của lịch sử nước
nhà, nữa cuối thế kỷ XIX. Khi mà ở giai đoạn này nhiều vấn đề phức tạp
của lịch sử nhân loại và dân tộc đã liên tiếp xảy ra, nó giống như một “ma
trận”mà không nước nào có thể cưỡng lại và thoát ra được cụ thể: Về thế
giới đó là sự phát triển ngày càng lớn mạnh và hoàn thiện của chủ nghĩa tư
bản, theo sau đó là quá trình bành trướng và xâm lược thuộc địa. Còn ở
trong nước đó là những mưu đồ và công cuộc xâm lược một cách trắng trợn
của bọn thực dân Pháp và phong trào kháng chiến chống pháp của nhân dân
ta, sự phân hóa về mặt nội bộ triều đình Huế với những cuộc đấu tranh về
mặt tư tưởng, chính trị, nên hòa hay nên chiến? chiến thì như thế nào? Còn
hoà thì như thế nào mà giữ được độc lập?...Thực tế đó đòi hỏi cần phải có
một sự nhận thức một cách đúng đắn và khoa học.
Là một nhân vật được sinh ra và ra làm quan trong một giai đoạn lịch
sử đầy biến động và phức tạp với những “khúc xạ” khác nhau. Do đó cuộc
đời và sự nghiệp của Trần thúc Nhẫn cần được phải xem xét, đánh giá một
khách quan và khoa học, giống như giới nghiên cứu đã từng làm đối với
các nhân vật trước, sau hoặc cùng thời với ông như: Phan Thanh Giản,Tôn
Thất Thuyết, Nguyễn Văn Tường…, để rồi từ đó mới có thể giải quyết
được những vướng mắc trong nhận thức và cách đánh giá của hậu thế mỗi
khi nhìn nhận về sự nghiệp và cuộc đời của ông.
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
Như vậy với ý nghĩa đó, thiết nghĩ theo tôi việc nghiên cứu toàn diện
về nhân vật TrầnThúc Nhẫn trong giai đoạn này là một việc làm hết sức
cần thiết.
Là một sinh viên khoa lịch sử, tôi không thể không quan tâm đến các
nhân vật lịch sử, nhất là đối với những con người từng có công trạng lớn
Huế thì những “kỉ niệm” viết về ông cũng thật sự không nhiều thậm chí đôi
khi chỉ còn là những “sự tích”, còn đọng lại qua các lời kể của những thế
hệ sau ông.
Như vậy qua đó để cho chúng ta thấy rằng khi nghiên cứu về nhân vật
lịch sử Trần Thúc Nhẫn tôi dường như không có nhiều nguồn tư liệu để
“phục chế” lại một cách toàn diện nhất, cũng như là những mặt đối chiếu,
so sánh giữa các nguồn tư liệu một cách tốt nhất. Mà chỉ có thể phản ánh,
xác minh với một cố gắng cao nhất có thể.
III. Giới hạn nghiên cứu vấn đề
Như ở phần trước đã nêu cho thấy việc nghiên cứu về Trần Thúc Nhẫn
tuy rằng không phải là nhiều. Nhưng những đóng góp của ông trong sự
nghiệp quan trường và đấu tranh giữ gìn đất nước thì ít nhiều cũng đã được
ghi nhận qua các bài viết, sách, sổ tay, hồ sơ và quan trọng hơn nữa là với
qui mô của một bài niên luận đã không cho phép tôi có tham vọng gì lớn,
mà chỉ có thể nghiên cứu một phần nào đó về cuộc đời và sự nghiệp của
ông bằng việc trên cơ sở những khung thời gian, và nguồn tư liệu hiện có
trong tay.
IV. Phương pháp nghiên cứu
Vốn được xem là một điều “bất di bất dịch” mà khoa Mác xít đã chỉ
rõ : “Trong mọi vấn đề thuộc khoa học xã hội, phương pháp chắc chắn và
cần thiết để thể hiện có được một thói quen và đề cập vấn đề một cách đúng
đắn mà không bị xa đắm vào nhiều những chi tiết và thật nhiều ý kiến đối
lập nhau, thì điều quan trọng thứ nhất của khoa học là không nên quên sự
liên hệ lịch sử căn bản, là nhận xét vấn đề theo quan điểm sau đây : Một
hiện tượng nào đó đã xuất hiện trong lịch sử như thế nào ? Các giai đoạn
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
3
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
phát triển của nó là gì? Mà đứng trên quan điểm của sự phát triển của nó,
để xem hiện tượng đó đã trở nên như thế nào?”
khi chọn và nghiên cứu đề tài này. Song với sự say mê, niềm tâm huyết
bước đầu của một nhà nghiên cứu, cộng với sự giúp đỡ của các thầy cô
giáo, các anh chị sinh viên trước và cùng khóa dường như đã tiếp thêm cho
tôi một động lực, một sức mạnh giúp tôi nhanh chóng hoàn thành đề tài
này.
Qua đề tài này mặc dù tuy không đủ, toàn diện trong khi nghiên cứu,
song tôi cũng hi vọng mình có thể cung cấp những thông tin cần thiết, có
thể nhất về bối cảnh lịch sử, cuộc đời và sự nghiệp của ông, cũng như là
những lời nhận xét của riêng cá nhân mình, cho những ai vốn quan tâm đến
các nhân vật trong lịch sử nước nhà. Xa hơn nữa là có thể đóng góp một
phần nào đấy vào sự nghiệp của nền sử học nước nhà khi nghiên cứu về các
nhân vật lịch sử, bằng việc trên cơ sở dựa vào những nguồn tư liệu, sự lập
luận, cách đánh giá của chính bản thân cá nhân tôi.
VI.Bố cục của đề tài
Do yêu cầu của bài viết cũng như là tham vọng không quá lớn của tác
giả, nên tại niên luận này của tôi về cơ bản được chia làm 3 chương chính,
ngoài lời mở đầu, kết luận và phục lục. Cụ thể nội dung niên luận sẽ được
giải quyết ở những vấn đề sau.
Chương I. Bối cảnh lịch sử lịch sử Thế Giới và Việt Nam
nữa cuối thế kỷ XIX.
I. Bối cảnh thế giới
1. Tình hình chung.
2. Nước Pháp và công cuộc chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam.
II. Bối cảnh trong nước
1. Vài nét về tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược.
2. Cuộc kháng chiến chống xâm lược Pháp của triều đình phong kiến
Nguyễn và nhân dân Việt Nam( 1-9-1858 đến 24/61867).
a. Công cuộc kháng chiến của triều đình phong kiến.
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
5
cực kỳ nóng bỏng của nền kinh tế và lòng tham của các chính giới Tư sản.
Cũng vì vậy mà nguy cơ bị xâm lược của các quốc gia vốn còn đang trong
tình trạng mông muội, lạc hậu về văn hoá , trì trệ về kinh tế, mang nặng
tính độc tôn, bản vị hẹp hòi, chưa có ý thức nảy nở về khu vực và thế giới ở
các quốc gia châu Á là một điều khó tránh khỏi.
Là một trong những quốc gia nằm ở khu vực Đông Nam Á - Một khu
vực có diện tích khoảng trên 4 triệu Km2 trải ra trên một phần đất từ 92
0
đến 140
0
Kinh đông và từ khoảng 28
0
Vĩ bắc chạy qua xích đạo đến 15
0
Vĩ
nam. Tại đây, cùng với nguồn tài nguyên vô cùng phong phú , thì Đông
Nam Á còn được coi là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng “là
hành lang, cầu nối giữa thế giới Trung Quốc, Nhật Bản với khu vực Tây Á
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
7
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
và Địa Trung Hải” [10;5], nơi có eo biển Malacca là trung tâm vận chuyển
dầu mỏ cực kỳ quan trọng và là cửa ngõ chiến lược để đi vào khu vực châu
Á- Thái Bình Dương” [7;242]. Do vậy, là một nước có vị trí đầu cầu, nút cổ
chai để đi vào bên trong Đông Nam Á lục địa, cũng như là địa vị trung tâm
của cả khu vực. Việt Nam ngay từ rất lâu đã luôn trở thành đối tượng dòm
ngó của nhiều nước tư bản Âu – Mỹ, trong số đó lớn nhất, nguy hiểm nhất
và thực tế nhất là đế quốc Pháp.
2. Nước Pháp và công cuộc chuẩn bị xâm chiếm Việt Nam.
Cũng không nằm ngoài tham vọng trong số những nước tư bản Âu –
giai cấp tư sản . Mặc dù rất bận chiến tranh với các nước Anh, Áo, Nga…
nhưng nước Pháp chưa bao giờ quên đi Việt Nam, biểu hiện:
Ngày 25/11/1801, viên toàn quyền Pondichery là Charpentier de
Conssigny đã gửi báo cáo về nước đề nghị chính phủ Pháp cử gấp sứ thần
vào tàu chiến sang Việt Nam để “ ký một hiệp ước liên minh hữu nghị và
thương mại” với Gia Long. Song lúc đó , Bonapate đang phải đối đầu với
việc cấp bách cả về đối nội lẫn đối ngoại nên đành bỏ rơi ý đồ đó và phải
đến sau khi hoà ước Amiens ( 27/3/1802), chiến tranh Anh – Pháp tạm thời
chấm dứt, thì mới tìm cách “ hợp pháp hoá” việc bành trướng của nước
Pháp và trong nhiệm vụ đó tướng Decaen được giao trọng trách cầm đầu
một đội quân viễn chinh trong vùng Ấn Độ Dương, đã gặp Dayot báo cáo
tình hình cụ thể tại Việt Nam, cùng lúc giao cho Decaen một số bản đồ chi
tiết về giao thông đường biển và xung phong nhận phái viên tại Việt Nam,
vì Dayot cho rằng: “ Tôi ( Dayot) biết rất kỷ xứ nằy , nhà vua ở đó lại luôn
có lòng yêu mến tôi”[5;6]. Hơn nữa sau khi lên ngôi ( 1804) Bonapate còn
cho rằng : “ sự thiết lập một căn cứ quân sự của Pháp tại vùng biển Trung
Hoa về mặt quân sự là một điều kiện có lợi, trong trường hợp Pháp đánh
nhau với Anh” [5;6.] và trong việc thực hiện nhiệm vụ đó ông ta đã đặt
nhiều tin tưởng vào vai trò của giáo hội và các giáo sĩ giúp ích có lợi cho
chúng tôi (nước Pháp) ở châu Á, châu Phi và châu Mỹ. “Tấm áo của họ sẽ
dùng để che dấu những mưu đồ chính trị và thương mại”[5;6]).
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
9
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
Tới đó năm 1811, Napoleon I lại giao cho triều đình xem xét lại đề
nghị của Dayot . Sang đầu 1812 lại bắt thượng thư bộ hải quân báo cáo tỉ
Mỹ về phái đoàn Bá Đa Lộc măm 1787, với việc không nằm ngoài ý định
đưa vào một văn kiện vốn đã từng bị bỏ rơi suốt trong 17 năm qua ( 1787-
1804)- Hoà ước Versaile 28/11/1787. Song tất cả những ý đồ này của
Napoleon I đều không có điều kiện thực hiện vì : Ngay sau khi hoà ước
mại ở các thành phố lớn của Pháp như Nantes, Lorient, Bordeaux… với sự
khuyến khích và nâng đỡ của chính phủ Pháp cũng đã tăng cường khuyếch
trương hoạt động tại Việt Nam. Tuy vậy, một lần nữa dưới thời trị vì của
Louis XVIII, công cuộc để tiến hành một cuộc can thiệp vũ tranh vào Việt
Nam, cũng vẫn chưa có thể thực hiện đựoc vì : Tình hình nước Pháp lúc đó
rất không thuận lợi cho một cuộc vũ trang xâm lược nơi xa xôi như Việt
Nam, bởi dưới quyền thống trị của vua Louis XVIII, bọn đại tư sản và chủ
nhà băng nước Pháp ngày càng lún sâu vào con đường thối nát một cách
đáng sợ, sự công phẫn của quần chúng đã lên đế điểm tột cùng,kết quả là
một sự lật đổ và ra đi của nhà vua đã xảy ra, thay vào đó là sự thiết lập nền
đệ nhị cộng hoà.
Như vậy, với sự sụp đỗ của triều vua Lousi XVIII (hay còn gọi là
nền quân chủ tháng bảy), thì nước Pháp về cơ bản vẫn chưa thực hiện được
“ước nguyện” của mình.
Cuối cùng bằng việc dựa trên sự ủng hộ của bọn đại tư sản, của giáo
hội và sức mạnh của lưỡi lê. Ngày 2/12/1852 Louis Napoleon đã leo lên vị
trí hoàng đế, lập ra nền đế chế thứ hai. Đây thực sự là một nền chuyên
chính tối phản động của bọn chủ nhà băng, bọn đầu cơ, quân phiệt với việc
trong thì đàn áp, bóc lột nhân dân, ngoài thì ráo riết đẩy mạnh việc xâm
chiếm thuộc địa. Song cũng trong buổi ban đầu, phần thì lo việc cũng cố
ngôi vị, phần thì e ngại tư bản Anh nên Lousi Napoleon cũng chư dám
hành động. Mà phải đợi đến 12/1856 khi mâu thuẫn Anh – Pháp tạm thời
được hoà hoãn, để cùng nhau tiến hành cuộc chiến tranh can thiệp Trung
Quốc, kết hợp với đó là các báo cáo của các giáo sĩ và sự ngày càng suy
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
11
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
đốn của triều đình Huế, những cuộc “ phiến loạn” tại miền Bắc , cùng các
nơi khác ở Việt Nam, những thuận lợi ở bên kia chiến trường Trung Quốc,
thì một quyết định về một cuộc can thiệp vũ tranh mới chính thức được
buộc Trung Quốc phải ký hiệp ước Thiên Tân (27/6/1858), quân đội viễn
chinh Pháp đã hợp lực cùng với quân Tây Ban Nha kéo thẳng xuống vùng
biển phía Nam. Đến sáng sớm ngày 1/8/1858, thì đã dàn trận trước cửa biển
Đà Nẵng, mở đầu cho một cuộc chiến tranh xâm lược nước ta, mà bọn thực
dân Pháp đã từng “ôm ấp” bấy lâu.. Đồng thời cũng là mốc chấm dứt sự
kết thúc, mở ra một chương mới cho lịch sử nước ta - Nước Việt Nam thời
cận đại.
II. Bối cảnh trong nước:
1.Vài nét về tình hình Việt Nam trước khi thực dân Pháp xâm lược:
Là một “ngoại lệ duy nhất” trong số các triều đại của lịch sử nước ta
được xác lập dựa vào sự hậu thuẫn của các thế lực bên ngoài. Triều Nguyễn
(1802-1945), mặc dù trong buổi đầu đã có nhiều cố gắng trong việc xây
dựng lại vương triều, trị an đất nước, cũng như là thái độ tương đối “ điềm
tĩnh”, “ khôn khéo” trước các thế lực phương Tây- Những con người đã
từng giúp đỡ mình trong cuộc chiến tranh đoạt lại vương quyền(nhất là
dưới thời vua Gia Long và Minh Mạng). Song đây cũng chỉ là những giải
pháp mang tính “sách lược” trong buổi đầu củng cố lại vương quyền. Còn
trên thực tế, thì sự thiết lập của vương quyền triều Nguyễn ( 1/6/1802) có
thể khẳng định rằng: “ Đây chỉ là sự thắng thế của một tập đoàn phong kiến
tối phản động nhất trong nước có tư bản nước ngoài ủng hộ, đối với triều
đại Tây Sơn tương đối tiến bộ hơn về nhiều mặt”[3; 11-12].Cũng do đó mà
càng về sau, triều Nguyễn ngày càng đi sâu vào con đường phản động bằng
việc vừa ra sức phục hồi, củng cố quan hệ sản xuất cũ, vừa cố tình bóp
nghẹt lực lượng sản xuất mới trên cơ sở mọi chính sách về chính trị, kinh
tế, văn hoá, tư tưởng đều phải được đặt trên sự bảo vệ một cách cao nhất
những đặc quyền của tầng lớp thống trị biểu hiện: Vua được xem là “con
trời”,“thay trời hành đạo”, tập trung trong tay mọi quyền hành, quyền
hành nhà vua được coi là thần khí “thiêng liêng” vô hạn. Nhà vua thực sự
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
13
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
14
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
cấm việc trao đổi, họp chợ giữa các vùng trong cả nước, gây cản trở cho sự
hình thành một thị trường dân tộc thống nhất. Ngoại thương thì nắm độc
quyền, thực hiện chính sách bế quan toả cảng, cho mở cửa “nhỏ giọt” các
cửa biển trong quan hệ với các nước, nhất là với phương Tây.
Đối nội: thì nhà Nguyễn đã ra sức đàn áp, khủng bố các phong trào
quần chúng trong biển máu, cho ban bố bộ luật Gia Long (1815) với những
chế phạt vô cùng khắc nghiệt, gắn liền với đó là việc lợi dụng các sách, vở
như văn học… để tuyên truyền cho những chính sách thống trị của
mình.Như Minh Mạng cho ra “10 điều huấn dụ”, Tự Đức “diễm âm thập
điều diễn ca” để truyền bá rộng rãi học thuyết Nho giáo trên cơ sở đó củng
cố ý thức hệ phong kiến đang ngày càng rạn nứt.
Đối ngoại: ra sức đẩy mạnh thủ đoạn xâm lược đối với các nước láng
giềng như : Cao Miên, Lào làm cho quân lực bị tổn thất, tài chính quốc gia
và tài lực nhân dân bị khánh kiệt. Còn đối với các nước phương Tây thì
phong kiến nhà Nguyễn thi hành chính sách ngày càng thêm gắt gao( chính
sách bế quan toả cảng, cấm đạo, giết đạo…), bằng việc ban hành liên tiếp
các đạo dụ cấm đạo theo mức độ tăng dần từ Minh Mạng đến Tự Đức với
những hình thức vô cùng dã man như: thích chữ vào mặt, phanh thây, buộc
đá vào cổ rồi ném xuống biển cho cá ăn…khi cho rằng: “ Đạo của người
Tây đã làm mê hoặc lòng người, lâu nay Tàu Tây đến buôn bán đã đưa các
giáo sĩ Giatô vào nước ta, chính họ đã làm tà vạy nhân tâm, phá hoại mỹ tục
thiệt là một mối hại lớn cho nước nhà. Bởi vậy trẫm phải lo trừ tuyệt những
sự tình lệ đó hầu gìn giữ dân ta không lầm lạc chính đạo”[5;8].
Như vậy, rõ ràng với bản chất và những chính sách vừa nêu trên,
nước Việt Nam gần như đã suy yếu về mọi mặt và trở thành miếng mồi
ngon đối với sự bành trướng thuộc địa đang ngày một mãnh liệt trước các
thế lực của thực dân Âu Mỹ. Nhất là với tư bản Pháp vốn từ lâu đã có cơ sở
ước Thiên Tân (27/6/1858). Quân Pháp đã hợp lực cùng với quân Tây Ban
Nha kéo thẳng xuống vùng biển phía Nam. Đến chiều ngày 31/8/1858, thì
dàn trận tại cửa biển Đà Nẵng, sang mờ sáng hôm sau (1/9/1858) không
cần đợi trả lời tối hậu thư của ta, chúng đã ra lệnh cho tàu chiến bắn đại bác
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
16
Tìm hiểu nhân vật lịch sử Trần Thúc Nhẫn
lên các đồn Điền Hải, An Hải, đổ bộ lên bán đảo Sơn Trà, rồi tiến sâu vào
nội địa đánh tan phòng tuyến của quân triều đình ở xã Mỹ Thị Lan, sang
xâm chiếm xã Cẩm Lệ.
Trước thế địch ào ạt, phối hợp cùng nhân dân hai tỉnh Quảng Nam-
Đà Nẵng triều đình Tự Đức đã cử Nguyễn Tri Phương làm tổng chỉ huy
mặt trận này để lo việc chống giặc. Về phần mình sau khi nhậm chức tổng
lãnh binh và đặt chân đến mảnh đất Đà Nẵng, Nguyễn Tri Phương đã huy
động nhân dân trong vùng cho đắp một thành luỹ dài chạy từ Hải châu đến
tận Phúc Ninh, Thanh Giãn nhằm không cho quân địch tiến sâu vào nội địa.
Còn đối với nhân dân trong vùng thì ông ra lệnh cho thực hiện kế “vườn
không nhà trống”, tản cư vào bên trong để khỏi bị bắt đi lính, nộp lương
thực hay cung cấp thông tin . Kết quả là chiến thuật này đã phát huy tác
dụng khi mà nhiều lần quân Pháp định đi sâu vào nội địa, đều bị quân triều
đình đánh bật ra và làm thiệt hại khá nặng, đến nỗi một sĩ quan viễn chinh
Pháp tham gia mặt trận này đã phải thốt lên rằng: “ cánh đồng mọc lên
nhiều công sự các loại, những người Việt đã đạt được tiến bộ lớn trong
nghệ thuật chiến tranh. Hôm nay chúng tôi chiếm đóng mảnh đất mà chúng
tôi đã chinh phục trong trận đánh mới nhất, nhưng chúng tôi chỉ đuổi quân
địch được vài trăm thước vì họ đã ẩn mình trong một phòng tuyến mới
trước mặt chúng tôi, mà họ đã củng cố mau chóng một cách kinh
khủng”[9;58] cùng bởi thế mà sau năm xâm chiếm chúng vẫn chỉ dậm
chân tại chỗ, kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh và dự định giáng cho Huế
một đòn quyết định coi như đã bị thất bại.Ngược lại trong lúc đó thì những
trường xa như Việt Nam được. Vì vậy, trong hoàn cảnh đó một chủ trương
nghị hoà với triều đình Huế được xem là một giải pháp tối ưu, là sự sống
còn đối với tương lai xa của nước Pháp tại mảnh đất Việt Nam. Công việc
đó lại được tiếp tục bởi Genouilly rồi Page nhưng cũng không thành vì thái
độ do dự, không dứt khoát, đánh không dám đánh, mà hoà cũng không ra
hoà của triều đình Huế.
Ngược lại về phía triều đình Huế, sau khi đã mất thành Gia Định, vua
Tự Đức một lần nữa lại cử Nguyễn Tri Phương vào thay Tôn Thất Hiệp, ở
Đinh Văn Nam_Lớp Lịch Sử K31B
18