Vai trò của con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
a.đặt vấn đề
Trong suốt chiều dài lịch sử triết học vấn đề con ngời luôn là một vấn đề trung tâm
luôn đợc đặt lên hàng đầu. Và đến chủ nghĩa xã hội thì vấn đề con ngời lại một lần
nữa khẳng định đợc vị trí quan trọng của nó. Đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa
xã hội ở Việt Nam, nhất là trong thời kì công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc thì vấn
đề con ngời càng thể hiện rõ tầm quan trọng đặc biệt. Đó là một nhiệm vụ có ý nghĩa
chiến lợc trong công cuộc xây dựng đất nớc. Xây dựng con ngời là động lực và nền
tảng cho sự phát triển kinh tế, xã hội, văn hoá của đất nớc. Vì vậy, hơn ai hết chúng ta
cần phải nhận thức đúng và thực hiện tốt việc xây dựng và phát huy nguồn lực con
ngời trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội mà trớc mắt là hoàn thành quá trình
công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nớc một cách tốt nhất.
Trong khuôn khổ một bài tiểu luận, vấn đề con ngời chắc chắn sẽ không thể đề
cập đến đầy đủ mọi mặt, mọi khía cạnh của nó, mà mới chỉ đến những mặt cơ bản
nhất trong vấn đề con ngời. Hi vọng rằng nó có thể góp phần làm cho vấn đề con ngời
đợc nhận thức đúng, đủ và rõ hơn.
Do hạn chế về mặt thời gian và trình độ hiểu biết còn thấp kém nên bài tiểu luận
này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Nên em mong rằng sẽ nhận đợc sự đánh giá và
đóng góp ý kiến của các thầy cô để bài tiểu luận lần sau đợc tốt hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
b. GiảI quyết vấn đề.
I. quan niệm về con ngời trong triết học trớc Mác
1. Quan niệm về con ngời trong triết học phơng Đông.
Con ngời là một vấn đề triết học lớn mà bất cứ ở trong mọi thời đại nào cũng đợc
các nhà triết học đề cập đến. Bàn về vấn đề con ngời, các nhà triết học thờng quan
tâm đến con ngời là gì? Bản tính, bản chất con ngời? Mối quan hệ giữa con ngời và
thế giới? Con ngời có thể làm gì để giải phóng mình, đạt tới tự do?...Đây cũng chính
là nội dung cơ bản của nhân sinh quan - một nội dung cấu thành thế giới quan triết
học.

Nhìn chung trong quá trình phát triển của lịch sử triết học, thì triết học phơng
Đông khi bàn về vấn đề con ngời đã có những đóng góp không nhỏ góp phần làm cho
vấn đề con ngời thêm đa dạng và phong phú.
2. Quan niệm về con ngời trong triết học phơng Tây.
Vấn đề con ngời không phải là một đề tài chỉ đợc các nhà triết học phơng Đông
quan tâm, nghiên cứu mà đây còn là một đề tài để trải qua các giai đoạn lịch sử khác
nhau, các nhà triết học phơng Tây vẫn cha ngừng chấm dứt tranh luận.
Khác với triết học phơng Đông, khi bàn về vấn đề con ngời các nhà triết học ph-
ơng Tây mà đại diện là những ngời theo lập trờng triết học duy vật đã đứng trên giác
độ khoa học tự nhiên để lý giải về bản chất con ngời và các vấn đề có liên quan. Từ
thời cổ đại các nhà triết học duy vật đã từng đa ra quan niệm về bản chất vật chất tự
nhiên của con ngời, coi con ngời cũng nh vạn vật trong giới tự nhiên không có gì thần
bí, đều đợc cấu tạo nên từ vật chất, tiêu biểu là quan niệm của Đêmôcrit về bản tính
vật chất nguyên tử cấu tạo nên thể xác và linh hồn con ngời. Đây cũng là tiền đề ph-
ơng pháp luận của quan điểm nhân sinh theo đờng lối Êpiquya... Những quan điểm
duy vật nh thế đã đợc tiếp tục phát triển trong nền triết học phục hng và cận đại; nó
cũng là một trong những tiền đề lý luận cho chủ nghĩa duy vật nhân bản của
Phoiơbắc.
ở một khía cạnh khác đứng trên lập trờng của chủ nghĩa duy
tâm, các nhà triết học duy tâm laị chọn giác độ hoạt động tâm
lý của con ngời để lý giải vấn đề. Mà đại diện lớn nhất là Platôn
với quan điểm bản chất lý tính là bản chất bất tử của linh hồn
thuộc về ý niệm tuyệt đối. Với Đêcactơ đó là bản tính phi kinh
nghiệm của lý tính...Các nhà triết học duy tâm trong lịch sử triết
học phơng Tây đề cao tuyệt đối hoá tinh thần, t tởng con ngời,
phủ định vai trò cấu trúc tự nhiên,
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sinh học. Họ cho rằng con ngời cũng nh các sinh vật khác đều là sản phẩm của thế
giới ý niệm, tinh thần tuyệt đối, ý thức của con ngời là bộ phận của tinh thần thế giới,

đồng thời đặt nền tảng cho chủ nghĩa duy vật lịch sử trong việc xem xét con ngời.
Đứng trên lập trờng khoa học của chủ nghĩa duy vật, Mác đã cho
rằng vấn đề con ngời bao gồm những quan điểm cơ bản sau :
1. Con ngời là một thực thể thống nhất giữa mặt sinh
học với mặt xã hội.
Triết học Mác đã kế thừa quan niệm về con ngời trong lịch
sử triết học, đồng thời khẳng định con ngời hiện thực là sự
thống nhất giữa yếu tố sinh học và yếu tố xã hội.
Mác đã xem xét con ngời với t cách là một cá thể sống, là một
thực thể tự nhiên. Con ngời mang tất cả bản tính sinh học và bản
tính loài. Yếu tố sinh học trong con ngời là điều kiện đầu tiên quy
định sự tồn tại của con ngời chính vì vậy con ngời là một bộ phận
của tự nhiên, là kết quả của quá trình phát triển và tiến hoá lâu dài
của môi trờng tự nhiên.
Tuy nhiên, mặt tự nhiên không phải là yếu tố quy định bản chất
con ngời. Đặc trng quy định sự khác biệt giữa con ngời và thế giới loài vật là phơng
diện xã hội của nó. Sự hoạt động của các quy luật xã hội tác động đến con ngời tạo
thành bản chất xã hội quy định mối quan hệ giữa con ngời với con ngời trong đó
chính lao động là yếu tố quyết định hình thành mặt bản chất xã hội của con ngời.
Mặt xã hội là đặc trng bản chất để phân biệt con ngời với con vật, nghiên cứu xã
hội không thoát ly khỏi nghiên cứu sinh vật của con ngời, tất cả đều bị chi phối bởi
các yếu tố ăn, mặc, ở, đi lại. Hai mặt, mặt sinh học và mặt xã hội luôn luôn thống
nhất với nhau trong quá trình hình thành và phát triển của con ngời và xã hội loài ng-
ời. Mặt sinh học là cơ sở tất yếu tự nhiên của con ngời, còn mặt xã hội là đặc trng bản
chất để phân biệt con ngời với loài vật. Mặt xã hội xâm nhập vào mặt sinh học, biến
đổi mặt sinh học để từ sinh học động vật trở thành sinh học con ngời. Trên cả cơ sở
của cái sinh học và cái xã hội sẽ làm xuất hiện ở con ngời quy luật tâm lý, ý thức làm
nảy sinh ở con ngời tình cảm, ý chí, niềm tin, ý tởng. Hai mặt trên thống nhất với
nhau hoà quyện vào nhau để tạo thành con ngời , con ngời tự nhiên, xã hội.


bộ mặt xã hội. Trên cơ sở nắm bắt quy luật của lịch sử xã hội con ngời đã sáng tạo ra
các giá trị vật chất và giá trị tinh thần thúc đẩy xã hội phát triển từ thấp tới cao phù
hợp với mục tiêu và nhu cầu do con ngời đặt ra. Không có hoạt động của con ngời thì
cũng không tồn tại quy luật xã hội, và do đó không có sự tồn tại của lịch sử xã hội
loài ngời.
Không có con ngời trừu tợng, chỉ có con ngời cụ thể trong mỗi giai đoạn phát triển
nhất định của xã hội. Do đó, con ngời trong điều kiện lịch sử xã hội luôn luôn vận
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
động biến đổi, cũng phải thay đổi cho phù hợp. Con ngời có vai trò tích cực trong tiến
tình lịch sử với t cách là chủ thể sáng tạo. Thông qua đó, bản chất con ngời cũng vận
động biến đổi cho phù hợp. Có thể nói rằng, mỗi sự vận động biến đổi của lịch sử sẽ
quy định tơng ứngvới sự vận động và biến đổi của bản chất con ngời.
Vì vậy, để phát triển bản chất con ngời theo hớng tích cực, cần phải làm cho hoàn
cảnh ngày càng mang tính ngời nhiều hơn. Hoàn cảnh đó chính là toàn bộ môi trờng
tự nhiên và xã hội tác động đến con ngời theo khuynh hớng phát triển nhằm đạt tới
các giá trị có tính mục đích, tự giác, có ý nghĩa định hớng giáo dục.
III. t tởng hồ chí minh về vai trò con ngời và việc xây dựng
con ngời mới.
1. T tởng Hồ Chí Minh về vai trò con ngời.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Chủ
tịch Hồ Chí Minh vừa kế thừa t tởng của ông cha ta về
bồi dỡng sức dân, vừa vận dụng sáng tạo các quan điểm
của chủ nghĩa Mác về vấn đề con ngời vào điều kiện thực
tế của nớc ta. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc về vai trò
của con ngời trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Ngời nói: Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trớc hết cần
có những con ngời xã hội chủ nghĩa (Hồ Chí Minh:
Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 10, tr. 310). Hồ Chí
Minh khẳng định: Dễ vạn lần không dân cũng

cây, vì lợi ích trăm năm trồng ngời (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000,
tập 9, tr. 222). Theo Ngời, con ngời mới phải có học thức, có văn hoá làm gốc, có
nh vậy mới bảo đảm cho chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Ngời cho rằng, Dốt nát cũng
là một kẻ địch và một dân tộc dốt là một dân tộc yếu.
Ngời cũng chỉ ra rằng, không phải chờ cho kinh tế, văn hoá phát triển cao rồi mới
xây dựng xã hội chủ nghĩa, cũng không phải xây dựng xong những con ngời xã hội
chủ nghĩa rồi mới xây dựng chủ nghĩa xã hội. Việc xây dựng con ngời xã hội chủ
nghĩa phải đợc đặt ra ngày từ đầu và phải đợc Đảng, Nhà nớc, nhân dân, mỗi gia
đình, cá nhân đặc biệt quan tâm trong suốt tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội cần có những con ngời xã hội chủ nghĩa, nhng
không có nghĩa là tất cả mọi ngời phải và có thể trở thành con ngời xã hội chủ nghĩa
thật đầy đủ, thật hoàn chỉnh ngay một lúc, đó là điều hoàn toàn ảo tởng. T tởng đó chỉ
có nghĩa là trớc hết cần có những con ngời tiên tiến, có đợc những nét tiêu biểu của
con ngời mới xã hội chủ nghĩa, có thể làm gơng cho ngời khác; từ đó lôi cuốn xã hội
đẩy mạnh việc xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa, đồng thời những con ngời ấy
cũng không ngừng đợc hoàn thiện, nâng cao. Chính vì thế, Ngời luôn chú trọng bồi d-
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
ỡng những phẩm chất tốt đẹp, những phong cách lành mạnh và hớng mọi ngời tới cái
chân thiện mỹ để không ngừng hoàn thiện bản thân mình. Căn cứ vào yêu cầu
cách mạng, Hồ Chủ tịch đã đề ra những phẩm chất và phong cách cần thiết để mỗi
ngời tu dỡng, rèn luyện, trớc hết là cán bộ, đảng viên. Đó là những phẩm chất đạo đức
chính trị, những phong cách trong lao động, sinh hoạt và trong quan hệ xã hội.
Những vấn đề này có thể gặp rất nhiều trong các tác phẩm của Ngời nh Đờng Kách
Mệnh, Sửa đổi lối làm việc, Đời sống mới cũng nh hàng loạt bài nói, bài viết
sau này.
Ngời đặc biệt coi trọng sự nghiệp trồng ngời. Việc trồng ngời bị sao nhãng
thì nhất định sẽ nảy sinh nhiều vấn đề bất cập, thậm chí có thể làm suy thoái về con
ngời và có thể gây lên những hậu quả không thể lờng hết đợc. Sự nghiệp trồng ngời
không chỉ là trách nhiệm riêng của Đảng, Nhà nớc mà đó phải đợc coi là trách nhiệm

cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hoá, kỹ thuật, lao động và sản xuất (Hồ
Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 10, tr. 190), họ phải thành những ngời
thừa kế xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa hồng, vừa chuyên (Hồ Chí Minh: Toàn tập,
Nxb CTQG, H. 2000, tập 12, tr. 498). Theo Hồ Chủ tịch, trong giáo dục, đạo đức và
tài năng là hai nội dung không thể thiếu, trong đó đạo đức là yếu tố gốc. Năm 1964,
Ngời nói: Dạy cũng nh học phải biết chú trọng cả tài lẫn đức. Đức là đạo đức cách
mạng. Đó là cái gốc rất quan trọng (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000,
tập 11, tr. 329). Trên nền tảng giáo dục chính trị và lãnh đạo t tởng tốt, phải phấn đấu
nâng cao chất lợng văn hoá và chuyên môn nhằm thiết thực giải quyết các vấn đề do
cách mạng nớc ta đề ra và trong một thời gian không xa, đạt những đỉnh cao của khoa
học và kỹ thuật.
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng sự nghiệp giáo dục, ngời đề ra phơng châm:
Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, cần phải phát huy đầy đủ dân chủ xã hội chủ
nghĩa, xây dựng quan hệ thật tốt, đoàn kết chặt chẽ giữa thầy và thầy, giữa thầy và
trò, giữa học trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trờng và nhân dân để hoàn
thành thắng lợi nhiệm vụ đó (Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb CTQG, H. 2000, tập 12,
tr. 403). Sự nghiệp giáo dục có thực hiện đợc tốt thi mới đào tạo ra đợc những công
dân tốt, những cán bộ tốt để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ X, Đảng ta đã kế thừa và vận dụng sáng tạo trong điều kiện mới, khẳng
định Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là
nền tảng và động lực thúc đẩy công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc (Đảng Cộng
sản Việt Nam, Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb CTQG, H. 2006,
tr. 94 - 95).
Tóm lại, trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất
quan tâm đến vấn đề xây dựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa để phục vụ cho sự
nghiệp cách mạng, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nớc ta.
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status