đồ án công nghệ thông tin Nghiên Cứu Mô Hình Hạ Tầng Mạng Nghiđồ án công nghệ thông tin ên Cứu Và Đào Tạo Việt Nam(Vietnam Research and Education Network – VinaREN) - Pdf 26

Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
BÁO CÁO ĐỀ TÀI THỰC TẬP:
Nghiên Cứu Mô Hình Hạ Tầng
Mạng Nghiên Cứu Và Đào Tạo Việt Nam
(Vietnam Research and Education Network – VinaREN)
LỜI MỞ ĐẦU:
VinaREN (Vietnam Research and Education Network) là kết quả triển
khai thực hiện Dự án Mạng Thông Tin Á-Âu giai đoạn II/III tại Việt Nam
(viết tắt là TEIN2/3 VN) . VinaREN chính thức được khai trương toàn quốc
tại hội nghị Mạng Nghiên Cứu và Đào Tạo Việt Nam lần thứ ba ( từ 27-
28/3/2008) tại Thành Phố Hồ Chí Minh.
Đến nay, VinaREN đã thực sự trở thành mạng nghiên cứu và đào tạo
quốc gia tại Việt Nam với 6 trung tâm vận hành mạng (Network Operation
Centre, sau đây gọi tắt là NOC). VinaREN kết nối 60 mạng thành viên, bao
gồm hàng trăm viện nghiên cứu, trường đại học, bệnh viện lớn tại 11 tỉnh và
thành phố trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi để cộng đồng nghiên cứu và
đào tạo Việt Nam kết nối mạng tốc độ và hiệu năng cao với 45 triệu đồng
nghiệp tại hơn 8.000 trung tâm nghiên cứu và đào tạo trên thế giới.
VinaREN là mạng viễn thông dùng riêng được cho giới nghiên cứu và đào
tạo, được Nhà nước câp giấy phép hoạt động vào tháng 5 năm 2008 và Giấy
phép bổ sung năm 2009.
Mục đích của đề tài này nhằm nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng đang
được áp dụng và vận hành triển khai thực tế ở Trung Tâm Vận Hành Mạng
Quốc Gia VinaREN đặt tại Hà Nội (VNNOC kiêm chức năng NOC-Hanoi).
Có trụ sở tại 24 Lý Thường Kiệt Hà Nội, Cục Thông Tin Khoa Học và Công
Nghệ Quốc Gia.
1
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
Chương I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT MẠNG MÁY TÍNH
1.1. Giới thiệu sơ lược về mô hình OSI và giao thức TCP/IP.
1.1.1. Mô hình OSI.

Hình 1: Mô hình OSI
Tầng 1: Tầng vật Lý (Application Layer)
Điều khiển việc truyền tải thật sự các bit trên đường truyền vật lý. Nó
định nghĩa các thuộc tính về cơ, điện, qui định các loại đầu nối, ý nghĩa các
pin trong đầu nối, qui định các mức điện thế cho các bit 0,1,….
Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Presentation Layer)
Tầng này đảm bảo truyền tải các khung dữ liệu (Frame) giữa hai máy
tính có đường truyền vật lý nối trực tiếp với nhau. Nó cài đặt cơ chế phát hiện
và xử lý lỗi dữ liệu nhận.
Host A Host B
3
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
Tầng 3: Tầng mạng (Session Layer)
Tầng này đảm bảo các gói tin dữ liệu (Packet) có thể truyền từ máy tính
này đến máy tính kia cho dù không có đường truyền vật lý trực tiếp giữa
chúng. Nó nhận nhiệm vụ tìm đường đi cho dữ liệu đến các đích khác nhau
trong mạng.
Tầng 4: Tầng vận chuyển (Transport Layer)
Tầng này đảm bảo truyền tải dữ liệu giữa các quá trình. Dữ liệu gửi đi
được đảm bảo không có lỗi, theo đúng trình tự, không bị mất trùng lắp. Đối
với các gói tin có kích thước lớn, tầng này sẽ phân chia chúng thành các phần
nhỏ trước khi gửi đi, cũng như tập hợp lại chúng khi nhận được.
Tầng 5: Tầng giao dịch( Network Layer)
Tầng này cho phép các ứng dụng thiết lập, sử dụng và xóa các kênh
giao tiếp giữa chúng (được gọi là giao dịch). Nó cung cấp cơ chế cho việc
nhận biết tên và các chức năng về bảo mật thông tin khi truyền qua mạng.
Tầng 6: Tầng trình bày (Datalink Layer)
Tầng này đảm bảo các máy tính có kiểu định dạng dữ liệu khác nhau
vẫn có thể trao đổi thông tin cho nhau. Thông thường các máy tính sẽ thống
nhất với nhau về một kiểu định dạng dữ liệu trung gian để trao đổi thông tin

chức năng nhưng hai hệ thống mạng khác nhau sẽ không tương tác được với
nhau. Hình dưới sẽ so sánh kiến trúc của các hệ điều hành mạng thông dụng
với mô hình OSI.
5
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
Hình 2 - Kiến trúc của một số hệ điều hành mạng thông dụng
Để thực hiện các chức năng ở tầng 3 và tầng 4 trong mô hình OSI, mỗi
hệ thống mạng sẽ có các protocol riêng:
- UNIX: Tầng 3 dùng giao thức IP, tầng 4 giao thức TCP/UDP
- Netware: Tầng 3 dùng giao thức IPX, tầng 4 giao thức SPX
- Giao thức NETBEUI của Microsoft cài đặt chức năng của cả hai tầng
3 và 4
Nếu chỉ dừng lại ở đây thì các máy tính UNIX, Netware, NT sẽ không
trao đổi thông tin được với nhau. Với sự lớn mạnh của mạng Internet, các
máy tính cài đặt các hệ - Xử lý dữ liệu qua các tầng điều hành khác nhau đòi
hỏi phải giao tiếp được với nhau, tức phải sử dụng chung một giao thức. Đó
chính là bộ giao thức TCP/IP, giao thức của mạng Internet.
1.1.2 Mô hình TCP/IP, và giao thức TCP.
a, Mô hình TCP/IP
Chúng ta đã khảo sát mô hình OSI 7 lớp, mô hình này chỉ là mô hình tham
khảo, việc áp dụng mô hình này vào thực tế là khó có thể thực hiện ( hiệu suất
kém vì dữ liệu phải truyền từ máy này sang máy kia trong mạng qua tất cả các
lớp của mô hình OSI ở cả hai máy), nó chỉ là tiêu chuẩn để các nhà phát triển
6
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
dựa theo đó mà phát triển các mô hình khác tối ưu hơn. Có rất nhiều các mô
hình khác nhau, hiện nay phổ biến nhất là mô hình TCP/IP.
Tương tự như mô hình OSI,mô hình TCP/IP được phân thành 4 lớp, trong
đó 2 lớp dưới (1 và 2) của mô hình OSI được gộp lại thành một lớp, hai lớp
sesion và presentation của OSI không có trong mô hình TCP/IP. Dữ liệu từ

Trong mô hình TCP/IP người ta đưa ra khái niệm địa chỉ IP để định địa chỉ
cho các host trên mạng.
Tầng 3: Transport layer
Lớp transport được thiết kế để cho các phần tử ngang cấp ở lớp host có
thể đối thoại với nhau.
Hai protocol chính là:
- TCP: là một connection Oriented Protocol, cho phép chuyển một
chuỗi byte từ host này sang host kia mà không có lỗi( dùng cơ
chế phân chia dữ liệu ra thành các gói nhỏ (package) ở máy
nguồn gom lại ở máy đích.)
- UDP: là một connectionless protocol được xây dựng cho các ứng
dụng không muốn sử dụng cách truyền theo một thứ tự của TCP
mà muốn tự mình thực hiện điều đó( tùy theo mục đích của ứng
dụng mà người ta dùng UDP hay không ).
Mỗi máy tính có thể liên lạc với một máy khác trong mạng qua địa chỉ
IP. Tuy nhiên, với địa chỉ này không đủ cho một process của máy tính liên
lạc với một process của máy khác. Và vì vậy TCP/UDP đã dùng số nguyên
(16bit) để đặt tả nên số hiệu port.
Như vậy, để hai process của hai máy tính bất kì trong mạng có thể giao
tiếp với nhau thì mỗi frame ở cấp network có IP gồm :
- Protocol (là TCP/UDP)
- Địa chỉ IP của máy gửi.
- Số hiệu port của máy gửi.
- Địa chỉ IP của máy đích.
8
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
- Số hiệu port của process ở máy đích.
Ví dụ :{ TCP, 127.28.11.83,6000,127.28.11.241,7000}
Tầng 4:Application layer (process layer)
Chứa các dịch vụ như trong các lớp Session, Presentation, Application của

(Metwork ID)và địa chỉ host (host ID)
Class ID Network ID Host ID
32 bits ( 4 byte)
Địa chỉ IP
Nếu các máy tính được nối internet thì địa chỉ IP phải do NIC (Network
Information Center) cấp.
b, Phân loại địa chỉ IP.
Có tất cả 5 lớp địa chỉ IP nhưng được phổ biến sử dụng chỉ có ba lớp là
Lớp A ,lớp B và lớp C.
-Lớp A: dùng cho hệ thống mạng có lượng dịa chỉ host rất lớn, số
lượng này có thể lên đến 16 triệu địa chỉ:
31 30 24 23
0
0
Network ID
Host ID
Để có thể nhận biết địa chỉ thuộc lớp nào người ta căn cứ vào bit đầu
tiên trong phần network ID, trong lớp A : bít đầu tiên trong phần ID
network bằ g 0 , 8 bits đầu dùng cho phần network ID còn lại 24 bits dành
cho phần host ID, như vậy có 162 địa chỉ đường mạng (2
7
), và 16.777.214
địa chỉ host ID (2
24
).
10
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
- Lớp B: Dùng cho hệ thống mạng trung bình với số lượng host ID lên
đến khoảng 65 ngàn địa chỉ.
31 30 29 16 15 0

Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
Subnet mask 255.255.255.0
1.1.4 Các topology mạng
Topo là từ viết tắt của Topology.Topology là cấu trúc liên kết của một
mạng,các nút có thể được nối với nhau theo các cấu hình vật lý khác
nhau.Cách bố trí các phương tiện kết nối giữa các nút mạng được gọi là Topo
mạng.Ba topo thường được sử dụng cho mạng Lan đó là:Topo Star,Topo
Bus ,Topo Ring.Ở dạng hình sao,tất cả các mạng được nối vào thiết bị trung
tâm ở đây có thể là một bộ chuyển mạch,một bộ định tuyến hoặc đơn giản là
một bộ phân kênh(Hub)
Vai trò thực chất của thiết bị trung tâm này chính là thực hiện việc”bắt
tay” giữa các trạm cần trao đổi thông tin với nhau,thiết lập các liên kết Điểm-
Điểm giữa chúng ,tức là nhạn tín hiệu từ các thiết bị mạng và định tuyến các
tín hiệu đó đến đúng đích.
- Ưu điểm của Topo Star là lắp đặt đơn giản ,dễ dàng,cấu hình lại dễ
dàng kiểm soát và khắc phục sự cố.
- Nhược điểm chủ yếu của topo này là đôh dài đường truyền nối mọi
trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế.
*Topo Ring
Ở dạng vòng tròn tín hiệu được lưu chuyển trên vòng tròn theo một
chiều duy nhất,một chuỗi liên tiếp theo các liên kết Điểm -Điểm giữa các bộ
lặp.Cần thiết phải có giao thức điều khiển việc cấp phát”quyền” được truyền
dữ liệu trên vòng cho các trạm có nhu cầu và tín hiệu sẽ được phục hồi lại tại
từng thiết bị
*Topo Bus
Ở dạng Bus,tất cả các trạm phân chia chung một đường truyền
chính(Bus).Đường truyền chính này được giới hạn hai đầu bởi một loại đầu
12
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
nối đặc biệt gọi là terminator.Mỗi trạm được nối vào Bus qua một đầu nối chữ

Ngày nay, Internet là một trong những mạng máy tính có phạm vi toàn
cầu gồm nhiều mạng nhỏ cũng như các máy tính riêng lẻ được kết nối với
nhau để có thể liên lạc và trao đổi thông tin. Trên quan điểm Client/ Server thì
có thể xem internet như là mạng của các mạng sever, có thể truy xuất bởi
hàng triệu client. Việc chuyển và nhận thông tin trên internet được thực hiện
bằng nghi thức TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là TCP và IP, Ip
cắt nhỏ và đóng gói thông tin chuyển qua mạng, khi đến máy nhận thì thông
tin đó sẽ được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự chính xác của thông tin được
chuyển đi cũng như ráp nối lại, mặt khác TCP cũng sẽ yêu cầu truyền lại
thông tin thất lạc hay hư hỏng. Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục
vụ mà các sever trên internet sẽ được phân chia thành các loại khác nhau như
web sever, email sever hay FTP sever, mỗi loại sever sẽ được tối ưu hóa theo
mục đích sử dụng.
Từ quan điểm người sử dụng, internet như là tập hợp các chương trình
ứng dụng sử dụng những cơ sở hạ tầng của mạng để chuyển tải thông tin. Hầu
hết người sử dụng internet thực hiện công việc đơn giản là chạy các chương
trình ứng dụng trên một máy tính nào đó (gọi là máy client) mà không cần
hiểu loại máy tính đang được truy suất (sever), kỹ thuật TCP/IP, cấu trúc hạ
tầng của mạng hay internet hoặc ngay cả con đường mà dữ liệu được truyền
qua để đến được đích của nó.
14
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
Hình 4 : liên lạc trên internet
1.2.1 Khởi nguồn của mạng internet.
Internet bắt đầu từ năm 1969 đưới cái tên là Arpanet( Advanced
Research Projects Agency) còn gọi là ARPA Nó thuộc bộ quốc phòng
Mỹ (DoD). Đầu tiên nó chỉ có 4 máy được thết kế để minh họa khả năng
xây dựng mạng bằng cách dùng máy tính nằm rải rác trong một vùng rộng.
Vào năm 1972 khi ARPANET được trình bày công khai đã được 50
trường đại học và các viện nghiên cứu nối kết vào. Mục tiêu của

web, ta cũng cần một giao thức để thực hiện công việc này, mặc dù hiện nay
cũng đang có rất nhiều giao thức để truyền thông tin nhưng nhìn chung có hai
giao thức được các lập trình viên sử dụng đó là: TCP/IP và giao thức UDP.
16
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
1.2.3. Các dịch vụ kết nối đến internet.
- Muốn truy cập vào internet, bạn cần phải đăng ký kết nối.Có nhiều phương
pháp để có thể đăng ký kết nối, và luôn có các phương pháp mới trong quá
trình thiết kế. Ba phương pháp phổ biến nhất hiện nay là : Dịch vụ trực tuyến,
nhà cung cấp dịch vụ Internet ( ISP) và truy cập trực tuyến.
- Dịch vụ trực tuyến (online service) là một doanh nghiệp như AOL,
CompuServe, Microsoft Network (MSN), cung cấp nhiều dịch vụ truyền
thông, trong đó có truy cập internet. Khi sử dụng dịch vụ trực tuyến, bạn chạy
chương trình kết nối của họ để đăng nhập dịch vụ do họ cung cấp, đến lúc kết
nối để chạy internet Explorer. Dịch vụ trực tuyến thu cước phí hàng tháng
(không áp dụng cho người Việt Nam
- Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là một công ty nhỏ hơn, chuyên dụng
hơn, cung cấp tùy chọn không nhiều bằng dịch vụ trực tuyến,nó cho phép truy
nhập internet theo giờ với cước phí thấp, hoặc truy nhập không giới hạn với
cước phí cao hơn. Họ còn cấp cho khách hàng một tài khoản Email. Ở Việt
Nam hiện nay có một số dịch vụ ISP đang hoạt động như VNN,FPT,
NETNAM…
- Truy nhập trực tuyến ( direct access) khả dụng ở nhiều học viện giáo dục
hoặc công ty lớn. Thay vì sử dụng modem, những tổ chức này thuê một
đường truyền chuyên dụng để cung cấp truy nhập internet 24/24 giờ.
* Cơ sở về cầu nối
- Liên mạng
Liên mạng (Internetwork) là một tập hợp của nhiều mạng riêng lẻ được
nối kết lại bởi các thiết bị nối mạng trung gian và chúng vận hành như chỉ là
một mạng lớn. Người ta thực hiện liên mạng (Internetworking) để nối kết

các bits. Repeater sẽ khuếch đại chuỗi các bits nhận được từ cổng 1 và chuyển
chúng sang cổng 2. Điều này vô tình đã chuyển cả khung N2 gởi cho N1 sang
LAN2. Trên LAN1, N1 nhận toàn bộ Frame. Trên LAN2 không có máy trạm
nào nhận Frame cả. Tại thời điểm đó, nếu N5 có nhu cầu gởi khung cho N4
thì nó sẽ không thực hiện được vì đường truyền đang bị bận.
Ta nhận thấy rằng, Frame N2 gởi cho N1 không cần thiết phải gởi sang
LAN 2 để tránh lãng phí đường truyền trên LAN 2. Tuy nhiên, do Repeater
18
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
hoạt động ở tầng 1, nó không hiểu Frame là gì, nó sẽ chuyển đi mọi thứ mà nó
nhận được sang các cổng còn lại. Liên mạng bằng Repeater hay Hub sẽ làm
tăng vùng đụng độ của mạng, khả năng đụng độ khi truyền tin của các máy
tính sẽ tăng lên, hiệu năng mạng sẽ giảm xuống.
- Cầu nối
Bây giờ ta thay thế Repeater bằng một Bridge. Khi Frame N2 gởi cho
N1 đến công 1 của Bridge nó phân tích và thấy rằng không cần thiết phải
chuyển Frame sang LAN 2.
Hình 5 : Bridge khắc phục nhược điểm của Repeater/HUB
Bridge là một thiết bị hoạt động ở tầng 2 trong mô hình OSI. Bridge
làm nhiệm vụ chuyển tiếp các khung từ nhánh mạng này sang nhánh mạng
khác. Điều quan trọng là Bridge là thiết bị thông minh nó chuyển frame một
cách có chọn lọc dựa vào địa chỉ MAC của các máy tính. Bridge còn cho
phép các mạng có tầng vật lý khác nhau có thể giao tiếp được với nhau.
Bridge chia liên mạng ra thành những vùng đụng độ nhỏ, nhờ đó cải thiện
được hiệu năng của liên mạng tốt hơn so với liên mạng bằng Repeater hay
Hub.
Có thể phân Bridge thành 3 loại:
1 􀂃Cầu nối trong suốt (Transparent Bridge): Cho phép nối các
mạng Ethernet/ Fast Ethernet lại với nhau.
2 􀂃Cầu nối xác định đường đi từ nguồn (Source Routing Bridge):

20
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
tiên của khung để xác định địa chỉ máy nhận khung. Nó sẽ tìm địa chỉ này
trong bảng địa chỉ cục bộ và sẽ ứng xử theo một trong các trường hợp sau:
1 􀂃Nếu máy nhận nằm cùng một cổng với cổng đã nhận khung, cầu
nối sẽ bỏ qua khung vì biết rằng máy nhận đã nhận được khung.
2 􀂃Nếu máy nhận nằm trên một cổng khác với cổng đã nhận khung,
cầu nối sẽ chuyển khung sang cổng có máy nhận.
3 􀂃Nếu không tìm thấy địa chỉ máy nhận trong bảng địa chỉ, cầu nối
sẽ gởi khung đến tất cả các cổng còn lại của nó, trừ cổng đã nhận
khung.
Trong mọi trường hợp, cầu nối đều cập nhật vị trí của máy gởi khung
vào trong bảng địa chỉ cục bộ.
Cầu nối trong suốt thành công trong việc phân chia mạng thành những
vùng đụng độ riêng rời. Đặc biệt khi quá trình gởi dữ liệu diễn ra giữa hai
máy tính nằm về cùng một hướng cổng của cầu nối, cầu nối sẽ lọc không cho
luồng giao thông này ảnh hưởng đến các nhánh mạng trên các cổng còn lại.
Nhờ điều này cầu nối trong suốt cho phép cải thiện được băng thông trong
liên mạng.
* Cầu nối xác định đường đi từ nguồn
- Giới thiệu
Cầu nối xác định đường đi từ nguồn (SRB-Source Route Bridge) được
phát triển bởi IBM và được đệ trình lên ủy ban IEEE 802.5 như là một giải
pháp để nối các mạng Token lại với nhau.
Cầu nối SRB được gọi tên như thế bởi vì chúng qui định rằng : đường
đi đầy đủ từ máy tính gởi đến máy nhận phải được đưa vào bên trong của
khung dữ liệu gởi đi bởi máy gởi (Source). Các cầu nối SRB chỉ có nhiệm vụ
lưu và chuyển các khung như đã được chỉ dẫn bởi đường đi được lưu trong
trong khung.
21

* Cầu nối trộn lẫn (Mixed Media Bridge)
Cầu nối trong suốt được dùng để nối các mạng Ethernet lại với nhau.
Cầu nối xác định đường đi từ nguồn dùng để nối các mạng Token Ring. Để
nối hai mạng Ethernet và Token Ring lại với nhau, người ta dùng loại cầu nối
thứ ba, đó là cầu nối trộn lẫn đường truyền. Cầu nối trộn lẫn đường truyền có
hai loại:
1 - Cầu nối dịch (Translational Bridge)
2 - Cầu nối xác định đường đi từ nguồn trong suốt (Source-Route-
Transparence Bridge)
1.2.4. Cơ sở về bộ chuyển mạch
a, Chức năng và đặc tính mới của switch
LAN Switch là một thiết bị hoạt động ở tầng 2, có đầy đủ tất cả các tính
năng của một cầu nối trong suốt như:
1 - Học vị trí các máy tính trên mạng
2 - Chuyển tiếp khung từ nhánh mạng này sang nhánh mạng khác một cách có
chọn lọc
3 Ngoài ra Switch còn hỗ trợ thêm nhiều tính năng mới như:
1 - Hỗ trợ đa giao tiếp đồng thời: Cho phép nhiều cặp giao tiếp diễn ra một
cách đồng thời nhờ đó tăng được băng thông trên toàn mạng.
2 - Hỗ trợ giao tiếp song công (Full-duplex communication): Tiến trình gởi
khung và nhận khung có thể xảy ra đồng thời trên một cổng. Điều này làm
tăng gấp đôi thông lượng tổng của cổng. o Điều hòa tốc độ kênh truyền:
Cho phép các kênh truyền có tốc độ khác nhau giao tiếp được với nhau. Ví
dụ, có thể hoán chuyển dữ liệu giữa một kênh truyền 10 Mbps và một kênh
truyền 100 Mbps.
23
Nghiên cứu mô hình hạ tầng mạng VinaREN
b, Kiến trúc của switch
Switch được cấu tạo gồm hai thành phần cơ bản là:
- Bộ nhớ làm Vùng đệm tính toán và Bảng địa chỉ (BAT-Buffer anh

chuyển tiếp. Ngược lại khi tỷ lệ khung lỗi hạ xuống nhỏ hơn ngưỡng, switch
lại chuyển về hoạt động theo giải thuật Xuyên cắt.
d, Thông lượng tổng (Aggregate throughput)
Thông lượng tổng (Aggregate throughput) là một đại lượng dùng để đo
hiệu suất của switch. Nó được định nghĩa là lượng dữ liệu chuyển qua switch
trong một giây. Nó có thể được tính bằng tích giữa số nối kết tối đa đồng thời
trong một giây nhân với băng thông của từng nối kết. Như vậy, thông lượng
tổng của một switch có N cổng sử dụng, mỗi cổng có băng thông là B được
tính theo công thức sau:
Aggregate throughput = (N div 2) * (B*2) = N*B
Ví dụ: Cho một mạng gồm 10 máy tính được nối lại với nhau bằng một
switch có các cổng 10 Base-T. Khi đó, số nối kết tối đa đồng thời là 10/2. Mỗi
cặp nối kết trong một giây có thể gởi và nhận dữ liệu với lưu lượng là
10Mbps*2 (do Full duplex). Như vậy thông lượng tổng sẽ là: 10/2*10*2 =
100 Mbps
1.2.5. Cơ sở về bộ chọn đường
a, Mô tả
Bridge và switch là các thiết bị nối mạng ở tầng hai. Switch cho phép
liên kết nhiều mạng cục bộ lại với nhau thành một liên mạng với băng thông
và hiệu suất mạng được cải thiện rất tốt. Nhiệm vụ của switch là chuyển tiếp
các khung từ nhánh mạng này sang nhánh mạng khác một cách có chọn lọc
dựa vào địa chỉ MAC của các máy tính. Để làm được điều này, switch cần
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status