BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KH&CN CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CỨU
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
8860 Hà Nội, 2010
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỤC THÔNG TIN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ QUỐC GIA
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KH&CN CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU VÀ TRIỂN KHAI
HỆ THỐNG THÔNG TIN VỀ NGHIÊN CỨU
VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM
KH&CN
Khoa học và công nghệ
KHKT
Khoa học và kỹ thuật
NC&PT
Nghiên cứu và phát triển; nghiên cứu khoa học và phát
triển công nghệ
NII
National Informatics Institute (Viện Tin học Quốc gia,
Nhật Bản).
NISO
National Information Standards Organization (Tổ chức
Tiêu chuẩn Thông tin Quố
c gia , Hoa Kỳ)
NSNN
Ngân sách nhà nước
NTIS
National Technical Information Service (Dịch vụ Thông
tin Kỹ thuật Quốc gia, Hoa Kỳ)
OECD
Organization for Economic Co-operation and
Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế)
QLNN
Quản lý nhà nước
UNESCO
United Nations Education, Science and Culture
Organization (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của
Liên Hiệp Quốc)
VNTIC
Vserossiskii Nauchno-Tekhnicheskii Informacionnyi Centr
báo cáo kết quả nghiên cứu 26
1.3. Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế trong hoạt động thông tin nghiên cứu và
phát triển 28
1.3.1. Hoa Kỳ 28
1.3.2. Liên bang Nga 41
3
1.3.3. Nhật bản 45
1.3.4. Một số nước và vùng lãnh thổ khác 50
Chương 2. CƠ SỞ PHÁP LÝ VÀ HIỆN TRẠNG QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỀ
TÀI VÀ BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN CỦA
VIỆT NAM 52
2.1. Cơ sở pháp lý của hoạt động quản lý thông tin đề tài và báo cáo KQNC52
2.1.1. Giai đoạn trước khi có Luật KH&CN 52
2.1.2. Giai đoạn từ sau khi có Luật Khoa học và Công nghệ cho đến nay. 56
2.2. Hiện trạng quản lý thông tin về đề tài và báo cáo kết quả nghiên cứu 60
2.2.1. Hiện trạng quản lý thông tin về đề tài 60
2.2.2. Hiện trạng quản lý thông tin về báo cáo kết quả nghiên cứu 63
2.3. Hiện trạng triển khai thực hiện Quyết định số 03/2007/QĐ-BKHCN ngày
16/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về việc ban hành Quy
chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ khoa học và công
nghệ 67
2.3.1. Tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia 68
2.3.2. Tại Bộ, ngành và tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương 69
Chương 3. XÂY DỰNG PHẦN MỀM QUẢN LÝ THÔNG TIN ĐỀ TÀI VÀ
4.1. Cơ sở của việc hình thành cơ chế trao đổi thông tin phục vụ nghiên cứu
và phát triển 107
4.1.1. Cơ sở pháp lý 108
4.1.2. Cơ sở khoa học 109
4.1.3. Nhu cầu thực tiễn 109
4.2. Mục tiêu và yêu cầu của cơ chế trao đổi thông tin phục vụ nghiên cứu và
phát triển 110
4.2.1. Mục tiêu 110
4.2.2. Những yêu cầu cơ bản đối với cơ chế trao đổi thông tin phục vụ
nghiên cứu và phát triển 110
4.3. Nội dung chủ yếu của cơ chế trao đổi thông tin phục vụ nghiên cứu và
phát triển 112
4.3.1. Đối tượng tham gia trao đổi thông tin 112
4.3.2. Loại hình thông tin cần trao đổi 113
4.3.3. Lộ trình hoạt động trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển 114
4.3.4. Trách nhiệm, quyền lợi của các thành viên 117
4.3.5. Phương tiện kỹ thuật, công nghệ và các đảm bảo thực hiện hoạt động
trao đổi thông tin nghiên cứu và phát triển 118
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 119
5
I. KẾT LUẬN 119
II. KHUYỀN NGHỊ 122
TÀI LIỆU THAM KHẢO 125
hiện trong kế hoạch năm 2009;
- Quy
ết định số 1431/QĐ-BKHCN ngày 11/7/2008 của Bộ trưởng Bộ
KH&CN về việc thành lập Hội đồng KH&CN cấp Bộ xét duyệt thuyết minh đề
tài nghiên cứu năm 2009 của Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia;
- Quyết định số 2385/QĐ-BKHCN ngày 27/10/2008 của Bộ trưởng Bộ
KH&CN về việc phê duyệt đề tài cấp Bộ năm 2009 của Trung tâm Thông tin
KH&CN Quốc gia;
- Hợp đồng thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học xã hội và nhân vă
n cấp
Bộ số 01-2009Z2/HĐ/ĐT ký ngày 11/12/2008 giữa Văn phòng Bộ KH&CN và
Trung tâm Thông tin KH&CN Quốc gia.
2. Mục tiêu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát:
Đề tài có mục tiêu tổng quát là nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác
thu thập, lưu giữ, phổ biến và chia sẻ thông tin về NC&PT, trước tiên là về đề
tài NC&PT và kết quả của các đề tài; triển khai hiệu quả Quy chế đăng ký, lưu
giữ và sử dụng kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN ban hành kèm theo Quyết
định số 03/2007/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN.
2.2. Mục tiêu cụ th
ể
7
Những mục tiêu cụ thể cần đạt được của Đề tài là:
- Tạo lập công cụ phần mềm thích hợp để xây dựng CSDL đề tài và báo
cáo KQNC hỗ trợ triển khai hiệu quả Quy chế đăng ký, lưu giữ và sử dụng kết
quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN ban hành kèm theo Quyết định số
03/2007/QĐ-BKHCN của Bộ trưởng Bộ KH&CN;
- Đẩy mạnh công tác chia sẻ và khai thác thông tin về
đề tài và báo cáo
vào CSDL;
- Xây dựng các công cụ tạo ra những sản phẩ
m đầu ra phục vụ quản lý và
thông tin: in giấy chứng nhận, biên soạn ấn phẩm thông tin về đề tài và báo cáo
KQNC;
- Xây dựng các công cụ thống kê về thông tin đề tài, báo cáo KQNC;
- Tạo lập công cụ xuất dữ liệu để trao đổi thông tin;
- Tổ chức tập huấn sử dụng phần mềm cho một số địa phương (sở
KH&CN).
(4) Nghiên cứu xây dựng CSDL về đề tài và báo cáo KQNC tập
trung; tạo lập Website thông tin đề
tài và báo cáo kết quả nghiên cứu
- Xây dựng cấu trúc CSDL tích hợp trên mạng về đề tài, báo cáo KQNC;
- Xây dựng công cụ đưa CSDL lên Web để phục vụ tra cứu thông tin.
CSDL xây dựng tại địa phương có thể được đưa lên Website của sở KH&CN để
phục vụ tra cứu thông tin về đề tài và báo cáo KQNC của địa phương;
- Tích hợp dữ liệu từ một số CSDL của địa phương và đưa lên mạng
Internet để khai thác chung trên quy mô toàn quố
c.
4. Sản phẩm của đề tài
Theo đề cương, những sản phẩm mà Đề tài phải tạo lập gồm:
- Chương trình quản trị CSDL Đề tài và Báo cáo KQNC: Chương trình
phải quản lý được thông tin về đề tài và báo cáo KQNC; có thể chuyển giao cho
các đơn vị;
9
- Đề án hoặc cơ chế trao đổi thông tin NC&PT: Dự thảo đề án hoặc dự
thảo quy chế;
- Đào tạo: Đào tạo được một số cán bộ ở địa phương và Trung ương sử
dụng phần mềm để xây dựng CSDL;
11
PHẦN II. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THÔNG TIN NGHIÊN
CỨU VÀ PHÁT TRIỂN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ
1.1 Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu và phát triển
1.1.1. Khái niệm hoạt động khoa học và công nghệ
Theo Luật KH&CN năm 2000, khoa học được hiểu là "hệ thống tri thức
về các hiện tượng, sự vật, quy luật của tự nhiên, xã hội và tư duy" còn công
nghệ là "tập hợp các phương pháp, quy trình, kỹ năng, bí quyết, công cụ,
phương tiện dùng để biến đổi các nguồn lực thành s
ản phẩm".
Theo UNESCO, hoạt động KH&CN bao gồm hoạt động nghiên cứu và
phát triển thực nghiệm, giáo dục và đào tạo KH&CN,và dịch vụ KH&CN được
các đơn vị trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, khoa học công nghệ, khoa học nông
nghiệp, khoa học y dược, khoa học xã hội và nhân văn thực hiện hoặc cấp kinh
phí thực hiện [UNESCO, 1984].
Luật KH&CN xác định hoạt động khoa học và công nghệ (KH&CN)
bao gồm nghiên cứ
u khoa học, nghiên cứu và phát triển công nghệ, dịch vụ
KH&CN, hoạt động phát huy sáng kiến, cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất và
các hoạt động khác nhằm phát triển KH&CN. So với khái niệm do UNESCO
đưa ra, khái niệm hoạt động KH&CN theo Luật KH&CN của Việt Nam không
bao gồm giáo dục và đào tạo KH&CN.
1.1.2. Khái niệm nghiên cứu và phát triển
Từ những khái niệm nói trên về KH&CN, có thể thấy hoạt động hoạt
bao gồm nghiên cứu c
ơ bản, nghiên cứu ứng dụng" [Quốc hội 2000]. Như vậy
có thể nói, thuật ngữ nghiên cứu khoa học theo Luật KH&CN của Việt Nam bao
quát khái niệm "nghiên cứu cơ bản" và "nghiên cứu ứng dụng" của UNESCO và
OECD. 1
Trước đây, trong nhiều tài liệu, người ta sử dụng thuật ngữ "nghiên cứu và triển khai" để chỉ
khái niệm "nghiên cứu và phát triển". Để phù hợp với Luật KH&CN, chúng tôi sử dụng thuật
ngữ "nghiên cứu và phát triển".
2
Trong tài liệu tiếng Anh, người ta sử dụng thuật ngữ "Research and Development" (thường
viết tắt là R&D)
3
Organization for Economic Co-operation and Development (Tổ chức Hợp tác và Phát triển
Kinh tế)
13
Nghiên cứu cơ bản có thể được chia thành hai dạng con: nghiên cứu cơ
bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản có định hướng. Nghiên cứu cơ bản thuần
tuý là nghiên cứu được tiến hành nhằm phát triển tri thức, hiểu biết mà không
định hướng vào tìm kiếm lợi ích kinh tế, xã hội cụ thể hoặc hướng đến ứng dụng
KQNC vào giải quyết vấn đề thực tế cụ th
ể nào. Nghiên cứu cơ bản thuần tuý
không nhằm vào việc chuyển giao kết quả cho một lĩnh vực sản xuất hoặc xã hội
nào để về việc ứng dụng của tri thức đó. Nghiên cứu cơ bản có định hướng là
nghiên cứu cơ bản được tiến hành với hy vọng rằng nó có thể tạo ra một nền
tảng tri thức mới để hình thành cơ sở cho giả
i pháp để giải quyết những vấn đề
UNESCO và OECD sử dụng. Theo UNESCO và OECD, phát triển thực
nghiệm
4
là hoạt động mang tính hệ thống được tiến hành dựa trên những tri
thức đã được thu nhận từ những nghiên cứu hoặc kinh nghiệm thực tế để hướng
đến việc tạo ra vật liệu, sản phẩm hoặc thiết bị mới, tạo ra và triển khai những
quá trình, hệ thống hoặc dịch vụ mới, hoặc cải tiến đáng kể những vật liệu, s
ản
phẩm, thiết bị, quá trình, hệ thống hoặc dịch vụ đã có [UNESCO 1984, OECD
2002].
Từ việc tìm hiểu những khái niệm trên, trong báo cáo này, thuật ngữ
"Nghiên cứu" là viết tắt của thuật ngữ "Nghiên cứu khoa học" của Luật
KH&CN Việt Nam, có nghĩa là bao quát hai khái "nghiên cứu cơ bản" và
nghiên cứu ứng dụng" của OECD và UNESCO. Thuật ngữ "Phát triển" trong
báo cáo này là tương ứng với thuật ngữ "Phát triển công nghệ
" trong Luật
KH&CN (nghĩa là bao gồm cả "triển khai thực nghiệm" và "phát triển thử
nghiệm") và tương ứng với thuật ngữ "phát triển thực nghiệm" mà UNESCO và
OECD sử dụng.
1.1.3. Một số khái niệm liên quan đến nhiệm vụ khoa học và công
nghệ
Một trong những nội dung của hoạt động thông tin KH&CN là thông tin
về nhiệm vụ KH&CN và kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN. Nhiệ
m vụ
KH&CN là một trong những hình thức hoạt động KH&CN. Theo Nghị định
81/2002/NĐ-CP của Chính phủ, nhiệm vụ KH&CN là "những vấn đề khoa học 4
Tiếng Anh là "Experimental development"
- Lựa chọn đề tài; 5
Một số tài liệu dùng thuật ngữ "triển khai" thay cho "phát triển", vì thế trong nhiều tài liệu
chúng ta gặp khái niệm "nghiên cứu và triển khai" hoặc "nghiên cứu triển khai". Từ khi có
Luật KH&CN, người ta thường sử dụng khái niệm "nghiên cứu và phát triển".
16
- Xây dựng đề cương;
- Phê duyệt đề cương;
- Tiến hành nghiên cứu;
- Viết báo cáo tổng hợp KQNC;
- Đánh giá, nghiệm thu KQNC;
- Công bố KQNC.
Tương ứng với các bước của quá trình thực hiện đề tài sẽ có những sản
phẩm tư liệu chủ yếu như trong Bảng 1.1.
Bảng 1.1. Các sản phẩm tư liệu chủ yếu của quá trình thực hiện đề tài
TT Các bước cơ bản của quy
trình nghiên cứu
Sản phẩm tư liệu chủ yếu
1 Lựa chọn đề tài Bản đề xuất nhiệm vụ KH&CN; Đối tượng nghiên
cứu (toàn bộ hoặc một phần của đối tượng )
2 Xây dựng đề cương Bản Thuyết minh đề tài gồm các nội dung cơ bản:
tên đề tài; đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên
cứu; nội dung nghiên cứu; sản phẩm dự kiến; tiến
độ, kinh phí; nhân lực tham gia nghiên cứu…
3 Phê duyệt đề cương Bản Thuyết minh được phê duyệt bằng Quyết định
của cấp có thẩm quyền căn cứ vào kết quả đánh giá,
thẩm định của Hội đồng xét duyệt đề cương nghiên
thiết phải có Thuyết minh đề tài [Bộ KH&CN 2003, Bộ KH&CN 2005, Bộ
KH&CN 2007]. Bản thuyết minh đề tài được phê duyệt bằng Quyết định của
cấp có thẩm quyền căn cứ vào kết quả đánh giá, thẩm định của Hội đồng xét
duyệt đề cương nghiên cứu.
Từ những điều như trên, thông tin về
nhiệm vụ KH&CN được hiểu là
thông tin về đề tài. Cụ thể hơn là thông tin về bản thuyết minh đề tài đã được
phê duyệt.
Trong nhiều trường hợp chúng ta còn gặp thuật ngữ "Đề tài đang tiến
hành". Đề tài đang tiến hành là nhiệm vụ KH&CN đang được thực hiện sau
khi Bản Thuyết minh đề tài đã được phê duyệt bằng Quyết định của cấp có
thẩ
m quyền căn cứ vào kết quả đánh giá, thẩm định của Hội đồng xét duyệt đề
cương nghiên cứu. Sở dĩ cần xem xét khái niệm “đề tài đang tiến hành” là vì
hoạt động quản lý thông tin về đề tài là quản lý các sản phẩm tư liệu được tạo ra
trong quá trình đề tài đang được thực hiện. Nói cách khác, tư liệu cần có để xử
lý thông tin chính là các bản thuyết minh đã đượ
c cấp có thẩm quyền phê duyệt
để làm căn cứ triên khai đề tài. Tuy nhiên trên thực tế, trong nhiều CSDL về đề
tài đang tiến hành chắc chắn có những đề tài đã kết thúc vào thời điểm chúng ta
truy cập biểu ghi đó. Việc kiểm tra và loại các đề tài đã kết thúc khỏi CSDL đề
tài đang tiến hành không đơn giản và mất nhiều thời gian. Hơn nữa, việc này là
không cần thiết vì thông tin về
đề tài đã kết thúc cũng rất cần thiết. Điều quan
18
trọng là thông tin về sự kết thúc của đề tài cần được cập nhật vào biểu ghi để có
thông tin về tình trạng của đề tài.
Trong báo cáo này, CSDL Đề tài được hiểu là CSDL về các đề cương đề
tài đã được phê duyệt. Dữ liệu về đề tài có thể là của đề tài đã kết thúc hoặc
Chúng tôi sử dụng thuật ngữ "đề tài" để chỉ chung các loại nhiệm vụ KH&CN dạng đề tài,
dự án NC&PT.
19
Từ việc xem xét thuật ngữ "kết quả thực hiện nhiệm vụ KH&CN" trong
ngữ cảnh hoạt động thông tin, có thể thấy hoạt động thông tin về kết quả thực
hiện nhiệm vụ KH&CN là thông tin về báo cáo KQNC được giao nộp, lưu giữ.
Trong báo cáo này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ "báo cáo KQNC" để chỉ báo
cáo kết của của đề tài.
Trong nhiều tài liệu nước ngoài và của Việt Nam, chúng ta còn gặ
p một
số thuật ngữ khác nhau để chỉ loại hình tài liệu báo cáo KQNC, thí dụ thuật ngữ
"báo cáo khoa học và kỹ thuật" hoặc ngắn gọn là "Báo cáo kỹ thuật"
7
. Theo
Tổ chức tiêu chuẩn thông tin quốc gia NISO của Hoa Kỳ, báo cáo khoa học và
kỹ thuật là một tài liệu chứa/chuyển tải những kết quả của nghiên cứu cơ bản
hoặc ứng dụng và những quyết định hỗ trợ dựa trên các kết quả này. Báo cáo
bao gồm các thông tin cần thiết để diễn giải, áp dụng và lặp lại các kết quả hoặc
kỹ thuật củ
a nghiên cứu [NISO 1997]. Mục tiêu đầu tiên của báo cáo là phổ biến
KQNC KH&CN và khuyến nghị những hành động. Một báo cáo kỹ thuật có thể
có những đặc tính sau [NISO 1997]:
- Số người đọc có thể hạn chế, việc phổ biến có thể hạn chế hoặc bị giới
hạn, và nội dung của nó có thể chứa các thông tin được xếp hạng theo độ mật
8
,
thông tin có bản quyền, thông tin riêng.
- Có thể được viết cho một hoặc một số cá nhân hoặc tổ chức như yêu cầu
của hợp đồng để ghi lại hoạt động nghiên cứu, bao gồm cả những thảo luận về
hoặc nước ngoài mà chúng có được thông quan những kênh đặc biệt và không
có được thông qua kênh xuất bản, phân phối, kiể
m soát thư mục hoặc bổ sung từ
các nhà cung cấp sách hoặc các nhà phát hành [Grey Literature International
Steering Committee 2009]. Mạng Tài liệu xám định nghĩa tài liệu xám là "thông
tin được tạo ra từ các nguồn khác nhau như chính phủ, hàn lâm, doanh nghiệp,
công nghiệp, ở dạng điện tử hoặc in, không được kiểm soát bởi cơ quan xuất
bản thương mại, nghĩa là việc xuất bản không phải là hoạt động chính của tổ
chức tạo ra tài liệu" [The Grey Literature Network Service]. Thí d
ụ về tài liệu
xám có thể là các báo cáo kỹ thuật của các viện nghiên cứu. Tại Hội nghị về tài
liệu xám tổ chức ở Luxembourg, người ta cho rằng thông tin tài liệu xám là
thông tin được tạo ra ở mọi cấp độ: Chính phủ, hàn lâm, kinh doanh, công
nghiệp dưới dạng thức điện tử hoặc được in nhưng không được quản lý, xuất
bản hoặc phân phối bởi ngành xuất bản thương mại, ngh
ĩa là việc xuất bản
21
những thông tin, tài liệu không phải là chức năng hàng đầu của tổ chức tạo ra
chúng (ICGL Luxembourg definition, 1997 - Expanded in New York, 2004)
[Grey Literature International Steering Committee, 2009]. Tác giả Peter Hirtle in
Broadsides vs. Grey Literature định nghĩa tài liệu xám là: những báo cáo in ít
bản, các bài báo không xuất bản nhưng được lưu hành, các kỷ yếu hội nghị
không xuất bản, các chương trình hội nghị được in, và những tài liệu khác tạo ra
một tập hợp những sưu tập bản thảo [trích theo Moya K. Mason 2009]. Theo
Trần Mạnh Tuấ
n, tài liệu xám xác định như mọi loại hình tư liệu của tài liệu
được phổ biến không phải vì mục đích thương mại [Trần Mạnh Tuấn 2006].
Thông thường tài liệu xám bao gồm:
- báo cáo kỹ thuật (Technical Reports);
1.2. Vai trò và nội dung thông tin về đề tài và báo cáo kết quả nghiên
cứu
Từ những vấn đề nêu về nhiệm vụ KH&CN, kết quả thực hiện nhiệm vụ
KH&CN, các chủ thể tham gia thực thực hiện nhiệm vụ như trên trên, có thể
thấy những thành phần chủ yế
u trong thông tin về hoạt động NC&PT bao gồm:
- thông tin về đề tài;
- thông tin về báo cáo kết quả thực hiện đề tài;
- thông tin về các chủ thể thực hiện nhiệm vụ KH&CN bao gồm:
+ các nhà nghiên cứu;
+ các cơ quan chủ trì hoặc phối hợp nghiên cứu.
Như vậy, về cơ bản, một hệ thống thông tin NC&PT cần bao quát các loại
thông tin về các đối tượng nói trên.
Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu được duyệt của đề tài này gi
ới hạn ở
quy mô về quản lý thông tin về đề tài và báo cáo KQNC nên phần dưới đây
chúng tôi đề cập đến thông tin về đề tài và báo cáo KQNC.
1.2.1. Vai trò của thông tin về đề tài
Vai trò của thông tin về đề tài đối với phát triển KH&CN nói riêng và
phát triển KT-XH nói chung được thể hiện như sau:
23
- Giúp loại bỏ hiện tượng trùng lặp đề tài
Hoạt động NC&PT ở nước ta hiện nay chủ yếu được thực hiện bằng
nguồn kinh phí từ NSNN và được phân bổ theo kế hoạch hoạt động KH&CN
hàng năm của các Bộ, ngành, địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương). Bộ KH&CN không quản lý cụ thể các nhiệm vụ KH&CN của mỗi Bộ,
ngành và địa phương. Căn cứ vào nhu c
ầu thực tế và nguồn kinh phí được phân
bổ theo kế hoạch cho việc thực hiện các đề tài, các Bộ, ngành và địa phương tự