Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học Việt Nam - Pdf 13

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quá trình học tập của SV trong trường ĐH, ngoài việc lĩnh hội tri thức
khoa học, kiến thức ngành nghề, còn đóng vai trò quan trọng trong việc quyết định
nhân cách, phẩm chất nghề nghiệp tương lại của từng SV. Xuất phát từ quan điểm
xem SV là trung tâm của quá trình đào tạo, đòi hỏi quy trình tổ chức đào tạo sao
cho mỗi SV có thể tìm được cách học thích hợp nhất của mình. Các nhà giáo dục
Bắc Mỹ đã quan tâm tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở tiếp cận " lấy
học sinh làm trung tâm" với mong muốn phát huy năng lực sáng tạo của SV. Về
mặt triết học, ngày càng nhiều người chấp nhận phương pháp hướng trọng tâm vào
SV và sự ủng hộ của John Dewey
1
đối với việc phát triển năng khiếu bản thân
thông qua quá trình học tập phù hợp với lợi ích cá nhân. Các nhà nghiên cứu giáo
dục nhận thấy rằng, để SV có thể theo đuổi mơ ước và mục đích học tập thực sự,
trường ĐH nên tạo cơ hội cho SV được phép lựa chọn môn học phù hợp với
chuyên ngành và khả năng của chính mình. Hiểu rõ xu thế này, Hiệu trưởng Eliot
2
là người khởi xướng hệ thống học tự chọn tại trường ĐH Harvard vào năm 1872.
Ông quyết định thay thế hệ thống bài giảng cố định theo phương thức truyền thống
bằng rất nhiều lựa chọn cho SV. Kết quả của việc được học tập theo phương thức
tự chọn chính là mô hình đào tạo theo HTTC. Các lợi ích của HTTC Hoa Kỳ
chính là nhà trường và SV có được sự linh hoạt trong đào tạo nói chung và học tập
nói riêng. Sinh viên có quyền được học theo tiến độ phù hợp với bản thân, được
phép lựa chọn môn học thích hợp, được tích lũy kiến thức thông qua số lượng tín
chỉ quy định. Ngoài ra, SV có thể được chuyển chuyển ngành học, chuyển trường
và được công nhận số tín chỉ đã tích lũy. Điều này càng phản ánh được lợi ích to
lớn của HTTC đối với mục tiêu “học suốt đời” UNESCO khẳng định.
Mô hình quản lý công tác SV ở các trường ĐH Bắc Mỹ và Châu Âu được
duy trì một cách khoa học, hỗ trợ tối đa cho HĐHT của SV. Sinh trong trường ĐH
được quản lý bởi đội ngũ CVHT trong việc lập kế hoạch học tập cá nhân, xác định

Để việc áp dụng đào tạo theo HTTC vào các trường ĐH Việt Nam một cách
có hiệu quả, cần có các nghiên cứu cụ thể về tính lịch sử, đặc điểm, tính chất của
GDĐH Việt Nam qua các thời kỳ. Các nghiên cứu cần tập trung vào công tác quản
lý nhà trường, quản lý hoạt động giảng dạy của GV và HĐHT của SV sao cho phù
hợp với đặc điểm của HTTC.
Các nghiên cứu quốc tế để áp dụng HTTC trong các trường ĐH mới chỉ tập
trung phân tích các vấn đề chung đối với lịch sử phát triển của HTTC, đặc điểm
của hệ thống, sự thích hợp đối với các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, nhiều
nhà khoa học, quản lý giáo dục đã nghiên cứu về kinh nghiệm thế giới và thực tế
đào tạo theo HTTC ở Việt Nam, về phương pháp dạy, học và đánh giá kết quả học
tập trong học chế tín chỉ, về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của sinh viên và giảng
viên trong phương thức đào tạo theo HTTC. Các tài liệu này chủ yếu tập trung
nghiên cứu phân tích về những khó khăn trong công tác quản lý SV khi thực hiện
đào tạo theo HTTC, phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của SV
trong đào tạo theo HTTC, chưa có các nghiên cứu về quản lý HĐHT của SV trong
trường ĐH theo HTTC.
Để công tác quản lý trường ĐH áp dụng theo HTTC đúng như đặc điểm
tính chất vốn có, cần hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV phù hợp với
phương thức đào tạo mới. Vấn đề thực tiễn ở Việt Nam với câu hỏi đặt ra, khi
chuyển đổi phương thức đào tạo sang HTTC, công tác quản lý HĐHT của SV
trong các trường ĐH như thế nào.Vì vậy, nghiên cứu để tìm ra các giải pháp nhằm
2
quản lý HĐHT của SV đang trở nên cần thiết và cấp bách nhằm hoàn thiện quy
trình quản lý theo HTTC trong trường ĐH Việt Nam.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về triển khai đào tạo theo HTTC trên thế giới và ở
Việt Nam, thực tiễn quản lý HĐHT của SV ở các trường ĐH Việt Nam đang thực
hiện đào tạo theo HTTC. Từ đó, đề xuất những giải pháp quản lý HĐHT của SV
nhằm hoàn thiện công tác quản lý theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3
- Đối tượng khảo sát: Cán bộ quản lý đào tạo, cán bộ giảng dạy, cán bộ quản
lý sinh viên, sinh viên của một số trường đang thực hiện đào tạo theo hệ thống tín
chỉ.
Thời gian nghiên cứu: Năm 2010-2013.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Đề tài áp dụng một số Phương pháp luận tiếp cận nghiên cứu sau đây:
-Tiếp cận theo lịch sử - logic cho phép nghiên cứu những vấn đề cơ bản của
sự hình thành và phát triển của HTTC trong những điều kiện lịch sử và theo những
mốc thời gian cụ thể, những mặt hạn chế và nguyên nhân và logic phát triển của
HTTC.
-Tiếp cận mục tiêu là đích cần đạt tới, làm mốc để định hướng cho các hoạt
động quản lý dạy học, hướng tới sự phù hợp của việc quản lý HĐHT của SV trong
tổng thể quản lý nhà trường khi áp dụng HTTC. Những mục tiêu đó do các Nghị
quyết của Đảng, của Chính phủ và các văn bản quy định trên nền tảng quy mô,
chất lượng và hiệu quả của GDĐH. Đồng thời, quản lý HĐHT của SV theo HTTC
nhằm tạo điều kiện cho SV đạt được kết quả học tập tốt nhất thông qua việc tích
lũy kiến thức đúng, đủ số TC quy định, hình thành kỹ năng nghề nghiệp và năng
lực học tập suốt đời.
- Tiếp cận hệ thống cho phép xem xét các nội dung nghiên cứu quản lý dạy
học như một nhân tố trong hệ thống hoàn chỉnh và mối quan hệ tương tác giữa các
nhân tố. Đối tượng nghiên cứu là các giải pháp quản lý HĐHT của SV và những
nhân tố ảnh hưởng, chi phối các đối tượng mà trong quá trình nghiên cứu các đối
tượng buộc các nhà nghiên cứu phải đề cập được gọi là khách thể nghiên cứu,
chính là công tác quản lý hoạt động dạy học trong đào tạo theo HTTC ở trường
ĐH.
Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu, luận án sử dụng các phương pháp sau:
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của

xuất để quản lý HĐHT của SV trong trường ĐH áp dụng đào tạo theo HTTC.
7.4.Phương pháp bổ trợ:
- Phương pháp thống kê toán học: Thống kê toán học để xử lý các số liệu và
kết quả nghiên cứu, tiến hành đánh giá thực nghiệm một số nội dung của hai giải
pháp quản lý hoạt động học tập của sinh viên.
- Phần mềm SPSS với công thức Kiểm định Chi-square (Chi-square Test):
Kiểm định Chi-square dùng để kiểm định sự độc lập của 2 biến phân loại ngẫu
nhiên. Nếu xác suất nhỏ hơn 0.05 (5%, mức ý nghĩa) thì có thể kết luận 2 biến có
mối quan hệ. Ngược lại, không có cơ sở để kết luận giữa 2 biến có mối quan
hệ.Chi- square Test xác định tính tác dụng hiệu quả của giải pháp thông qua ý kiến
nhận xét, đánh giá của hiệu trưởng, các cán bộ quản lý nhà trường và giảng viên
về việc nội dung giải pháp đề xuất.
8. Luận điểm cần bảo vệ
- Chuyển HĐHT của SV các trường ĐH từ cách học theo niên chế sang cách
học theo HTTC là thực hiện bước đổi mới căn bản cách học theo hướng tư duy
5
sáng tạo trong tự chọn lựa tích lũy kiến thức và hình thành cách học mới, thói
quen cho việc học suốt đời.
- Quản lý đào tạo theo HTTC là tạo sự sống động trong mọi HĐHT của SV
theo hướng mở, nâng cao tính tự chủ và sự chịu trách nhiệm về kết quả và chất
lượng học tập, nghiên cứu của từng SV trước bản thân, gia đình và xã hội.
- Giải pháp quản lý đề xuất đảm bảo tính hợp lý và hiệu quả cao cho toàn bộ
quá trình HĐHT theo HTTC của sinh viên thông qua tăng tính tự lập, lựa chọn
sáng tạo kiến thức và kỹ năng thực hành theo sở trường, nguyện vọng đáp ứng tốt
nhất yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
9. Những đóng góp mới của luận án
- Đề tài: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở
trường đại học Việt Nam là đề tài có nội dung nghiên cứu mang tính cấp thiết,
đặc biệt trong xu thế đổi mới căn bản giáo dục đại học Việt Nam trong tiến trình
hội nhập quốc tế hiện nay và phù hợp với chuyên ngành đào tạo.

biệt đối với công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường
ĐH VN.
10.Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết
cấu thành 3 chương.
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở
TRƯỜNG ĐẠI HỌC
7
1.1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1. Nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1. Các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ
O. Regel đã thực hiện một công trình nghiên cứu về “Đào tạo theo hệ thống
tín chỉ trong giáo dục đại học, hiệu quả và sự thích hợp đối với các nước đang phát
triển”. Tác giả cho rằng việc nỗ lực áp dụng HTTC vào Hoa Kỳ có ảnh hưởng đến
các nước đang phát triển trong việc mong muốn chuyển đổi hệ thống đào tạo ĐH
tại nước họ. Sự thay đổi cần thiết này không chỉ xuất phát từ nhu cầu của SV và
các trường ĐH nhằm tạo điều kiện chuyển đổi SV giữa các trường, mà sự thay đổi
này được hiểu như là một yêu cầu đòi hỏi của xã hội phát triển. “ Nhân tố chính
thúc đẩy việc thay thế chương trình giảng dạy truyền thống là nhu cầu cần thiết
đối với một hệ thống linh hoạt hơn và phù hợp hơn với nhu cầu đương thời” [125, tr 3]
Tuyên bố Bologna là bản thỏa thuận được Bộ trưởng phụ trách giáo dục đại
học của 29 nước trong và ngoài Liên hiệp Châu Âu ký kết tại Hội nghị ở Bologna
(Ý) ngày 19/6/1999. Tuyên bố này đánh dấu một bước ngoặt trong sự phát triển
của giáo dục đại học Châu Âu, nhanh chóng được hưởng ứng. Theo thống kê tại
Hội nghị Bergen (Na Uy) ngày 19-20/5/2005, đã có 40 nước xin gia nhập vào
nhóm giáo dục đại học Châu Âu và ký tên vào bản tuyên bố này. [17, tr 5]
Bahram Bekhradnia đã tiến hành nghiên cứu về “Nhận định chung về quá
trình tích lũy và chuyển đổi tín chỉ, Tuyên bố Bologna”. Báo cáo này mô tả và

tự chọn bắt đầu ở ĐH Harvard trong những năm 1880 nhằm khích thích sự tò mò,
ham học của SV. Hầu hết các trường ĐH đã đi theo con đường này của Harvard và
thay đổi chương trình được tiêu chuẩn hóa của họ thành hệ thống tự chọn” [36, tr
62]
Đồng thời với việc áp dụng đào tạo theo HTTC, các trường ĐH chuyển từ
chương trình đào tạo tiêu chuẩn hóa cho tất cả SV thành hệ thống môn học tự
chọn, hệ thống này cho phép SV được quyền quyết định chọn môn học tùy theo
thế mạnh và sự quan tâm của mình. Sự phát triển các chuyên ngành là một trong
những điểm xác định cấu trúc tổ chức của hệ thống các trường ĐH Hoa Kỳ, trong
đó, chuyên ngành là một chương trình đào tạo được kết cấu chặt chẽ trong một
lĩnh vực khoa học cụ thể gồm nhiều tín chỉ lựa chọn khác nhau.
So với Hoa Kỳ, hệ thống chuyển đổi TC ở Châu Âu là một HTTC đánh giá
việc học của SV trên cơ sở khối lượng công việc của mỗi HĐHT. ECTS không
quy định cụ thể về tổ chức đào tạo, nhưng có ý nghĩa trong việc tạo điều kiện cho
SV các nước trong khối được đổi ngành học hoặc chuyển trường dễ dàng. (Phụ lục 2)
Có thể xem việc ĐH Harvard áp dụng hệ thống chương trình tự chọn được
cấu thành bởi các môdun mà mỗi SV có thể lựa chọn là sự kiện đánh dấu điểm
mốc khai sinh HTTC. Đầu thế kỷ 20, HTTC được áp dụng rộng rãi trong các
trường ĐH của Hoa Kỳ. Sau đó, nhiều nước lần lượt áp dụng HTTC trong hệ
thống GDĐH như các nước Bắc Mỹ, các nước Châu Á như Nhật, Philipines, Thái
Lan, Malaixia, Trung Quốc.
1.1.1.2. Các nghiên cứu hoạt động học tập của sinh viên trong hệ thống tín chỉ
Tuyên bố Bologna có một trong những mục tiêu chính đề ra là thiết lập một
đơn vị tín chỉ chung để đánh giá khối lượng học tập của các giáo trình được dạy ở
các trường ĐH. Tuyên bố Bologna đưa ra hệ thống chuyển đổi TC Châu Âu
(ECTS). ECTS là hệ thống chuyển đổi TC nhằm xác định việc học tập của SV trên
9
cơ sở khối lượng công việc của mỗi HĐHT. Hệ thống này được Cộng đồng các
nước Châu Âu thành lập nhằm tạo điều kiện cho SV các nước trong khối dễ dàng
chuyển đổi trường tại nước ngoài. ECTS được thiết kế nhằm các mục tiêu:(i) Giúp

quản lý; (ii) Thích ứng cao đối với SV; (iii) SV là trung tâm và (iv) hoạt động
nghiên cứu là trung tâm. Đây là một trong những tài liệu rất có ích cho các trường
ĐH, các nhà quản lý nghiên cứu và áp dụng đào tạo theo HTTC. [ 40, tr 13]
1.1.1.3. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ
thống tín chỉ
10
Charles T Towley đã tổng kết mô hình quản lý nhà trường ở ĐH New
Mexico (Hoa Kỳ) dựa trên nguyên tắc cùng quản lý điều hành để đưa ra các quyết
định liên quan đến công tác đào tạo. Bốn vấn đề quan trọng được đề cập liên quan
đến quản lý GDĐH đó là (i) Giới khoa học cần có mức độ tự chủ cao, tự do học
thuật là điều kiện tối cần thiết đối với học giả; (ii) Tổ chức hoạt động quản lý và
đáp ứng được các nhu cầu xã hội là hết sức quan trọng; (iii) Trường ĐH cần phải
quan tâm tới đội ngũ giảng dạy, nghiên cứu và sinh viên và (iv) Cùng quản lý đảm
bảo được tính tự chủ trong các quyết định liên quan đến đào tạo. Hoạt động giảng
dạy và học tập trong trường ĐH đòi hỏi phải có sự hợp tác cùng làm việc của GV
và SV, biến quá trình dạy học thành một quá trình trao đổi giữa các cá nhân với
nhau. Hoạt động học tập của SV trong HTTC được đề cập như một hoạt động của
người cộng tác với GV, đồng thời SV cần phải tự xây dựng, khám phá mở rộng và
kiến tạo kiến thức cho bản thân. Sinh viên đến trường để học tập và trưởng thành
thông qua sự hướng dẫn của GV. [32, tr 3]
Nhiều nghiên cứu quốc tế được thực hiện trong những thập kỷ 90, thời kỳ
này có rất nhiều trường ĐH trên thế giới áp dụng HTTC. Các nghiên cứu này với
mục đích giúp cho người đọc hiểu rõ về lịch sử ra đời của HTTC tại Hoa Kỳ, định
nghĩa về HTTC, những khái niệm liên quan, cách tổ chức đào tạo theo HTTC…
cũng như hiệu quả của việc thực hiện đào tạo theo HTTC. Tuy nhiên, các nghiên
cứu này không bao gồm các thông tin liên quan đến quản lý GDĐH, quản lý nhà
trường cũng như quản lý các HĐHT của SV.
1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước
1.1.2.1. Các nghiên cứu về hệ thống tín chỉ và đào tạo theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo HTTC là một phương thức đào tạo khá mới mẻ ở Việt Nam.

điểm, nhược điểm của HTTC và kinh nghiệm áp dụng tại một số nước đang phát
triển. Phần 2 tập trung phân tích quá trình chuyển đổi quy trình đào tạo trong các
trường ĐH và CĐ từ niên chế sang HTTC. Phần 3 và 4 phân tích thực trạng của
việc triển khai đào tạo theo HTTC, các vướng mắc kiến nghị từ các trường, giải
pháp và khuyến nghị để giải quyết các vướng mắc nhằm phát triển phương thức
đào tạo này trong toàn hệ thống GDĐH.[17, tr18]
1.1.2.2. Các nghiên cứu hoạt động học tập của sinh viên trong hệ thống tín chỉ
Hoạt động học tập của SV là một vấn đề được quan tâm trong trường ĐH.
Có nhiều công trình nghiên cứu về học tập của các tác giả, các nhà nghiên cứu như
Vũ Văn Tảo " Dạy cách học", Phan Trọng Luận " Tự học - Một chìa khoá vàng
của giáo dục", Nguyễn Kỳ " Phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm".
Những công trình nghiên cứu này cũng đã khẳng định vai trò thiết yếu của HĐHT
của SV trong trường ĐH. Bản chất của hoạt động học là việc của mỗi cá nhân, của
người học trong tính cách riêng của người đó. Trong việc truyền đạt tri thức và
học tập, việc dạy một môn học hoặc kỹ năng tiếp thu được – người học vừa là chủ
thể và vừa là mục đích cuối cùng của quá trình. Cùng với sự phát triển cách mạng
khoa học và kỹ thuật, khoa học giáo dục đã chuyển từ quan điểm dạy học “lấy
người dạy làm trung tâm”, chuyển sang quan điểm “lấy người học làm trung tâm”
…. Thực chất là chuyển từ chỗ “lấy việc dạy làm trung tâm” sang “lấy việc học làm
trung tâm”. [ 79, tr 42]
Hoạt động học tập theo hệ thống niên chế được tổ chức thực hiện theo kế
hoạch chung của nhà trường, SV học tập theo thời khóa biểu và thời gian biểu cụ
12
thể, SV học tập trong một tập thể lớp cố định từ khi bắt đầu nhập học đến khi kết
thúc khóa học.
HTTC làm tăng tính mềm dẻo của chương trình đào tạo và tăng cường tính
chủ động và khả năng linh hoạt của SV trong quá trình học tập. Bất cứ kỹ năng cụ
thể và kỹ thuật hiện đại nào cũng trở nên lạc hậu rất nhanh. Vì vậy, thay vì được
đào tạo những kiến thức kỹ năng cụ thể, SV cần phải được trang bị những kiến
thức kỹ năng cơ bản của chuyên ngành, SV phải thành thạo trong các kỹ năng

liên quan đến công tác quản lý SV trong đào tạo theo HTTC. Nguyễn Quang Giao
13
bàn về những khó khăn trong công tác quản lý SV khi thực hiện đào tạo theo
HTTC. Ninh Quang Thăng tham gia hội thảo với bài “Phân định trách nhiệm trong
tác quản lý sinh viên”. Trần Văn Chính có tham luận về công tác quản lý sinh viên
trong đào tạo theo HTTC. Phương pháp học tập và quản lý học tập của SV trong
đào tạo theo HTTC được Ngô Doãn Đãi khái quát đầy đủ. Ông cho rằng phương
pháp học tập của SV phụ thuộc vào quan điểm của người thầy đối với người học
như những đối tượng đào tạo. Ông cho rằng có ba yếu tố chính để quản lý học tập
của SV: (i) Đề cương môn học của thầy; (ii) Đánh giá thường xuyên trong quá
trình đào tạo và thay đổi nội dung thi, kiểm tra và (iii) Cách đánh giá kết quả môn
học. Một số góp ý rất thiết thực để quản lý HĐHT của SV đó là (i) Không nên
quản lý việc học tập của SV bằng các biện pháp kiểm tra hành chính hoặc công tác
tư tưởng; (ii) Nên nghiên cứu kinh nghiệm của các nước phát triển, tổ chức trao
đổi rộng rãi trong đội ngũ CBQL, cán bộ giảng dạy để có những nhận thức mới, từ
đó có ý tưởng mới và (iii) Khi áp dụng kinh nghiệm của các nước cần tránh suy
nghĩ máy móc mà phải sáng tạo, tìm ra những giải pháp phù hợp với điều kiện của
Việt Nam.[22, tr 6]
Đặng Xuân Hải cũng đã có nhiều bài báo về tín chỉ như “Đào tạo theo hệ
thống tín chỉ ở Việt Nam: vấn đề và thực tiễn triển khai”; “ Về tính tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của sinh viên và giảng viên trong phương thức đào tạo theo học chế
tín chỉ”. Ông rất quan tâm đến các vấn đề thực tiễn ở Việt Nam với câu hỏi đặt ra,
khi chuyển đổi phương thức đào tạo sang học chế tín chỉ, đó là sẽ quản lý SV như
thế nào và đánh giá lao động đối với GV như thế nào. Điều này phụ thuộc vào
quan điểm về tự chủ và tự chịu trách nhiệm của người học và người dạy trong học
chế tín chỉ. Với sự đánh giá cụ thể đối với khái niệm tự chủ, tự chịu trách nhiệm
trong trường đại học, các giải pháp/ điều kiện được nêu ra để có thể thực hiện
được vấn đề trên. [48, tr 36]
Trường ĐH Xây dựng là một trong những trường ĐH đầu tiên phía Bắc
thực hiện quản lý đào tạo theo HTTC. Trường đã chủ trì triển khai đề tài nghiên

theo HTTC chưa được đề cập đến.
Quản lý HĐHT của SV là một trong những công tác trọng tâm của
trường ĐH. Đào tạo theo niên chế hay đào tạo theo HTTC thì SV vẫn là đối tượng
của hoạt động giảng dạy. Tuy vậy, trong đào tạo theo HTTC, SV đóng vai trò
trung tâm và tự họ chuyển đổi từ đối tượng thụ động sang đối tượng chủ động.
Sinh viên chủ động tự thiết kết lộ trình tích lũy kiến thức, lựa chọn chương trình
học, cách thức học phù hợp với chính mình. Vì vậy, quan điểm SV là nhân vật
trung tâm trong nhà trường càng được khẳng định. Trước đây, các trường ĐH Việt
Nam thực hiện đào tạo theo niên chế. SV được học tập theo kế hoạch do nhà
trường lập từ đầu năm học, bao gồm thời gian, môn học cố định, phương pháp
giảng dạy chủ yếu „ thầy đọc, trò chép“, hình thức tổ chức dạy học chủ yếu học
tập trung trên lớp. Do vậy, SV được quản lý theo lớp SV, công tác quản lý HĐHT
của SV được thực hiện theo các hoạt động thường xuyên, cố định theo kế hoạch
như kiểm tra nề nếp sinh hoạt, học tập, điểm danh, kiểm tra kiến thức theo bài
định kỳ Thực tế HTTC có rất nhiều đặc điểm khác biết so với niên chế, trường
ĐH linh hoạt trong việc giảng dạy, SV chủ động học tập theo tiến độ cá nhân, SV
được lựa chọn môn học phù hợp với năng lực và sở trường. Như vậy, cách quản lý
SV theo kiểu niên chế không còn phù hợp. Trường ĐH cho phép SV lựa chọn môn
học, bổ sung hoặc liên thông. Mỗi SV có kế hoạch học tập sao cho đạt được mục
15
tiêu học tập cá nhân. SV không chỉ thay đổi phương pháp học tập mà cách lập kế
hoạch học tập, thời gian học tập, kỹ năng tự học, các sinh hoạt đều phải thay đổi.
Nhiều trường ĐH còn lúng túng khi xử lý những vấn đề phát sinh trong công tác
quản lý SV nói chung, công tác quản lý HĐHT của SV nói riêng. Hệ thống văn
bản quy phạm, quy chế hướng dẫn về quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo
HTTC chưa hoàn thiện, công tác xây dựng bộ máy và hệ thống quản lý HĐHT của
SV trong HTTC chưa rõ. Nhà trường vẫn đang tiến hành quản lý SV học tập thông
qua lớp SV, trong khi SV chủ yếu học ở lớp tín chỉ. Việc SV chọn nhầm môn học,
không hiểu biết để đăng ký thi hoặc thi lại, đăng ký học không đủ số TC quy
định xảy ra thường xuyên. Điều này dẫn đến công tác quản lý HĐHT của SV

quản lý nhà trường nói riêng, quản lý hoạt động dạy học là một trong những nhiệm
vụ cơ bản bên cạnh những nhiệm vụ khác như nội dung, chương trình, phương
pháp giảng dạy, cơ sở vật chất… Đó là những hoạt động mà bất cứ nhà quản lý
giáo dục nào cũng phải thực hiện khi triển khai qui trình quản lý trong giáo dục.
Theo Bùi Minh Hiền và các tác giả: Quản lý xã hội lấy tiêu điểm là quản lý
giáo dục (giáo dục là quốc sách hàng đầu) thì quản lý giáo dục phải coi con người
là nút bấm (quản lý nhà trường làm nền tảng) và quản lý nhà trường phải lấy quản
lý việc dạy học là khâu cơ bản, việc dạy học phải xuất phát (từ) và hướng (vào)
người học. [45, tr210]
Khái niệm quản lý nhà trường dựa trên khái niệm quản lý giáo dục. Các
nghiên cứu cho thấy, quản lý nhà trường được xem xét dưới hai góc độ:
- Quản lý giáo dục ở cấp độ vĩ mô (Quản lý giáo dục) được hiểu là những
tác động tự giác (có ý thức, mục đích, có kế hoạch, có hệ thống và hợp quy luật…)
của chủ thể quản lý giáo dục đến tất cả các mắt xích của hệ thống giáo dục nhằm
thực hiện có chất lượng và hiệu quả việc tổ chức, huy động, điều phối, giám sát và
điều chỉnh, … các nguồn lực (Nhân lực, vật lực, tài lực và thông tin) để hệ thống
giáo dục vận hành đạt được mục tiêu phát triển giáo dục. Quản lý nhà trường được
hiểu theo nghĩa hoạt động của các cơ quan quản lý giáo dục như Bộ GDĐT, sở
GDĐT, … và các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương đối với một cơ
sở giáo dục cụ thể. [45, tr19]
- Quản lý giáo dục ở cấp vi mô (quản lý một cơ sở giáo dục) được hiểu là
hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống
và hợp quy luật, …) của chủ thể quản lý một cơ sở giáo dục đến độ ngũ GV, nhân
viên, người học và các lực lượng tham gia giáo dục khác trong và ngoài cơ sở giáo
dục đó, nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu đào tạo của cơ sở giáo
dục [45, tr20]
Ở cấp độ vi mô, quản lý nhà trường được hiểu theo nghĩa hoạt động của
chủ thể quản lý của một cơ sở giáo dục đối với các hoạt động giáo dục của cơ sở
giáo dục mà họ được giao trách nhiệm quản lý. Chủ thể quản lý ở đây được hiểu là
hiệu trưởng hoặc giám đốc, những người có chức vụ tương đương.

đòi hỏi phải hoàn toàn thường là 120 TC trong vòng 4 năm để có một bằng ĐH.
Điều này tương đương với 15 TC mỗi học kỳ. … Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối
lượng công việc, cả trong và ngoài lớp học. Một bài giảng tiêu biểu là 3 TC, trong
đó có 3 giờ lên lớp mỗi tuần (thường là 3 lần/ tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9
giờ làm việc ngoài lớp học (1 giờ trong lớp đòi hỏi 2-3 giờ chuẩn bị và tự học bên
ngoài lớp học). Như vậy tổng số khối lượng công việc của 1 TC là 3-4 giờ ( kết
hợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài lớp học)”. [36, tr60]
Như vậy, hệ thống tín chỉ là bảng liệt kê:(i) Số tín chỉ được quy định cho
mỗi môn học, cụ thể số giờ lên lớp học lý thuyết, thực hành cho mỗi môn học
trong 1 tuần kéo dài suốt 1 học kỳ; (ii) Số tín chỉ cần tích lũy để đạt một văn bằng;
(iii) Số lượng các môn học và phương thức tổ hợp các môn học để tích lũy số tín
chỉ cần cho một văn bằng.
Theo Eli Mazur & Phạm Thị Ly: “ở cấp độ bề mặt, hệ thống đào tạo theo
tín chỉ của Hoa Kỳ là một cơ cấu quản lý đơn giản để tính toán quá trình học tập
của SV cho đến lúc tốt nghiệp”.[39, tr64]
18
HTTC cung cấp cho các nhà quản lý một công cụ để phân tích hoạt động
của nhà trường. Nhà trường dùng đơn vị giờ tín chỉ để xây dựng các mức học phí,
phân bổ nguồn lực về cơ sở vật chất và con người, phân tích năng suất của từng cá
nhân giảng viên và của từng khoa. Đồng thời, HTTC cung cấp một thước đo cho
năng suất lao động của 1 GV. HTTC cho phép thực hiện nội dung đào tạo linh
hoạt. Sinh viên được quyền thay đổi chuyên ngành, chương trình học, chuyển từ
trường này sang trường khác thông qua hệ thống chuyển đổi tín chỉ. Sinh viên có
thể tự đo lường được tiến độ học tập của mình.
1.2.2.2. Tín chỉ
Theo O. Regel, “Tín chỉ là đơn vị mà trường ĐH dùng để đo khối lượng
học tập. Số tín chỉ của một môn học là số giờ lên lớp của một môn trong tuần cho
một học kỳ” [125, tr3]
Arthur Levine cho rằng: “Tín chỉ là một số đo định lượng theo thời gian
được gán cho các môn học hoặc các hoạt động học tập tương đương với môn

nghiệm, hoặc ba giờ tự nghiên cứu được tích lũy đánh giá và cuối môn học trong
một học kỳ.
Quy chế 43 quy định về khối lượng học tập tối thiểu mà mỗi SV phải đăng
ký trong mỗi học kỳ như sau: “(a) 14 tín chỉ cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa
học, đối với những sinh viên được xếp hạng học lực bình thường; (b) 10 tín chỉ
cho mỗi học kỳ, trừ học kỳ cuối khóa học, đối với những sinh viên đang trong thời
gian bị xếp hạng học lực yếu; và (c) Không quy định khối lượng học tập tối thiểu
đối với sinh viên ở học kỳ phụ”. Quy định về đăng ký khối lượng học tập tối đa
đối với SV đang trong thời gian bị xếp hạng học lực yếu: “SV đang trong thời gian
bị xếp hạng học lực yếu chỉ được đăng ký khối lượng học tập không quá 14 TC
cho mỗi học kỳ”.
Như vậy, SV ở các trường ĐH Việt Nam được công nhận tốt nghiệp khi
tích lũy đủ số học phần quy đinh cho chương trình đào tạo ĐH với số TC 180 TC
đối với khóa ĐH 6 năm; 150 TC đối với khóa ĐH 5 năm và 120 TC đối với khóa
ĐH 4 năm và có đủ các điều kiện thỏa mãn các yêu cầu về kết quả rèn luyện và
học tập theo quy định.
1.2.2.4. Giờ tín chỉ
Theo O. Regel,”Một tín chỉ thông thường là 50 phút trên lớp tính trong 1
tuần và kéo dài 1 học kỳ”. [125, tr3]
James Quann cho rằng: “ Các định nghĩ ban đầu về giờ tín chỉ đã cung cấp
một công thức đơn giản để xác định số giờ mà một sinh viên phải dành cho lên lớp
trong suốt một học kì 2 quí hay học kì 1 quí. Chẳng hạn trong kế hoạch một học kì
2 quí, một tiến trình giảng dạy 50 phút/ tuần trong suốt 16 tuần ( thường là 15 tuần
học và 1 tuần thi) được ấn định là một giờ tín chỉ của học kì 2 quí ” [16, tr 37]
Theo Quy chế 43, “một tiết học được tính bằng 50 phút”
Như vậy, ở Việt Nam, giờ tín chỉ tương đương với 50 phút và gọi là 1 tiết
học. Hiệu trưởng các trường ĐH quy định số tiết, số giờ đối với từng môn học cho
phù hợp.
1.3. HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1.3.1. Hoạt động học tập của sinh viên

Học tập là việc học có chủ ý, có mục đích định trước, được tiến hành bởi
một hoạt động đặc thù – hoạt động học, nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Đặc
trưng của học tập nhằm thỏa mãn một nhu cầu nhất định, được kích thích bởi động
cơ học và được thực hiện bởi một hoạt động chuyên biệt: hoạt động học với nội
dung, phương pháp và phương tiện riêng. HĐHT có thể được thực hiện theo nhiều
hình thức phong phú.
Từ quan điểm về học tập nói trên, chúng ta có thể nhận thấy đó là một hoạt
động mà chủ thể chính là người học, tri thức và kỹ năng chính là đối tượng của nó.
Việc tiếp nhận tri thức, kỹ năng được diễ ra theo cơ chế nhập tâm. Quá trình đó
21
diễn ra trên cơ sở hoạt động của hệ thần kinh, cấu trúc của nó bao gồm các giác
quan, nơ ron thần kinh và não. Mỗi bộ phận này có những chức năng khác nhau.
Nguyễn Thạc- Phạm Thành Nghị cho rằng, “Hoạt động học tập ở đại học là
một loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích
có ý thức là chuẩn bị trở thành người chuyên gia phát triển toàn diện sáng tạo và
có trình độ nghiệp vụ cao”. [84, tr 90]
Charles Towley cho rằng, SV đến trường ĐH để học tập và trưởng thành.
Trong đào tạo theo HTTC, SV và GV là những người cộng tác của nhau. Trong
mối quan hệ này, SV vừa là người cộng tác, vừa là người kiến tạo kiến thức. Sinh
viên học tập thông qua việc tạo ra những mối liên hệ, và khám phá ra những mối
liên hệ đó. Sinh viên chủ động xây dựng, khám phá, biến đổi và mở rộng kiến thức
của mình. Để khuyến khích SV thực hiện việc học tập có hiệu quả, GV cần nỗ lực
phát huy năng lực của mình. Quá trình dạy học đòi hỏi phải có sự hợp tác tốt, GV
và SV phải cùng nhau làm việc, biến quá trình đào tạo thành một quá trình trao đổi
giữa các cá nhân với nhau.[32, tr39]
Hoạt động học tập của SV là hoạt động lĩnh hội tri thức. Khi tiến hành
HĐHT, SV không chỉ tiếp nhận kiến thức chuyên ngành thụ động từ người thầy
mà họ cần chủ động trong quá trình học tập. Sinh viên tiến hành hoạt động nhận
thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở tư duy độc lập sáng tạo. HĐHT của SV
mang tính tự giác, tích cực, chủ động. HĐHT được hình thành và tổ chức một

cách có hệ thống và cụ thể về cách thức, trình tự, thời hạn tiến hành những công
việc dự định làm trong một thời gian nhất định với mục tiêu nhất định” [104,
tr624]
Kế hoạch là một tiến trình ấn định mục tiêu và xác định biện pháp tốt nhất
để thực hiện được mục tiêu đó. Thiếu kế hoạch thì con người không làm chủ được
thời gian và khó đạt được mục tiêu đã định. Do đó, lập kế hoạch giúp chúng ta có
mục tiêu rõ ràng, có các biện pháp phù hợp để thực hiện mục tiêu đó một cách tốt
nhất.
Việc lập kế hoạch học tập là xây dựng một thời gian biểu cụ thể, hợp lý để
đạt được kết quả học tập trong khoảng thời gian nhất định. Mỗi sinh viên, tùy theo
hoàn cảnh và nhu cầu của mình, có một kế hoạch học tập riêng, có thể thay đổi khi
cần, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ kế hoạch đã đặt ra.
Đào tạo theo HTTC cho phép SV học theo nhịp độ cá nhân, phù hợp với
điều kiện thực tế. Thay vì SV học tập theo kế hoạch năm học cố định của nhà
trường như trong đào tạo theo niên chế, SV có thể học theo tiến độ, kết quả học
tập là khối lượng kiến thức được tích lũy và tính theo số lượng tín chỉ. Vì vậy,
trong đào tạo theo HTTC, kế hoạch học tập của SV là một phần quan trọng quyết
định quá trình và kết quả học tập của SV cũng như giúp SV đạt được mục tiêu học
tập của mình. Xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập là công việc cần thiết đối
với SV trong quá trình học tập trong trường đại học. Nhờ có kế hoạch học tập mà
SV có thể xác định mục tiêu học tập của mình ngay từ đầu, chủ động trong việc
đăng ký thời gian cho các môn học bắt buộc, lựa chọn các môn học tự chọn theo
đúng quy định. Học tập và làm việc theo kế hoạch giúp SV biết cách phân phối
thời gian một cách hợp lý để việc học đạt hiệu quả tối đa.
1.3.4. Phương pháp học tập
23
Phương pháp là một thành tố quan trọng của quá trình hoạt động. Mục đích
và nội dung hoạt động được xác định thì phương pháp hoạt động đóng vai trò
quyết định đến chất lượng hoạt động. Đecacto R (1596-1650), một đại diện của
triết học Pháp thế kỷ XVII đã nói: “Không có phương pháp người tài cũng mắc

chủ đề, có tính chất lập luận, tổng hợp. Giảng viên hướng dẫn SV cách tìm kiếm,
nắm bắt thông tin liên quan đến môn học. Sinh viên có thể tìm tư liệu, thông tin hỗ
trợ cho học tập thông qua nhiều nguôn như mạng internet, các hoạt động ngoại
khóa, các bài thực hành thí nghiệm trong phòng thí nghiệm hoặc các cơ sở thực
24
tập. Đây chính là dạy cách học cho SV, thúc đẩy SV học tập chủ động để chiếm
lĩnh tri thức.
1.3.5. Phương tiện và hình thức học tập
Phương tiện dạy học là tập hợp những đối tượng vật chất kỹ thuật và sản
phẩm của khoa học công nghệ được huy động vào quá trình dạy học, được GV sử
dụng để điều khiển hoạt động nhận thức của SV. Đồng thời, phương tiện dạy học
được xem là một thành tố trong cấu trúc của quá trình dạy học. Nếu tiếp cận cấu
trúc hoạt động dạy học trên cơ sở mối quan hệ biện chứng của cặp phạm trù mục
đích và phương tiện thì các phương tiện chủ yếu để thực hiện mục đích dạy học
(theo nghĩa rộng: không chỉ là vật chất, kỹ thuật dạy học mà còn có cả các điều
kiện chung về yếu tố con người, thông tin và xã hội). (35, tr 117)
Đối với SV, phương tiện học tập là giúp họ lĩnh hội tri thức, rèn luyện kỹ
năng, kỹ xảo. Các phương tiện học tập gồm các dụng cụ thí nghiệm, tài liệu, máy
tính, máy chiếu… Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến hệ thống thông tin dạy học
và môi trường dạy học cũng như các yếu tố khách quan có tác động đến mục tiêu
phát triển nhà trường cũng chính là phương tiện học tập của SV. Khoa học kỹ
thuật ngày càng phát triển thì phương tiện học tập càng hiện đại, góp phần nâng
cao hiệu quả học tập của SV.
HTTC yêu cầu phương tiện học tập đa dạng, phong phú. Với đặc điểm
mang tính chủ động và linh hoạt cao trong quá trình học tập, SV cần có phương
tiện liên lạc với nhà trường một cách nhanh chóng và thông suốt thông qua hệ
thống mạng internet hiện đại và máy tính nối mạng. SV có thế ngồi bất cứ đâu để
đăng ký học, thi và nhận được ngay thông tin phản hồi.
Theo Nguyễn Phúc Châu, hình thức tổ chức dạy học là các tổ chức quá
trình dạy học phù hợp với mục đích, nội dung, chương trình nhằm đạt tới chất


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status