tóm tắt luận án quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường đại học việt nam - Pdf 22

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xuất phát từ quan điểm xem SV là trung tâm của quá trình đào tạo, đòi hỏi quy
trình tổ chức đào tạo sao cho mỗi SV có thể tìm được cách học thích hợp nhất của mình.
Các nhà giáo dục Bắc Mỹ đã quan tâm tìm phương pháp giáo dục mới dựa trên cơ sở
tiếp cận " lấy học sinh làm trung tâm" với mong muốn phát huy năng lực sáng tạo của
SV. Hiểu rõ xu thế này, Hiệu trưởng Eliot là người khởi xướng hệ thống học tự chọn tại
trường ĐH Harvard vào năm 1872. Ông quyết định thay thế hệ thống bài giảng cố định
theo phương thức truyền thống bằng rất nhiều lựa chọn cho SV. Kết quả của việc được
học tập theo phương thức tự chọn chính là mô hình đào tạo theo HTTC. Hệ thống
chuyển đổi tín chỉ Châu Âu ( ECTS) ra đời muộn hơn HTTC Hoa Kỳ (năm 1999).
Quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH với chương trình linh hoạt được
cấu thành bởi các modun mà mỗi SV có thể tự lựa chọn để theo học là một trong những
yêu cầu cần thiết trong nhà trường. Do có nhiều ưu thế và phù hợp với yêu cầu của XH
phát triển, HTTC tiếp tục được phát triển và lan rộng trên khắp thế giới. Điều này có ảnh
hưởng sâu sắc đến GDĐH Việt Nam sau những năm đổi mới.
Cho đến hiện nay, các nghiên cứu quốc tế để áp dụng HTTC trong các trường ĐH
mới chỉ tập trung phân tích lịch sử phát triển của HTTC, đặc điểm của hệ thống, sự thích
hợp đối với các nước đang phát triển như: “ Tín chỉ và văn bằng” của Arthur Levin, “Hệ
thống tín chỉ học tập theo mô hình Mỹ” của Barbara Burn, “Hệ thống tín chỉ học tập
trong GDĐH – tính hiệu quả và sự thích hợp ở các nước đang phát triển ” của Ompron
Regel.
Tính đến hết năm 2011, có 50 trường ĐH Việt Nam đang thực hiện đào tạo theo
HTTC. Qua khảo sát, mới chỉ có 25 trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC có SVTN.
Công tác quản lý hoạt động dạy học theo HTTC nói chung và HĐHT của SV nói riêng
còn gặp nhiều trở ngại do các trường đang trong quá trình chuyển đổi đào tạo theo
HTTC và đặc điểm của đào tạo niên chế khác với theo HTTC. Chuyển đổi đào tạo sang
HTTC, GDĐH Việt Nam cần có những nghiên cứu phân tích tổng kết kinh nghiệm của
các nước thực hiện đào tạo theo HTTC, thực tiễn áp dụng vào Việt Nam. Nhiều nhà
khoa học đã nghiên cứu về HTTC, về công tác quản lý sinh viên trong HTTC như
Nguyễn Kim Dung với “Đào tạo heo HTTC; Kinh nghiệm thế giới và thực tế ở Việt

HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
- Đề xuất các giải pháp quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
- Khảo nghiệm và thực nghiệm một vài giải pháp quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở
một số trường ĐH để kiểm nghiệm tính tác dụng và hiệu quả của GP.
6. Phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu công tác quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH theo cách tiếp
cận chức năng quản lý.
- Địa bàn khảo sát nghiên cứu: Một số trường ĐH Việt Nam đang thực hiện đào tạo theo
HTTC, trường ĐH Bách Khoa Thành phố Hồ Chí Minh, trường ĐH Cần Thơ, trường
ĐH Xây dựng, trường ĐH Thăng Long, trường ĐH Vinh.
- Đối tượng khảo sát: CBQL đào tạo, GV, CBQL sinh viên, SV của một số trường đang
thực hiện HTTC.
Thời gian nghiên cứu: Năm 2010-2013.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Đề tài áp dụng một số Phương pháp luận tiếp cận nghiên cứu
(i)Tiếp cận theo lịch sử - logic;
(ii)Tiếp cận phân tích – tổng hợp;
(iii) Tiếp cận mục tiêu;
(iv) Tiếp cận hệ thống.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu
7.2.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, Nhà nước, các chỉ thị, nghị quyết của ngành Giáo
dục và đào tạo, các ngành khác và các công trình nghiên cứu, các tài liệu khoa học có
liên quan đến vấn đề nghiên cứu;
- Phân tích, tổng hợp các tài liệu, các công trình nghiên cứu về công tác quản lý nhà
trường, hoạt động dạy và học trong trường đại học…. Từ đó, xây dựng cơ sở lý luận của
vấn đề nghiên cứu.
7.2.2. Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Tiến hành phân tích, đáng giá thực trạng hệ thống GDĐH Việt Nam.
- Điều tra bằng phiếu khảo sát thực trạng HĐHT của SV, thực trạng quản lý HĐHT của

kinh tế - xã hội.
9. Những đóng góp mới của luận án
- Đề tài: Quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ ở trường
đại học Việt Nam là đề tài có nội dung nghiên cứu mang tính cần thiết, đặc biệt
trong xu thế đổi mới căn bản GDĐH Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế hiện
nay và phù hợp với chuyên ngành đào tạo.
Về mặt lý luận
- Luận án đã phân tích được sự cần thiết, tính phù hợp của việc áp dụng quy trình đào
tạo mới theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam trong bối cảnh hiện nay của đất nước;
đặc điểm, yêu cầu của HĐHT của SV theo HTTC; vị trí, vai trò của công tác quản lý
HĐHT của SV ở trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC.
- Luận án xây dựng bổ sung và làm phong phú cơ sở lý luận cho GDĐH, hệ thống hóa
các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến quá trình hình thành và áp dụng đào
tạo theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam, đã đề ra được 5 giải pháp quản lý HĐHT
của SV trong đào tạo theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
Về mặt thực tiễn
- Luận án trình bày có hệ thống, khách quan và toàn diện về quá trình phát triển của
GDĐH Việt Nam sau thời kỳ đổi mới gắn liền với yêu cầu đổi mới quy trình đào tạo
từ niên chế sang HTTC.
- Kết quả nghiên cứu của luận án là cơ sở để đổi mới công tác quản lý dạy học nói
chung và hoàn thiện công tác quản lý HĐHT của SV trong quy trình đào tạo mới
theo HTTC ở các trường ĐH Việt Nam.
- Vận dụng vào quá trình đổi mới quản lý nhà trường, hoạt động dạy học, đặc biệt đối
với công tác quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
10.Cấu trúc của luận án
Ngoài Phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận án được kết cấu
thành 3 chương.
3
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM QUỐC TẾ VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

giáo dục", Nguyễn Kỳ " Phương pháp giáo dục lấy người học làm trung tâm".
- Eli Mazur & Phạm Thị Ly đã thực hiện một nghiên cứu so sánh hệ thống HTTC Hoa
Kỳ và gợi ý hướng đi cho GDĐH Việt Nam.
- Lâm Quang Thiệp báo cáo khoa học “Về phương pháp dạy, học và đánh giá kết quả
học tập trong học chế tín chỉ ” đã làm sáng rõ bản chất của tín chỉ là cá thế hóa việc học
tập trong một nền GDĐH cho số đông. Các triết lý làm nền tảng cho HTTC là “giáo dục
hướng về người học” và “giáo dục đại học đại chúng”.
1.1.2.3. Các nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống
tín chỉ
- Ban Liên lạc các trường ĐH và CĐ Việt Nam đã tổ chức Hội thảo khoa học năm 2008
về “ Quản lý sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”.
4
- Đặng Xuân Hải cũng đã có nhiều bài báo về tín chỉ như “Đào tạo theo hệ thống tín chỉ
ở Việt Nam: vấn đề và thực tiễn triển khai”; “ Về tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
sinh viên và giảng viên trong phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ”.
1.1.3. Các nội dung cần tiếp tục nghiên cứu để áp dụng tại các trường ĐHVN
Một số các tài liệu về đào tạo theo HTTC Hoa Kỳ và Hệ thống chuyển đổi tín chỉ
Châu Âu chủ yếu về lịch sử ra đời của HTTC đáp ứng mục đích ban đầu trước yêu cầu
thay đổi của nền kinh tế xã hội thời bấy giờ. Tuy nhiên, các nghiên cứu này đề cập đến
các vấn đề về quản lý đào tạo, như hệ thống tự chọn các môn học, việc thực hiện
chương trình đào tạo chuyên ngành, đề cương môn học… Các nội dung về quản lý hoạt
động giảng dạy và học tập theo HTTC chưa được đề cập đến.
Quản lý HĐHT của SV là một trong những công tác trọng tâm của trường ĐH.
Thực tế HTTC có rất nhiều đặc điểm khác biệt so với niên chế, trường ĐH linh hoạt
trong việc giảng dạy, SV chủ động học tập theo tiến độ cá nhân, SV được lựa chọn môn
học phù hợp với năng lực và sở trường. Nhiều trường ĐH còn lúng túng khi xử lý những
vấn đề phát sinh trong công tác HĐHT của SV nói riêng. Hệ thống văn bản quy phạm,
quy chế hướng dẫn về quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC chưa hoàn thiện,
bộ máy và hệ thống quản lý HĐHT của SV trong HTTC chưa rõ. Nhà trường vẫn đang
tiến hành quản lý SV học tập thông qua lớp SV, trong khi SV chủ yếu học ở lớp tín chỉ.

người học [45, tr210]
Theo Trần Kiểm, Quản lý nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi
người trong hệ thống xã hội, là quy định, chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng
vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ
chức xã hội. [64, tr259]
1.2.2. Hệ thống tín chỉ
Cary J. Trexler cho rằng: “Hệ thống tín chỉ trong các trường ĐH Hoa Kỳ đòi hỏi
phải hoàn toàn thường là 120 TC trong vòng 4 năm để có một bằng ĐH. Điều này tương
đương với 15 TC mỗi học kỳ. … Tín chỉ phản ánh toàn bộ khối lượng công việc, cả
trong và ngoài lớp học. Một bài giảng tiêu biểu là 3 TC, trong đó có 3 giờ lên lớp mỗi
tuần (thường là 3 lần/ tuần, mỗi lần 50 phút), cùng với 6-9 giờ làm việc ngoài lớp học (1
giờ trong lớp đòi hỏi 2-3 giờ chuẩn bị và tự học bên ngoài lớp học). Như vậy tổng số
khối lượng công việc của 1 TC là 3-4 giờ ( kết hợp cả giờ lên lớp và giờ làm việc ngoài
lớp học)”. [36, tr60]
Theo O. Regel, tín chỉ là đơn vị mà trường ĐH dùng để đo khối lượng học tập.
Số tín chỉ của một môn học là số giờ lên lớp của một môn trong tuần cho một học kỳ.
Một tín chỉ thông thường là 50 phút trên lớp tính trong một tuần và kéo dài trong một
học kỳ. [125, tr3]
C. James Quann cho rằng, tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ phần thời
gian bắt buộc của một SV bình thường để học một giáo trình cụ thể. Thời gian toàn phần
gồm 3 thành tố: (i) thời gian lên lớp; (ii) thời gian ở phòng thí nghiệm, studio, thực tập
hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; (iii) và thời gian dành cho
đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài” [16, tr37]
1.3. HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
1.3.1. Hoạt động học tập của sinh viên
Theo Phan Trọng Ngọ, học là quá trình tương tác giữa cá thể với môi trường, kết
quả là dẫn đến sự biến đổi bền vững về nhận thức, thái độ hay hành vi của cá thể đó.
[77,tr15]
Nguyễn Thạc- Phạm Thành Nghị cho rằng, “Hoạt động học tập ở đại học là một
loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của SV nhằm mục đích có ý thức

Theo Nguyễn Phúc Châu, hình thức tổ chức dạy học là các tổ chức quá trình dạy
học phù hợp với mục đích, nội dung, chương trình nhằm đạt tới chất lượng và hiệu quả
dạy học cao.
Hình thức học tập được xác định tùy thuộc vào những mối quan hệ của các yếu tố
cơ bản như: (i) dạy học có tính chất tập thể hay cá nhân; (ii) Mức đội hoạt động độc lập
của HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng; (iii) Phương thức hướng dẫn, tổ
chức và điều khiển HĐHT của SV; và (iv) địa điểm thời gian học tập.
1.3.6. Đặc điểm hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
1.3.6.1. Nội dung học tập: Đối với đào tạo theo tín chỉ, SV chủ động lựa chọn môn học,
số lượng môn học phù hợp với điều kiện của cá nhân. Khối lượng kiến thức được phân
chia thành các mô đun, tính bằng tín chỉ. Sinh viên hoàn thành số tín chỉ quy định được
công nhận tích lũy được kiến thức.
1.3.6.2. Phương pháp, phương tiện và hình thức học tập: Khi chuyển sang học tập
theo HTTC, thời gian trên lớp nghe giảng ít, GV chủ yếu giới thiệu nội dung chính của
môn học, SV được yêu cầu học tập theo nhóm, thảo luận theo chủ đề. SV phải chủ động
trong việc tìm kiếm kiến thức liên quan đến môn học thông qua nhiều nguồn, tham khảo
sách báo ở thư viện, thông qua internet, tìm hiểu thực tiễn bằng các chuyến đi thực tế.
1.3.6.3. Thời gian học tập: Khi chuyển sang hình thức đào tạo theo HTTC, thời gian
học trên lớp của SV ít hơn, cách tính khối lượng học tập của SV rõ ràng hơn, một tiết
lên lớp sẽ có hai tiết chuẩn bị bài. SV cần tích lũy đủ số tín chỉ, khoảng từ 120 -140 tín
chỉ, để tốt nghiệp.
1.3.6.4. Kế hoạch học tập: Do được tự chọn môn học và thời gian học tập, SV cần xây
dựng kế hoạch học tập cá nhân phù hợp với kế hoạch đào tạo chung của nhà trường và
đáp ứng yêu cầu của bản thân về năng lực và điều kiện. Kế hoạch học tập cá nhân bao
gồm mục tiêu học tập, danh sách các môn học, thời gian học tập và kế hoạch tự đánh giá
việc học để điều chỉnh HĐHT nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.4. QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN
CHỈ
1.4.1. Quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Quản lý HĐHT của SV là một trong những nội dung của công tác quản lý giáo

tạo, giáo viên chủ nhiệm và lớp sinh viên. Điểm khác của đào tạo theo HTTC so với đào
tạo theo niên chế học phần đó là chính là hệ thống CVHT. Hệ thống CVHT thường
được tổ chức ở trường ĐH gắn với các ngành đào tạo. Hệ thống CVHT giúp đỡ SV biết
cách xây dựng kế hoạch học tập phù hợp với mục tiêu đào tạo của trường ĐH và mục
tiêu học tập cá nhân, giúp SV trở thành những người học tự định hướng thông qua việc
dạy cho họ biết cách xây dựng kế hoạch học tập hướng đến niềm đam mê học thuật,
nghề nghiệp và khát vọng cá nhân.
1.4.3.2. Công cụ pháp lý
Quản lý HĐHT của SV trong HTTC phải tuân thủ đúng các chủ trương chính
sách của Đảng, Chính phủ, cụ thể là Luật Giáo dục và GDĐH, các văn bản dưới luật của
Nhà nước, các quy chế, chính sách GDĐH và các quy định hiện hành của mỗi trường
ĐH.
1.4.4. Lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
1.4.4.1. Chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ
Lãnh đạo được miêu tả là “một quá trình ảnh hưởng xã hội cái mà một người có
thể tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người khác nhằm đạt được thành công cho
một mục tiêu chung". Trong quản lý giáo dục, chức năng lãnh đạo được thể hiện tập
trung ở lao động chủ thể của các chủ thể quản lý trong bộ máy quản lý giáo dục các cấp
và ở lao động đứng đầu của trường ĐH.
-Chủ thể quản lý chỉ đạo HĐHT của SV được tổ chức giờ lên lớp để quản lý thông qua
lớp SV (lớp sinh hoạt) và lớp học phần (lớp tín chỉ); Chỉ đạo hoạt động tự học của SV
ngoài giờ trên lớp thông qua quản lý các hoạt động được tổ chức linh hoạt và đa dạng.
1.4.4.2. Phát triển chương trình và cung cấp tài liệu phục vụ cho hoạt động học tập
của sinh viên
8
-Chủ thể quản lý chỉ đạo phát triển chương trình và tài liệu phục vụ cho HĐHT của SV
phù hợp với phương thức đào tạo theo HTTC.
1.4.4.3. Chỉ đạo việc phối hợp các lực lượng giáo dục và đoàn thể xã hội trong quản
lý hoạt động học tập của sinh viên
- Chủ thể quản lý chỉ đạo việc phối hợp các lực lượng giáo dục và đoàn thể XH trong

tạo theo HTTC. Mặc dù khoa đào tạo vẫn chịu trách nhiệm quản lý chung đối với các
hoạt động dạy học, rèn luyện, tuy nhiên, khoa gặp khó khăn trong công tác quản lý bởi
sự phân tán SV trong rất nhiều lớp tín chỉ với nhiều lịch học khác nhau. Công tác giáo
viên chủ nhiệm thực hiện các nhiệm vụ tổ chức quản lý lớp không được sâu sát tới các
cá nhân SV. Giảng viên quản lý sự có mặt của SV trên lớp thông qua công tác điểm
danh, đồng thời theo dõi tinh thần thái độ học tập thông qua sự tham gia phát biểu ý
kiến. Vì vậy, bộ máy quản lý SV cần được đổi mới bởi:
- Việc tổ chức, quản lý các công tác đoàn thể, các hoạt động xã hội gặp khó khăn về
việc sắp xếp thời gian.
- Sự gắn bó giữa các thành viên trong lớp bị suy giảm do các thành viên ít có cơ hội
sinh hoạt chung.
9
- Việc tổ chức xem xét khen thưởng, kỷ luật sẽ không chính xác, mang năng tính hình
thức do các thành viên không có cơ hội học tập và làm việc với nhau.
1.5.2. Yếu tố chủ quan
1.5.2.1. Năng lực của cấp quản lý của các chủ thể quản lý
Áp dụng theo HTTC làm thay đổi cơ bản phương thức đào tạo trong trường ĐH.
Công tác quản lý cần được thay đổi từ khâu xây dựng kế hoạch đến tổ chức chỉ đạo thực
hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá. Áp dụng HTTC bắt buộc CBQL phải trau dồi tri
thức chuyên môn, nâng cao năng lực quản lý.
1.5.2.2. Kinh nghiệm quản lý của các chủ thể quản lý
Các chủ thể quản lý hầu như chưa có kinh nghiệm quản lý khi áp dụng HTTC. Ở
các trường ĐH Việt Nam, HTTC mới được thực hiện nhiều bắt đầu từ năm 2007. Đội
ngũ CBQL ở các trường ĐH chủ yếu học kinh nghiệm từ các trường ĐH đã thực hiện
HTTC trên thế giới thông qua các nghiên cứu cụ thể về HTTC được giới thiệu tại các
hội thảo tập huấn. Một số ít CBQL được cử đi học tập ở nước ngoài về mô hình đào tạo
theo HTTC và chia sẻ nghiên cứu với đồng nghiệp.
1.5.2.3. Tính tự chủ và chịu trách nhiệm của sinh viên học tập theo hệ thống tín chỉ
Đào tạo theo HTTC yêu cầu SV phải tăng cường tính tự chủ trong học tập. Sinh
viên chủ động lập kế hoạch học tập, triển khai kế hoạch học tập để đạt được kết quả cao

Với quan điểm cần đưa những môn học bắt buộc vào giảng dạy trong trường ĐH,
thì HTTC tại Trung Quốc vẫn chỉ đơn giản thay đổi một số thời lượng môn học trên cơ
sở của chương trình giảng dạy theo kế hoạch cũ. Ở Trung Quốc, trong lúc có nhiều
trường ĐH yêu cầu những môn tự chọn với tỷ lệ bắt buộc/ tự chọn từ 9/1 đến 6/4, thì
cũng có một số trường đại học khác đào tạo theo một phần kế hoạch: hai năm đầu theo
kế hoạch, hai năm sau theo HTTC. Hệ thống tín chỉ chỉ có ý nghĩa khi xem nó như là
phương tiện để quản lý giờ dạy học.
1.6.4. Kinh nghiệm của Ấn Độ
Ấn Độ là một quốc gia phát triển, do sự tiến bộ công nghệ nhanh chóng nên nước
này phải đối mặt với yêu cầu đa dạng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Các Học viện
công nghệ Ấn Độ và một số trường đại học kỹ thuật đã chấp nhận HTTC cho cả quá
trình đào tạo ĐH và sau ĐH. Tại Ấn Độ, HTTC không giống với mô hình của Hoa Kỳ
hay Châu Âu. Phần lớn các trường ĐH kỹ thuật ở Ấn Độ giảng dạy các môn học liên
tục, có một ít sự lựa chọn cho SV, và giảng dạy theo thời khóa biểu năm học. Sinh viên
thi hỏng một môn học trong một học kỳ phải chờ đến năm tiếp theo để học và thi lại.
1.6.5. Những kinh nghiệm cần nghiên cứu chọn lọc để sử dụng
Công tác quản lý HĐHT của SV là một trong những công tác quan trọng trong
trường ĐH. Để áp dụng HTTC thành công, công tác quản lý nhà trường nói chung, quản
lý HĐHT của SV nói riêng cần được nghiên cứu đề đưa ra các giải pháp quản lý phù
hợp với các đặc điểm của hệ thống này, bao gồm những thuận lợi, trở ngại khi áp dụng
vào thực tiễn GDĐH Việt Nam.
Các nghiên cứu về đào tạo theo HTTC ở nước ngoài chủ yếu tập trung vào quy
trình đào tạo, tính ưu việt và sự phù hợp của hệ thống đối với xã hội phát triển. Các
nước Châu Âu và Bắc Mỹ quản lý hoạt động giảng dạy của GV bằng thước đo sự hài
lòng của SV đối với GV, bằng chất lượng của SV thông qua sự hài lòng của các nhà
tuyển dụng lao động. Tương tự như vậy, HĐHT của SV được quản lý bằng cách thông
qua số lượng tín chỉ tích lũy được và biến kiến thức đã học được thành năng lực của cá
nhân. Để đạt được điều này, yêu cầu SV có tính tự giác cao, phải tự ý thức được việc
học là cần thiết cho chính bản thân mình.
Để làm tốt công tác quản lý HĐHT của SV trong trường ĐH, HTTC có các yếu

nghiệp phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao trí tuệ của dân tộc, tiếp cận trình độ tiên
tiến trong khu vực và trên thế giới, nâng một số trường ĐH lên đẳng cấp quốc tế, góp
phần nâng cao sức cạnh tranh của nguồn nhân lực và nền kinh tế đất nước.
2.2.2. Những kết quả đạt được và thách thức trong quá trình đổi mới giáo dục đại
học Việt Nam trong thập niên của thế kỷ
Đổi mới GDĐH Việt Nam nhằm đáp ứng các yêu cầu lớn về cung cấp nguồn
nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu
cầu học tập của nhân dân. Chúng ta phấn đấu đến năm 2020, GDĐH Việt Nam đạt trình
độ tiên tiến trong khu vực và quốc tế.
Năm 2012, đã có 207 trường ĐH công lập và ngoài công lập, đáp ứng được
lượng SV tốt nghiệp hơn 1.400 triệu.
Những thách thức: (i) Đối với hệ thống là sự đòi hỏi tăng nhanh số lượng người
được đào tạo bậc ĐH có chất lượng thỏa mãn thị trường lao động kỹ thuật cao, trước bối
cảnh khoa học công nghệ phát triển và thay đổi nhanh chóng;(ii) Đối với trường ĐH
chính là mục tiêu đào tạo của nhà trường và sự đáp ứng đối với nhu cầu của xã hội.
2.3. QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN TỔ CHỨC ĐÀO TẠO THEO
HƯỚNG CHUYỂN ĐỔI THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ Ở VIỆT NAM
2.3.1. Quá trình hình thành tổ chức đào tạo theo hướng chuyển đổi theo hệ thống
tín chỉ ở Việt Nam
Trước 1975, các trường ĐH miền Bắc đào tạo theo kế hoạch hóa tập trung.
Chương trình đào tạo theo niên chế, SV học các môn cố định được quy định theo từng
12
học kỳ. Nhà nước phân bổ kế hoạch chỉ tiêu đào tạo, SV ra trường được phân bổ về các
địa phương. Các trường ĐH miền Nam chịu ảnh hưởng của nền giáo dục Hoa Kỳ. Viện
ĐH Thủ Đức, Viện ĐH Cần Thơ đã từng áp dụng HTTC.
Năm 1988, Bộ GD-ĐT đã ban hành quyết định số 1670/ĐH ngày 8/12/1988 kèm
theo quy chế tạm thời về thi, kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của hệ đại học dài hạn
tập trung, làm cơ sở cho việc triển khai quy trình đào tạo mới.
Năm 1995, Bộ GD-ĐT đã quyết định số 3968/GD-ĐT ngày 14/10/1995 về việc
ban hành quy chế Tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi và công nhận tốt nghiệp cho các hệ đào

phương pháp học tập, lấy tự học là chính. Sinh viên tiến hành HĐHT của mình theo kế
hoạch học tập đã được xây dựng, và theo đề cương bài giảng của GV. Tổ chức đào tạo
theo HTTC thể hiện cá nhân hóa người học. SV chủ động xây dựng kế hoạch học tập
phù hợp với điều kiện cá nhân. Sinh viên giỏi có thể học nhanh hơn, đồng nghĩa với
tích lũy số lượng tính chỉ quy định sớm hơn để có thể tốt nghiệp ĐH trước thời gian
quy định.
2.3.3.3. Kết quả học tập các học phần của SV được đánh giá theo quá trình, bao gồm
điểm chuyên cần, điểm giữa kỳ và điểm thi kết thúc học phần.
2.3.4. Thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ ở một số trường đại học khảo sát
13
Để tìm hiểu thực trạng công tác quản lý HĐHT của SV, chúng tôi đã phát 650
phiếu hỏi ý kiến SV, CBQL và GV ở 5 trường ĐH: Xây dựng, Thăng Long, Bách Khoa
TP HCM, Cần Thơ và Vinh, thu về được 630 phiếu.
Đối tượng khảo sát đa dạng, bao gồm CBQL cấp trường, cấp khoa, tổ chuyên
môn, GV ở các độ tuổi khác nhau, có thâm niên quản lý và giảng dạy nhất định nên các
ý kiến của họ đã phản ánh được thực trạng về nhận thức, về công tác quản lý HĐHT của
SV, về tác dụng, hiệu quả của công tác quản lý HĐHT của SV.
2.4. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ
2.4.1. Thực trạng về động cơ học tập của sinh viên
- Có 95,5% SV và 99,1% CBQL-GV cho rằng: Việc học tập của SV xuất phát từ mong
muốn đạt thành tích và kết quả cao trong học tập nhằm có cơ hội kiếm việc làm tốt.
- Có 91,5 % SV cho rằng: Việc học tập của mình xuất phát từ ham học, khát vọng tìm
tòi chiếm lĩnh tri thức, gần giống với nhận định của 87,4% CBQL-GV.
2.4.2. Thực trạng về lập kế hoạch và thực hiện kế hoạch học tập của sinh viên
Biều đồ2.1. Tỷ lệ sinh viên lập kế hoạch học tập.
2.4.3. Thực trạng về phương pháp học tập của sinh viên
Bảng 2.11.Thực trạng về phương pháp học tập của SV.
Bảng 2.11. cho thấy SV học nhóm và người học trình bày đạt tỷ lệ cao ở mức độ
rất tốt 50%, tiếp đến phương pháp làm bài tập nghiên cứu và tiểu luận – 48%, tự học và
làm bài tập ở nhà đạt 42,50%. Các phương pháp học tập chủ động này đạt ở mức rất tốt

mức độ thường xuyên chiếm 34,5%, và ở mức độ thường xuyên chiếm 74%, số còn lại
cho rằng không thường xuyên chiếm 26%. Mức độ tiếp xúc và nhận sự hướng dẫn của
CVHT ở mức độ không thường xuyên tương đối cao.
Sinh viên Nguyễn Thị Quý, lớp 49K, Khoa Hóa, Trường ĐH Vinh: “Em thi trượt
môn Kiểm tra chất lượng an toàn thực phẩm năm ngoái (2011). Tháng 9 năm nay
(2012), nhà trường tổ chức học lại môn này nhưng em không biết. Đây là lần cuối cùng
lớp được tổ chức để học lại môn này (Năm sau, môn này sẽ không được giảng dạy nữa).
Do không có người hướng dẫn, nên em đã không biết để đăng ký . Vì vậy, em đã không
được học lần này. Em phải chờ đến sang năm mới có lớp tiếp theo. Em sẽ phải ra
trường muộn hơn các bạn nửa năm. Thật đáng tiếc”.
2.5.2. Tổ chức bộ máy quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Bảng2.17. So sánh ý kiến của CBQL-GV và SV về các quy chế, quy định đối với công
tác quản lý HĐHT của sinh viên.
Mức độ hợp lý
Ý kiến SV Ý kiến CBQL + GV
Số lượng Tỷ lệ (%) Số lượng Tỷ lệ (%)
Hợp lý 78 39 76 17.67
Tương đối hợp lý 105 52.5 322 74.88
Chưa hợp lý 17 8.5 32 7.44
Tổng cộng (%) 200 100 430 100
2.5.3. Thực trạng lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín
chỉ
Ở trên lớp, SV được quản lý thông qua việc đánh giá chuyên cần, thái độ và các
hình thức kiểm tra kết quả học tập. Giảng viên dạy từng lớp học phần đều được phòng
Đào tạo cung cấp danh sách lớp hoặc có thể lấy danh sách lớp từ hệ thống phần mềm
của trường. Thực tế cho thấy,
Công tác quản lý HĐHT của SV ngoài giờ lên lớp đều chưa đạt được mức độ tốt
nhất. Có 28,60% SV cho rằng mức độ đạt được tốt nhất đối với hình thức học nhóm với
các bạn trao đổi về nội dung bài giảng, 29,77% SV cho rằng ngoài giờ lên lớp họ dành
thời gian để tìm tài liệu liên quan đến bài giảng.

STT Mức độ đánh giá Số lượng (người) Cơ cấu (%)
1 Rất tốt 123 28.60
2 Tương đối tốt 282 65.58
3 Chưa tốt 25 5.81
Tổng cộng 430 100.00
Bảng2.25. Ý kiến của CBQL-GV về hoạt động của hệ thống cố vấn học tập
STT
Mức độ đánh giá
Số lượng (người)
Cơ cấu (%)
1
Rất tốt
127
29.53
2
Tương đối tốt
280
65.12
3
Chưa tốt
23
5.35

Tổng cộng
430
100.00
16
Bảng 2.26. Ý kiến của CBQL-GV về sự phối hợp của các đơn vị chức năng
STT
Mức độ đánh giá

(ii) Việc theo dõi và xét kết quả rèn luyện của SV cũng là một vấn đề chưa có lời giải do
SV sinh hoạt tại hai lớp (khóa học và học phần).
(iii) Đào tạo theo HTTC dẫn đến SV có nhiều thời gian ngoài giờ lên lớp.
(iv) Hoạt động của Đoàn thanh niên và Hội sinh viên cũng gặp nhiều trở ngại.
2.5.5.3. Nguyên nhân
Một là, Nhận thức của CBQL về quy trình quản lý mới chưa được đầy đủ, GV chưa
được trang bị các kiến thức về đào tạo theo HTTC, SV chưa quen với phương thức học tập
chủ động.
Hai là, Bộ máy và hệ thống quản lý HĐHT của SV phù hợp theo phương thức đào tạo
theo niên chế.
Ba là, Các quy chế hướng dẫn công tác quản lý đào tạo và công tác SV được ban hành
thực hiện theo niên chế.
Bốn là, Để đảm bảo SV tích lũy đủ, đúng số lượng tín chỉ theo yêu cầu của ngành đào
tạo, mỗi SV phải có kế hoạch học tập cá nhân.
Năm là, Yếu tố CSVC cho HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC chưa đảm bảo.
Thực trạng HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH gồm số liệu minh chứng về
thực trạng mục tiêu học tập của SV, thực trạng lập kế hoạch học tập của SV, thực trạng
về phương pháp học tập của SV, thực trạng về hình thức và phương tiện học tập của
SV, thực trạng về môi trường học tập của SV. SV còn chưa thực sự làm quen với HTTC
được áp dụng trong trường ĐH, do các em được đào tạo theo hệ thống niên chế khi còn
học phổ thông. Từ chỗ các em thực hiện nhiệm vụ học tập theo kế hoạch sẵn có của nhà
trường phổ thông, hiện nay, theo HTTC ở trường ĐH, các em phải xác định mục tiêu
học tập và tự xây dựng kế hoạch học tập của cá nhân.
Thực trạng của công tác quản lý HĐHT của SV theo HTTC ở trường ĐH Việt
Nam gồm các số liệu thực tiễn về thực trạng lập kế hoạch và hướng dẫn công tác lập kế
hoạch học tập cho SV, tổ chức bộ máy quản lý HĐH của SV hiện hành, thực trạng công
tác lãnh đạo chỉ đạo HĐHT của SV theo HTTC, thực trạng công tác kiểm tra đánh giá
HĐHT của SV theo HTTC. Nghiên cứu về thực trạng công tác quản lý HĐHT của SV
theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam cho thấy công tác quản lý HĐHT của SV trong bối
cảnh hiện nay không dễ thực hiện mặc dù chúng ta đang cố gắng đổi mới toàn diện cơ

(i) Đảm bảo CBQL - GV nhận thức đầy đủ, chính xác những đặc trưng cơ bản trọng tâm
của HĐHT của SV từ hình thức đào tạo niên chế sang HTTC, từ đó hình thành quan
điểm, thái độ phù hợp với công tác quản lý HĐHT của SV theo HTTC.
(ii) Đảm bảo SV học tập trong trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC xây dựng và
phát triển được động cơ học tập đúng đắn, từ đó khơi dậy nhu cầu nhận thức, chủ động
chiếm lĩnh tri thức trong quá trình học tập, hình thành kỹ năng tự chủ trong học tập, rèn
nghề, lập nghiệp vì tương lai, thích ứng tốt với yêu cầu cao của thế giới việc làm.
3.2.2. Giải pháp 2: Xây dựng hệ thống quản lý hoạt động học tập, quản lý kiểm tra
đánh giá kết quả học tập của sinh viên đại học theo hệ thống tín chỉ
Mục đích của giải pháp :
(i) Đảm bảo hệ thống quản lý HĐHT của SV phù hợp với hệ thống quản lý đào tạo đáp
ứng yêu cầu theo HTTC, hợp lý và khả thi trong bối cảnh GDĐH Việt Nam đang thực
hiện đổi mới căn bản và toàn diện, các trường ĐH Việt Nam mới chuyển đổi quy trình
đào tạo theo HTTC.
(ii) Đảm bảo công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV phù hợp với quy trình
dạy học theo HTTC, thực hiện đánh giá chính xác kết quả học tập của SV nhằm khuyến
khích SV học tập và nâng cao chất lượng dạy học.
3.2.3. Giải pháp 3: Hoàn thiện quy chế quản lý hoạt động học tập của sinh viên đại
học theo hệ thống tín chỉ
18
Mục đích của giải pháp :
Đảm bảo có quy chế quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC; Quy chế
quản lý HĐHT của SV ĐH phải phù hợp với tính chất của HTTC, đồng thời quy chế
này phải khả thi trong bối cảnh các trường ĐH Việt Nam vừa mới thực hiện đào tạo theo
HTTC; làm cơ sở cho việc nâng cao chất lượng học tập của SV trong quá trình học tập
tại trường ĐH.
3.2.4. Giải pháp 4: Quản lý kế hoạch hoạt động học tập của sinh viên theo hệ thống tín
chỉ
Mục đích của giải pháp :
Đảm bảo mỗi SV đều xây dựng kế hoạch học tập cho toàn bộ thời gian học trong

dụng / Rất hiệu quả. Kết quả thu được và xử lý bằng phần mềm SPSS với công thức
Kiểm định Chi-square (Chi-square Test): Kiểm định Chi-square dùng để kiểm định sự
độc lập của 2 biến phân loại ngẫu nhiên. Nếu xác suất nhỏ hơn 0.05 (5%, mức ý nghĩa)
thì có thể kết luận 2 biến có mối quan hệ. Ngược lại, không có cơ sở để kết luận giữa 2
biến có mối quan hệ.
Công thức tính như sau:
Bậc tự do (df – degree of freedom) được tính là tổng số hàng trừ 1 nhân với tổng
số cột trừ 1.
3.4.2.5. Đánh giá kết quả thực nghiệm
Biểu đồ 3.8. So sánh tác dụng hiệu quả của Nội dung 1 (GP2): Hoàn thiện hệ thống cố
vấn học tập trong đào tạo theo HTTC trước và sau khi thực nghiệm
Biểu đồ 3.9. So sánh tác dụng hiệu quả của Nội dung 2 (GP4): quản lý hoạt động học
tập của SV thông qua quản lý việc xây dựng kế hoạch học tập của SV trong đào tạo theo
HTTC trước và sau khi thực nghiệm
20
Biểu đồ 3.10. So sánh tác dụng và hiệu quả của Nội dung 3 (GP4). Quản lý hoạt động
học tập của SV thông qua quản lý việc thực hiện kế hoạch học tập của SV trước và sau
khi thực nghiệm
Sau khi thu được kết quả thực nghiệm, chúng tôi có buổi làm việc với lãnh đạo trường
ĐH Vinh thuyết trình về quá trình khảo sát thực trạng, những nguyên nhân thực trạng đã
nghiên cứu, đề xuất các giải pháp quản lý HĐHT của SV trong đào tạo theo HTTC, kết
quả thực nghiệm đã thực hiện tại cơ sở. Sau khi phân tích tác dụng và hiệu quả, nhà
trường đã đi đến quyết định sẽ tăng số lượng CVHT lên khoảng 84 người, (Số CVHT
hiện thời là 28 người), đáp ứng yêu cầu của quy trình đào tạo theo HTTC, và phù hợp
với thực tế đòi hỏi.
Như vậy, qua hai bước tiến hành thực nghiệm theo giai đoạn và nội dung quản lý thuộc
các giải pháp mà đề tài đề xuất, với những thông tin về kết quả thực nghiệm trình bày ở
trên đã chứng minh tính khả thi và hiệu quả của một số giải pháp quản lý HĐHT của SV
theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

gần 50 trường ĐH thực hiện đào tạo theo quy trình mới này. Trong đó, mới chỉ có 25
trường ĐH thực hiện đào tạo theo HTTC và có SVTN (Bắt đầu áp dụng đào tạo theo
HTTC tính từ năm 2007 trở về trước). CBQL – GV và SV còn khá bỡ ngỡ khi thực hiện
công tác giảng dạy và học tập trong HTTC.
Thực trạng của HĐHT của SV ở một số trường ĐH Việt Nam đang thực hiện đào
tạo theo HTTC còn nhiều hạn chế ở nhiều mặt: động cơ học tập của SV chưa mạnh mẽ,
SV thiếu năng lực tự học, chưa làm quen với phương pháp học tập tích cực, chưa chủ
động trong việc lập và thực hiện kế hoạch học tập cá nhân, tham khảo đề cương bài
giảng của thầy, hệ thống CVHT của trường ĐH chưa đầy đủ, hoạt động chưa có hiệu
quả. Phần lớn SV chưa tích cực chủ động trong quá trình học tập dẫn đến chất lượng và
hiệu quả chưa cao.
Công tác quản lý HĐHT của SV còn gặp nhiều khó khăn do các quy chế, quy
định chưa hoàn thiện, công tác quản lý học tập của SV trên lớp lên lớp còn hạn chế do
lớp tín chỉ chưa ổn định trong giờ lên lớp, chưa có các giải pháp phù hợp để quản lý SV
ngoài giờ lên lớp, trong khi giờ tự học của SV nhiều, các hình thức kiểm tra đánh giá
chưa phong phú và phù hợp… Vì vậy, công tác quản lý HĐHT của SV trong đào tạo
theo HTTC cần phải được hoàn thiện để phù hợp với quy trình quản lý phương thức đào
tạo mới.
3. Kết luận về đề xuất giải pháp cơ bản quản lý hoạt động học tập của sinh viên
theo HTTC ở trường ĐH Việt Nam.
Để nâng cao chất lượng chất lượng học tập đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp và tính
thích ứng với xã hội phát triển, cần quan tâm nhiều vấn đề nâng cao nhận thức cho SV
về vai trò, ý nghĩa của HTTC, hình thành ở SV động cơ, nhu cầu học tập, phương pháp
học tập, xây dựng và thực hiện kế hoạch học tập… Để quản lý HĐHT của SV theo
HTTC ở trường ĐH cần tập trung thực hiện các giải pháp quản lý chủ yếu sau:
22
- Đổi mới căn bản nhận thức HĐHT của SV ĐH từ đào tạo niên chế sang quản lý theo
HTTC
- Xây dựng hệ thống quản lý HĐHT, quản lý kiểm tra đánh giá kết quả học tập của SV
ĐH theo HTTC

(ii) Ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho
các trường ĐH trong việc quản lý đào tạo từ khâu đổi mới quy trình, nội dung, phương
pháp đến việc tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng CBQL – GV nâng cao trình độ đáp ứng
với yêu cầu đổi mới;
(iii) Ban hành hướng dẫn việc quản lý và thực hiện đào tạo theo HTTC, khuyến khích
các trường công nhận chương trình đào tạo của nhau tạo điều kiện liên thông đào tạo
giữa các trường ĐH;
23
(iv) Điều chỉnh, tiếp tục ban hành quyết định, quy chế về công tác quản lý SV đối với
quy trình đào tạo theo HTTC;
2. Đối với trường đại học
(i) Tiếp tục khẳng định và quyết tâm thực hiện đổi mới GDĐH, tạo điều kiện cho CBQL
– GV nâng cao nhận thức về quy trình đào tạo theo HTTC thông qua việc tham gia các
hội nghị, hội thảo, tập huấn về HTTC; học tập kinh nghiệm trong nước và quốc tế, đặc
biệt là các nước phát triển đã thành công đào tạo theo HTTC, các nước Châu Á có các
đặc điểm xã hội và lịch sử phát triển tương đồng với Việt Nam;
(ii) Xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ CBQL được đào tạo chính quy, có kinh nghiệm quản
lý và nhận thức tốt để thực hiện đổi mới giáo dục trong trường ĐH; Tiếp tục xây dựng,
bồi dưỡng đội ngũ GV cốt cán có năng lực chuyên môn giỏi và phẩm chất nghề nghiệp
tốt để hỗ trợ, giúp đỡ các GV còn ít kinh nghiệm, ít tuổi đời và tuổi nghề trong việc thực
hiện nhiệm vụ giảng dạy trong bối cảnh áp dụng quy trình đào tạo theo HTTC;
(iii) Để công tác quản lý SV trong đào tạo theo HTTC đi vào nề nếp, trong mỗi nhà
trường, hàng tháng, cuối học kỳ, cần dành thời gian cho CBQL, GV, CVHT trao đổi,
chia sẻ kinh nghiệm về quản lý, giảng dạy và công tác quản lý SV nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả giáo dục.
Đào tạo theo HTTC là một phương thức đào tạo tiên tiến được áp dụng nhiều nơi
trên thế giới, giúp SV chủ động học tập theo tiến độ cá nhân, giúp trường ĐH linh hoạt
hơn trong thực hiện chương trình đào tạo, các trường ĐH trong hệ thống thực hiện liên
thông thông qua việc công nhận chương trình của nhau và công nhận khối lượng kiến
thức của SV được tính bằng tích lũy tín chỉ. Công tác quản lý HĐHT của SV trong đào


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status