BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
CỦA GIÁO VỤ Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2010
DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ
Bảng 2.2: Về quản lý và lập kế hoạch trong quá trình đào tạo
Bảng 2.3: Về quản lý sinh viên và kết quả học tập
Bảng 2.4: Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý về quản lý
thông tin sinh viên
Bảng 2.5: Kết quả đánh giá của sinh viên và cán bộ quản lý về quản lý và lập
kế hoạch đào tạo
Bảng 3.1: Tuổi đời, tuổi nghề của giáo viên, cán bộ quản lý
Bảng 3.2: Tổng hợp kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp
quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ trường ĐHSP Hà Nội
Bảng 3.3: Tổng hợp kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản
lý hoạt động dạy và học của giáo vụ trường ĐHSP HN
pháp MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Mục đích nghiên cứu 2
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu 2
4. Giả thuyết nghiên cứu 3
5. Phạm vi nghiên cứu 3
giai đoạn đầu của quản lý hoạt động dạy và học theo tín chỉ 36
2.2. Thực trạng biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ ở
trường Đại học Sư phạm Hà Nội 46
2.2.1 Quản lý tuyển sinh của Trường 47
2.2.2 Quản lý kết quả học tập 47
2.2.3 Quản lý công tác nghiên cứu khoa học của sinh viên 48
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ khoa GDMN
trường ĐHSP Hà Nội………………………………………………… 49
2.3.1 Vài nét về khoa GDMN trường ĐHSP Hà Nội 49
2.3.2 Thực trạng công tác giáo vụ của khoa GDMN trường ĐHSP
Hà Nội 51
2.4. Đánh giá công tác giáo vụ của trường Đại học Sư phạm nói chung
của khoa GDMN nói riêng 54
2.5. Nguyên nhân của hạn chế trong công tác quản lý hoạt động dạy và học
của giáo vụ Trường ĐHSP Hà Nội nói chung và của khoa GDMN
nói riêng 56
Kết luận chƣơng 2 57
Chƣơng 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY VÀ HỌC
CỦA GIÁO VỤ Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 59
3.1 Cơ sở định hướng cho việc đề xuất các biện pháp 59
3.1.1. Quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về giáo dục, đào tạo 59 3.1.2. Chiến lược phát triển Giáo dục- Đào tạo ở nước ta 59
3.1.3. Chiến lược phát triển của trường ĐHSP Hà Nội đến năm 2010… 60
3.2. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ ở
Trường ĐHSP Hà Nội nói chung và khoa GDMN nói riêng …… 63
3.2.1. Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý, cán bộ giáo vụ
của trường, khoa 63
3.2.2. Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác giáo vụ là một bộ phận hợp thành không thể thiếu được
trong công tác quản lý đào tạo của cấp khoa nói riêng và của cấp trường đại
học nói chung với nhiệm vụ cơ bản là quản lý hoạt động giảng dạy và học
tập.
Công tác giáo vụ giúp cho các nhà quản lí nắm bắt được chất lượng
giáo dục (giảng dạy, học tập) và tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch
công tác chuyên môn của đối tượng quản lý. Trên cơ sở đó, người làm quản
lý sẽ có những biện pháp điều chỉnh, định hướng đối tượng thực hiện đúng
nội dung chương trình, kế hoạch, phương pháp giảng dạy cho phù hợp với
thực tiễn, nâng cao hiệu quả đào tạo.
Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội đã có bề dày 60 năm về
hoạt động dạy và học. Quán triệt tư tưởng của Đảng và Nhà nước về chiến
lược phát triển giáo dục đào tạo từ nay đến 2020, Trường ĐHSP Hà Nội đã
nhận thức sâu sắc và kịp thời việc cải tiến, đổi mới nhiều hoạt động giáo
dục. Tuy nhiên, việc đổi mới công tác quản lý giảng dạy và học tập của nhà
trường nói chung, cũng như quản lý dạy và học của giáo vụ mỗi khoa trong
trường nói riêng còn nhiều vấn đề cần phải được quan tâm giải quyết. Về
mặt nhân sự, một số cán bộ lớn tuổi, trình độ tin học còn hạn chế, không có
khả năng khai thác và làm việc với mạng máy tính. Điều đó đã và đang đặt
ra không ít khó khăn trong việc phục vụ hoạt động dạy và học hiện nay.
Bên cạnh đó sau nhiều năm quen làm việc với kiểu quản lý sinh viên học
tập trung (đào tạo theo niên chế) khi chuyển sang đào tạo theo tín chỉ,
nhiều vấn đề mới nảy sinh đã khiến cho số cán bộ lớn tuổi này rất khó theo
kịp với yêu cầu của thực tiễn. Trong thời đại khoa học kỹ thuật đang phát
4. Giả thuyết nghiên cứu Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ có mối quan hệ
chặt chẽ với hiệu quả chất lượng công tác quản lý nói riêng và chất lượng
đào tạo nói chung. Nếu đề xuất được một số biện pháp quản lý của giáo vụ
cụ thể như: Lập kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý cán bộ giáo vụ
của trường, khoa; Tăng cường sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý
hoạt động dạy và học của giáo vụ; Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt
động dạy và học; Quản lý và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất thì sẽ nâng
cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý hoạt động dạy và học của giáo
vụ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ dành cho hệ cử
nhân chính quy Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và khoa Giáo dục mầm
non.
- Điều tra thực trạng quản lý của giáo vụ từ năm 2007 đến năm 2009.
- Một số nội dung quản lý chủ yếu và một số biện pháp.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác giáo vụ dưới góc độ khoa học
quản lí.
6.2. Phân tích thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của
giáo vụ trường ĐHSP Hà Nội và khoa GDMN.
6.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của
giáo vụ đối với hoạt động dạy và học ở trường ĐHSP Hà Nội.
7. Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu
Sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
7.1. Nhóm phương pháp lý luận: So sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát,
hệ thống hoá lý luận liên quan đến đề tài.
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề quản lý Nhà nước về quá trình đào tạo đại học đều được các
nước nói chung và Việt Nam nói riêng quan tâm thích đáng; nó được thể
hiện trên các mặt: ban hành hệ thống văn bản pháp luật, quản lý các nội
dung cụ thể như quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung đào tạo, quản lý
quá trình dạy – học, quản lý thi, kiểm tra và cấp bằng, kiểm tra, thanh tra
đào tạo, khen thưởng, kỷ luật. Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đều tổ
chức họp các trường đại học, cao đẳng trong cả nước để bàn về các biện
pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học và cao đẳng. Có rất nhiều bài
tham luận, bài viết của các nhà quản lý, của các nhà nghiên cứu và của các
giảng viên – người tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo đề cập đến vấn
đề này.
Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, họ liên tục đổi mới tư duy về
giáo dục - đào tạo, thường xuyên cải tiến chương trình, nội dung đào tạo và
theo đó là cách tạo ra các nguồn lực tương ứng để đáp ứng mục tiêu đào tạo
đại học. Chính nguồn nhân lực với kiến thức, kỹ năng đầy đủ này lại góp
phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội của các nước ngày càng phát triển nhanh
chóng. Trong những năm gần đây, kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực có
trình độ cao của Mỹ, Anh, các nước phương Tây, CHLB Đức, Nhật Bản,
Hàn Quốc, Singgapo, Trung Quốc, làm chúng ta phải suy nghĩ và học
tập. Họ có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có chương trình đào tạo được đổi
mới thường xuyên và quản lý tốt quá trình đào tạo để tạo nguồn nhân lực
biết làm việc, thích ứng trong thế giới đa cực hoá và toàn cầu hoá hiện nay.
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Bộ GD & ĐT, các Viện và các Trường
đã có nhiều đề tài nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia về vấn đề quản lý Giáo dục- Đào tạo nói chung và chủ yếu đề cập đến những
vấn đề lớn như:
theo hướng phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của học viên.” Trương
Hữu Thông. Hà Nội, 1999.
- “Một số giải pháp tăng cường quản lý quá trình dạy - học trong
trường trung học kinh tế - kỹ thuật tỉnh Kiên Giang”. Nguyễn Văn Lâu. TP
Hồ Chí Minh, 2000.
- “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên trường cao
đẳng kinh tế tài chính Thái Nguyên.” Phạm Trí Cường. Hà Nội, 2004.
- “Một số biện pháp tăng cường quản lý hoạt động dạy học của
Khoa tự nhiên, trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh”. Võ Tiến Quang.
Hà Nội, 2004.
- “Một số biện pháp cải tiến công tác giáo vụ ở khoa Sư phạm kỹ thuật
trường ĐHSP Hà Nội”. Nguyễn Thị Tự, 1999
Như vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hoạt động dạy và học trong
trường Đại học nói chung và Trường ĐHSP nói riêng thông qua công tác
giáo vụ thì hoàn toàn chưa được đề cập đến. Tuy nhiên những công trình
nghiên cứu kể trên cũng là cơ sở, điều kiện để chúng tôi tiếp tục nghiên cứu
đề tài của mình.
1.2. Một số vấn đề lý luận về Quản lý
1.2.1. Khái niệm Quản lý
Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát
triển của xã hội. Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều
hình thái xã hội khác nhau nên cũng đã trải qua nhiều hình thức quản lý
khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại đến nay đều rất coi
trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là
một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Ở mỗi góc độ
tiếp cận và hoạt động, người ta có thể đưa ra một quan niệm và quản lý
khác nhau.
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động
chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần
Ken Blanc Heard trong cuốn “Quản lý nguồn nhân lực” là: “Quản lý là một quá trình cùng làm việc giữa nhà quản lý với người bị quản lý, nhằm thông
qua hoạt động của cá nhân, của nhóm, huy động các nguồn lực khác để đạt
mục tiêu của tổ chức [24].
- Theo quan điểm của hệ thống thế giới quan Mác-Lênin cho rằng:
“Toàn bộ thế giới vật chất đang tồn tại, mọi sự vật, hiện tượng là một chỉnh
thể, một hệ thống. Trong công tác điều hành xã hội thì quản lý cũng vật,
cũng là hệ thống. Theo quan điểm này thì quản lý một đơn vị với tư cách là
hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống, vào từng
thành tố của hệ thống bằng các phương pháp thích hợp nhằm đạt mục tiêu
đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường”.
- Quan niệm về quản lý của một số nhà khoa học Việt Nam
Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt cho rằng: “Quản lý là một quá trình
định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được
những mục tiêu nhất định” [24].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo “Quản lý là quá trình tác động liên
tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
(S-O) về các mặt chính trị, xã hội, kinh tế, văn hoá bằng một hệ thống các
nguyên tắc pháp luật, chính sách, phương pháp và giải pháp quản lý tạo ra
những điều kiện cho sự phát triển của khách thể và tạo ra uy tín [12].
Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức,
có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu
đã đề ra” [42].
Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản- Trung tâm quản lý chất
lượng quốc tế (IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định
hướng và kiểm soát một tổ chức trong việc đạt mục đích đề ra [41].
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: “Quản lý là một quá trình tác động có
định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có
lý theo mục đích hoạt động của con người. Để tài của chúng tôi sử dụng
quan niệm của Nguyễn Đức Trí về “quản lý” nêu trên:
Quản lý là một quá trình tác động có định hƣớng (có chủ đích), có
tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng và môi trƣờng, nhằm giữ cho sự vận hành của đối
tƣợng đƣợc ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định [40].
1.2.2. Chức năng của quản lý
Thứ nhất, chức năng kế hoạch hoá
Peter Drucker, một trong những chuyên gia quản lý hàng đầu đương
đại đã đề xuất tiêu chuẩn về tính hiệu nghiệm (tức là khả năng làm những
việc “đúng”) và tính hiệu quả (tức là khả năng làm đúng việc). Ông cho
rằng tính hiệu nghiệm là quan trọng hơn, bởi vẫn có thể đạt được hiệu quả
khi chọn sai mục tiêu. Hai tiêu chuẩn này song hành cùng với hai khía cạnh
của kế hoạch: xác định những mục tiêu “đúng” và lựa chọn những giải
pháp “đúng” để đạt các mục tiêu này. Cả hai khía cạnh đó đều có ý nghĩa
sống còn đối với quá trình quản lý.
Để phản ánh bản chất của khái niệm chức năng kế hoạch hoá, chúng
ta có thể định nghĩa như sau: Chức năng kế hoạch hoá là quá trình xác định
mục tiêu và quyết định những giải pháp tốt nhất để thực hiện mục tiêu đó.
Như vậy, thực chất của kế hoạch hoá là đưa toàn bộ những hoạt động vào
công tác kế hoạch hoá với mục đích, giải pháp rõ ràng, bước đi cụ thể và ấn
định tường minh các điều kiện cung ứng cho việc thực hiện mục tiêu.
Nhiều lý thuyết quản gia cho rằng, kế hoạch là cái khởi nguyên của
mọi hoạt động, mọi chức năng quản lý khác. Họ ví kế hoạch như một chiếc
đầu tầu kéo theo các toa “tổ chức”, “chỉ đạo”, “kiểm tra”. Như vậy, người
quản lý, nếu không có kế hoạch thì không biết phải tổ chức nhân lực và các
nguồn nhân lực khác như thế nào, thậm chí học còn không rõ phải tổ chức
cái gì nữa. Không có kế hoạch, người quản lý không thể chỉ dẫn, lãnh đạo
nữa”. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con
người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn
các động lực, tổ chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu
quả quản lý.
Thứ ba, chức năng chỉ đạo
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành
vi và thái độ của những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện quá trình ảnh hưởng qua lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành
viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các mục tiêu đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi
dậy động lực của nhân tố con người trong hệ thống quản lý, thể hiện mối
quan hệ giữa con người với con người và quá trình giải quyết những mối
quan hệ đó do họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu.
Thứ tư, chức năng kiểm tra
Sau khi xác định các mục tiêu, quyết định những giải pháp tốt nhất để
đạt tới các mục tiêu và triển khai các chức năng tổ chức, chỉ đạo để hiện thực
hoá các mục tiêu đó cần phải tiến hành những hoạt động kiểm tra để xem xét
việc triển khai các quyết định trong thực tiễn, từ đó có những điều chỉnh cần
thiết trong các hoạt động để góp phần đạt tới mục tiêu đã xác định.
Như vậy, kiểm tra có vị trí quan trọng trong việc đổi mới công tác
quản lý như: Đổi mới công tác kế hoạch hoá, công tác tổ chức, chỉ đạo
cũng như đối với cơ chế quản lý, phương pháp quản lý nhằm nâng cao chất
lượng và hiệu quả quản lý.
Tóm lại: Sự phân công và chuyên môn hoá trong hoạt động quản lý
đã hình thành nên các chức năng quản lý. Đó là chức năng kế hoạch hoá,
chức năng tổ chức, chức năng chỉ đạo và chức năng kiểm tra.
Qua phân tích các chức năng quản lý, chúng ta thấy rằng các chức
năng này có mối quan hệ chặt chẽ tác động qua lại với nhau, chi phối lẫn
Chỉ đạo
Tổ chức - Chủ thể quản lý ở tầm vĩ mô: Là quản lý của nhà nước mà cơ quan
quản lý trực tiếp là Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục.
- Chủ thể quản lý ở tầm vi mô: Là quản lý của Hiệu trưởng các
trường dưới Hiệu trưởng là các Chủ nhiệm khoa, Trưởng các phòng ban,
Giám đốc các trung tâm, Viện trưởng các viện nghiên cứu.
Quản lý giáo dục có tính chất xã hội cao bởi vì luôn luôn trong nó
cần phải được tập trung giải quyết các vấn đề có tính thời sự như: Kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng để phục vụ tốt cho công
tác giáo dục.
- Khách thể quản lý giáo dục là đội ngũ giáo viên, sinh viên và học
viên, có thể nói trong giáo dục và đào tạo thì đây là đối tượng khách thể
quan trọng nhất nhưng đồng thời ở một lĩnh vực nào đó đội ngũ này cũng là
chủ thể quản lý trực tiếp quản lý quá trình giáo dục. Khách thể quản lý là
những con người cụ thể, trong họ có rất nhiều mối quan hệ đan xen, phức
tạp, đa dạng mà người quản lý phải đối phó, xử lý khi thực hiện chức năng
quản lý của mình. Vì vậy người quản lý phải biết biến các mối quan hệ trên
trở thành các yếu tố tích cực tạo nên môi trường thuận lợi nhất để hướng tới
hoàn thành mục tiêu chung.
Như vậy quản lý giáo dục là sự tác động có định hướng, có mục đích
vào khách thể quản lý. Đó là việc tổ chức, định hướng và duy trì các hoạt
động giáo dục nhằm làm cho bộ máy, cho cá nhân và tổ chức các cán bộ
giảng viên và tập thể nhà trường, sinh viên và cả cộng đồng xã hội thực
hiện đầy đủ đúng đắn những đường lối, chủ trương và quan điểm giáo dục
của Đảng. Với phương pháp quản lý nghệ thuật, người quản lý giáo dục
phải biết tổ chức các hoạt động giáo dục đi đến mục đích bằng nhiều cách,
Đảng trong phạm vi quyển hạn và trách nhiệm của mình tức là phải đưa
nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm
vi xác định của một đơn vị giáo dục nền tảng đó là nhà trường. Vì thế quản
lý nhà trường phải vận dụng tất cả các nguyên lý chung của quản lý giáo
dục để đẩy mạnh mọi hoạt động củ nhà trường theo mục tiêu đào tạo. Tóm lại bản chất của quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động
dạy và hoạt động học làm sao để đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang
trạng thái khác để dần dần tiến tới mục tiêu giáo dục. Một nhà trường có tổ
chức dạy và học tốt là nhà trường đã cụ thể hóa được đường lối chủ trương
của Đảng và Nhà nước Việt Nam thành hiện thực, đáp ứng được nhu cầu
học tập suốt đời của nhân dân. Tạo mọi điều kiện để mọi người dân đều
được đến trường, đều có cơ hội học tập như nhau, học tập suốt đời.
Ở đây chúng tôi lấy định nghĩa về quản lý nhà trường của tác giả
Phạm Viết Vượng: “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản
lý, nhằm tập hợp và tổ chức các lao động của giáo viên, học sinh sinh viên
và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực
giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.
Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý ở các lĩnh vực khác,
vì ở đây những tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công
tác tổ chức sư phạm đến đối tượng quản lý nhằm giải quyết những nhiệm
vụ giáo dục của nhà trường. Đó là một hệ thống có tác động, có phương
hướng, có mục đích, có kế hoạch, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ
thuộc vào nhau.
1.3.3. Quản lý hoạt động dạy và học
* Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học
nhằm giúp cho người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt
động nhận thức và thực tiễn, phát triển các năng lực hoạt động sáng tạo,
định việc lựa chọn biện pháp.
Theo từ điển tiếng Việt của Minh Tâm (Nxb TH 1998) thì biện pháp
là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.
Theo từ điển học sinh (Nxb GD 1971): Biện pháp là cách làm, cách
giải quyết cụ thể một vấn đề căn cứ vào những phương pháp nào đó.
Như vậy, khái niệm biện pháp có thể được hiểu một cách khái quát là
cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể có căn cứ vào phương pháp để
đạt được mục tiêu đã xác định. Biện pháp có quan hệ chặt chẽ với phương
pháp. Phương pháp thường mang tính định hướng, biện pháp thường có