MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Thế kỉ XXI thế giới với những chuyển biến mới cực kì quan trọng ảnh
hưởng to lớn đến tình hình các nước, các dân tộc và cuộc sống thường nhật
của con người. Trong những chuyển biến đó, nổi bật là sự hình thành một xã
hội thông tin, kinh tế tri thức và sự phát triển nhanh chóng chưa từng thấy
của khoa học công nghệ, xu thế của toàn cầu hoá. Những yếu tố đó đã tác
động mạnh mẽ đến giáo dục, tạo ra một làn sóng cải cách giáo dục chung ở
các nước trên thế giới mà điểm hội tụ là sự chú ý đặc biệt đến khuyến cáo về
"Giáo dục cho thế kỉ XXI" của Tổ chức Liên hiệp quốc về giáo dục, khoa học,
văn hoá (UNESCO) về 4 trụ cột giáo dục:
− Học để biết
− Học để làm
− Học để cùng chung sống
− Học để làm người.
Đổi mới hoạt động dạy học là xu thế của thời đại, là trào lưu chung của
loài người, là yêu cầu khách quan của công cuộc xây dựng đất nước ta trong
thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá, là đòi hỏi của sự đáp ứng yêu cầu về
đào tạo con em chúng ta thành những người trưởng thành có thể tham gia vào
thị trường lao động đầy cạnh tranh và nhiều thay đổi…, chứ không phải là ý
muốn chủ quan của một người hoặc một nhóm người nào đó.
Tư tưởng về một nền giáo dục phát triển trí thông minh, sáng tạo của học
sinh đó xuất hiện từ lâu nhưng mới dừng lại ở mong muốn, ở lời kêu gọi chứ
chưa biến thành thực tiễn sinh động hàng ngày của nhà trường.
Đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá với
mục tiêu đến năm 2020 sẽ từ một nước nông nghiệp trở thành nước công
nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Bối cảnh đó đó đặt ra những yêu cầu
mới đối với phẩm chất và năng lực của người lao động. Ngoài các phẩm chất
1
như lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, quý trọng và hăng say lao động,
lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, cần có những phẩm chất và năng lực rất cần
trò của người tiếp thu thụ động, không chấp nhận những hoạt động dạy học đó
nói trên. Vì lẽ đó, đổi mới hoạt động dạy học môn lịch sử là điều hết sức cần
thiết cùng với đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình sách giáo khoa, đổi
mới cách kiểm tra đánh giá.
Trong những năm qua đó có những đề tài nghiên cứu đề cập đến đổi
mới hoạt động dạy học môn lịch sử, nhưng các biện pháp theo hướng tích cực
vẫn chưa được phổ biến trong việc giảng dạy ở các trường THPT. Có rất
nhiều nguyên nhân và một trong những nguyên nhân là việc quản lý chỉ đạo
đổi mới hoạt động môn lịch sử chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới chương
trình giáo dục trung học phổ thông hiện nay. Dẫn đến kết quả thi tốt nghiệp
THPT, điểm thi vào đại học môn lịch sử còn thấp.
Tiếp cận từ góc độ quản lý, tác giả nhận thấy hiện tại các cán bộ quản
lý (CBQL) mới dừng lại ở những chủ trương đường lối chung cho tất cả các
môn mà thiếu đi biện pháp cụ thể vào một môn học cụ thể để tác động và tạo
ra sự liên kết giữa người dạy với người học, chưa tổ chức chỉ đạo quá trình
hoạt động dạy học một cách khoa học và hữu hiệu. Vì thế chưa đủ để tạo nên
một bước chuyển biến thực sự về hoạt động dạy học, đặc biệt là môn lịch sử
tại các trường THPT.
Từ những lý do trên, đề tài nghiên cứu khoa học được tôi lựa chọn đề
tài: “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại Trường trung
học phổ thông Mỹ Đức B – Hà Nội ”
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại
Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội, nhằm nâng cao chất lượng dạy học đáp
ứng yêu cầu đổi mới chương trình giáo dục THPT hiện nay.
3
3. Khách thể nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Công tác quản lý chỉ đạo dạy và học môn lịch sử tại Trường THPT Mỹ
Đức B - Hà Nội
8. Phương pháp nghiên cứu
8.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Phân tích và tổng hợp nghiên cứu các tài liệu lý luận về khoa học quản
lý giaó dục, quản lý nhà trường, luật giáo dục, các văn bản pháp quy, những
quy định của ngành GD-ĐT, các loại sách báo có liên quan đến quản lý nhà
trường, liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử ở trường THPT.
8.2. các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
8.2.1. Phương pháp quan sát sư phạm
Thu thập thông tin qua việc quan sát các hoạt động quản lý của HT và
hoạt động của tổ bộ môn, hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS học
môn lịch sử.
8.2.2. Phương pháp điều tra viết
Bước 1: Xây dựng phiếu điều tra
Bước 2: Tiến hành điều tra
Bước 3 : Thu thập phiếu điều tra và xử lý số liệu
8.2.3. Phương pháp chuyên gia
8.3. Phương pháp thống kê
Dùng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu của đề tài .
5
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham
khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học môn lịch
sử ở các trường THPT.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học và quản lý
hoạt động dạy học môn lịch sử tại Trường THPT Mỹ Đức B – Hà nội.
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại
Trường THPT Mỹ Đức B – Hà Nội.
6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
học là nhiệm vụ trung tâm của nhà trường”. Đặc biệt với sự tâm huyết của
mình với công tác GD, các tác giả đã nhấn mạnh: Hiệu trưởng phải là người
“biết kết hợp một cách hữu cơ sự quản lý dạy và học (theo nghĩa rộng) với sự
quản lý các quá trình bộ phận, hoạt động dạy và học các môn và các hoạt
động khác hỗ trợ cho hoạt động dạy và học nhằm làm cho tác động giáo dục
được hoàn chỉnh trọn vẹn”. Các tác giả Lê Ngọc Trà, Nguyễn Ngọc Thanh đã
nhấn mạnh vai trò công tác quản lý trong việc nâng cao chất lượng GD như
sau: “Các nhà làm công tác quản lý giáo dục phải không ngừng cải tiến nâng
cao chất lượng điều hành và quản lý của mình để qua đó tác động một cách
hiệu quả vào quá trình cải tiến chất lượng ở các khâu, các bộ phận của hệ
thống giáo dục ở cấp vi mô cũng như vĩ mô”.
Trong những năm gần đây, nhiều cán bộ quản lý (CBQL) trường Trung
học phổ thông (THPT) trong cả nước cũng đã tập trung nghiên cứu về các
biện pháp quản lý nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học, chẳng hạn
như các Luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý giáo dục của các tác giả:
Nguyễn Thị Hảo với đề tài “Những biện pháp quản lý của Hiệu trưởng nhằm
nâng cao chất lượng dạy học ở các trường THPT huyện Trấn Yên tỉnh Yên
Bái” (2005)…
Luận văn của các tác giả trên đã nêu lên những biện pháp quản lý của
Hiệu trưởng trường THPT, đặc biệt là các biện pháp quản lý HĐDH, đó là
những công trình có giá trị về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của
các tác giả trong thực hiện chức trách Hiệu trưởng trường THPT, đồng thời
cũng giúp cho cho các CBQL nhà trường nói chung và các Hiệu trưởng
trường THPT khác tham khảo để vận dụng trong công tác quản lý của mình.
Song việc nghiên cứu hoạt động dạy học của Hiệu trưởng nhằm thực hiện
quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử tại một trường THPT thì chưa có đề
8
tài quản lý giáo dục nào đề cập đến. Vì vậy, trong khuôn khổ luận văn này tác
giả muốn dựa vào cơ sở lý luận của công tác quản lý hoạt động dạy học, để
tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn lịch sử của Hiệu trưởng và
tiếp cận nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản của khái niệm quản lý,
các định nghĩa trên ta có thể hiểu:
Quản lý là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể
quản lý lên khách thể quản lý bằng việc vận dụng các chức năng quản lý,
nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng và cơ hội của tổ chức để đạt
được mục tiêu đề ra
Chức năng quản lý: Chức năng của quản lý là hình thức biểu hiện sự tác
động có chủ định của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý. Đó là tập hợp những
nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản lý phải tiến hành trong quá trình quản lý.
Ta có thể hiểu chức năng quản lý là một nội dung cơ bản của quá trình quản lý,
là nhiệm vụ không thể thiếu được của chủ thể quản lý.
Về số lượng các chức năng quản lý nói chung, những tác giả nghiên
cứu về quản lý có ý kiến không giống nhau. Tuy nhiên, hầu hết các tác giả
đều đề cập tới bốn chức năng chủ yếu đó là: Kế hoạch hoá tổ chức, chỉ đạo,
kiểm tra và trong đó thông tin vừa là phương tiện, vừa là điều kiện để thực
hiện chức năng quản lý.
- Chức năng kế hoạch hoá: Để thực hiện chủ chương, chương trình, dự
án kế hoạch hoá là hành động đầu tiên, chức năng cơ bản để hoàn thành các
chức năng khác. Đây được coi là chức năng chỉ lối làm cho tổ chức phát triển
theo kế hoạch. Trong quản lý đây là căn cứ mang tính pháp lý quy định hành
động của cả tổ chức.
- Chức năng tổ chức: Người quản lý phải hình thành bộ máy tổ chức là
cơ cấu các bộ phận (tuỳ theo tính chất công việc, có thể tiến hành phân công,
10
phân nhiệm cho các cá nhân), quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận,
mối quan hệ giữa chúng.
Như vậy thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ, liên hệ giữa con
người với con người, giữa các bộ phận riêng rẽ thành một hệ thống hoạt động
nhịp nhàng của một cơ thể thống nhất. Một tổ chức được thiết kế phù hợp sẽ
phát huy được năng lực nội sinh và có ý nghĩa quyết định đến việc chuyển
nghiệp đặc biệt”.
Ở các nước xã hội chủ nghĩa, do vận dụng quản lý xã hội vào quản lý
giáo dục, nên quản lý giáo dục thường được xếp trong lĩnh vực quản lý văn
hoá tư tưởng như A.G. Afanaxep đã phân chia trong cuốn sách kinh điển nổi
tiếng của mình: "Con người trong quản lý xã hội”. Như vậy, quản lý giáo dục
được coi là bộ phận nằm trong lĩnh vực quản lý văn hoá tinh thần.
Ở Việt Nam, quản lý giáo dục cũng là một lĩnh vực được đặc biệt quan
tâm. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VIII đã viết: “Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý
tới khách thể quản lý nhằm đưa ra hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục
đạt tới kết quả mong muốn bằng cách hiệu quả nhất” [28, tr50]
12
Thông tin
Chỉ đạo
Kiểm tra
Tổ chức
Tổ chức
Kế hoạch
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang thì : “Quản lý giáo dục thực chất là
tác động đến nhà trường, làm cho nó tổ chức tối ưu được quá trình dạy học,
giáo dục thể chất theo đường lối, nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt
được những tính chất trường THPT xã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó
tiến tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới”[19, tr32]
Theo tác giả Đỗ Hoàng Toàn “Quản lý giáo dục là tập hợp những biện
pháp tổ chức, phương pháp giáo dục, kế hoạch hoá tài chính, cung tiêu…
nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo
dục, đảm bảo sự tiếp tục phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng,
cũng như về chất lượng” [23, tr29]
Những định nghĩa nêu trên về quản lý giáo dục tuy có những cách diễn
đạt khác nhau nhưng đều thể hiện một quan điểm chung về quản lý giáo dục
ta có thể phân tích quá trình giáo dục của nhà trường như một hệ thống gồm
các thành tố và được biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Quản lý các thành tố của quá trình dạy học [27]
M: Mục tiêu DH
N: Nội dung DH
P: Phương pháp DH
Th: Giáo viên
Tr: Học sinh
QL: Quản lý
ĐK: CSVC- TBDH
Vai trò của người quản lý là phải làm sao cho hệ thống các thành tố vận
hành liên kết chặt chẽ với nhau đưa đến kết quả mong muốn.
Như vậy, quản lý nhà trường thực chất là tác động có định hướng, có kế
QL
P
N
Tr
Th
14
M
ĐK
hoạch của chủ thể quản lý lên tất cả các nguồn lực nhằm đẩy mạnh hoạt động
của nhà trường theo nguyên lý giáo dục nhằm đạt mục tiêu giáo dục. Do vậy,
công tác quản lý giáo dục nói chung, quản lý nhà trường nói riêng, gồm có
quản lý các hoạt động trong nhà trường và quản lý các quan hệ giữa nhà
trường với xã hội.
1.2.4. Quản lý trường Trung học phổ thông
1.2.4.1. Truờng Trung học phổ thông
Là cấp cuối cùng của hệ thống giáo dục phổ thông gồm 3 năm học,
trường THPT là cấp học hoàn thiện kiến thức phổ thông cho HS, là cấp học
cụ thể trong từng quá trình GD cụ thể mà việc sử dụng PPGD nào đó sẽ được
nhà GD tiến hành bằng cách thực hiện một hay nhiều biện pháp nào đó.
1.3. Quản lý hoạt động dạy học ở các trường Trung học phổ thông.
1.3.1. Đổi mới chương trình giáo dục THPT.
1.3.1.1. Sự cần thiết phải đổi mới chương trình.
Đặc điểm của cấp THPT: Cấp THPT nối tiếp cấp THCS và có trách
nhiệm hoàn thành việc đào tạo tiếp thế hệ trẻ đã qua các cấp học trước đó của
nhà trường phổ thông. Cấp học này một mặt, cần chuẩn bị cho HS những tri
thức và kỹ năng về khoa học xã hội, nhân văn, toán học, khoa học tự nhiên,
kỹ thuật để họ có thể tiếp tục được đào tạo ở bậc học tiếp theo, mặt khác cần
hình thành và phát triển cho họ những hiểu biết về nghề phổ thông cần thiết
cho cuộc sống, tham gia lao động sản xuất, xây dựng xã hội và khi có điều
kiện tiếp tục học lên.
Lý do của việc đổi mới
a. Do yêu cầu của sự phát triển KT – XH đối với việc đào tạo nguồn
nhân lực trong giai đoạn mới; Nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của giai
đoạn mới, ngoài các phẩm chất như lòng yêu nước, yêu CNXH, quý trọng và
hăng say lao động, có lòng nhân ái, ý thức trách nhiệm, còn có những phẩm
16
chất và năng lực cần thiết khác, đó là phẩm chất tôn trọng và nghiêm túc tuân
theo pháp luật; quan tâm và tham gia giải quyết các vấn đề bức xúc mang tính
toàn cầu; có tư duy phê phán để thích ứng với những thay đổi trong cuộc
sống; đó là năng lực hợp tác và giao tiếp có hiệu quả, năng lực chuyển đổi
nghề nghiệp theo yêu cầu mới của sản xuất và thị trường lao động, năng lực
quản lý, nổi bật nhất là năng lực thích ứng với cốt lõi là khả năng phát hiện và
giải quyết vấn đề. Những phẩm chất và năng lực nêu trên phải được xem là
những nội dung chủ yếu của mục tiêu giáo dục và trước hết là mục tiêu của
nhà trường phổ thông.
b. Do sự phát triển nhanh, mạnh với tốc độ mang tính bùng nổ của khoa
học công nghệ: thể hiện qua các lý thuyết, các thành tựu mới và khả năng ứng
và niềm tin đối với việc học tập của HS. Xu thế đổi mới cũng nhằm khắc phục
tình trạng sản phẩm của GD không đáp ứng được yêu cầu biến đổi nhanh và
đa dạng của sự phát triển xã hội, sự bất bình đẳng về cơ hội tiếp nhận GD mà
biểu hiện chủ yếu là sự cách biệt về điều kiện, về trình độ giữa các địa
phương và khu vực, cách biệt giữa giới tính và địa vị xã hội.
1.3.1.2. Những định hướng đổi mới
Những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo đổi mới của giáo dục phổ thông trong
giai đoạn từ nay đến năm 2010.
a. Quán triệt mục tiêu GD
b. Đảm bảo tính khoa học và sư phạm
c. Thể hiện tinh thần đổi mới phương pháp dạy học
d. Đảm bảo tính thống nhất
e. Đáp ứng yêu cầu phát triển của từng đối tượng HS
1.3.1.3. Những vấn đề chung về chương trình
1) Nội dung GDPT phải đạt được các yêu cầu sau
18
a. Đảm bảo giáo dục toàn diện; phát triển cân đối, hài hòa về đạo đức,
trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản; hình thành và phát triển
những phẩm chất, năng lực cần thiết của con người Việt Nam đáp ứng yêu
cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
b. Bảo đảm tính phổ thông, cơ bản, hiện đại, hướng nghiệp và có hệ
thống; chú trọng thực hành, gắn với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với tâm sinh
lý lứa tuổi của học sinh, đáp ứng mục tiêu GDPT.
c. Tạo điều kiện thực hiện phương pháp giáo dục phát huy tính tích cực,
tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, bồi dưỡng năng lực tự học.
d. Bảo đảm tính thống nhất của chương trình GDPT trong phạm vi cả
nước, đồng thời có thể vận dụng cho phù hợp với đặc điểm các vùng miền,
nhà trường và các nhóm đối tượng HS.
e. Tiếp cận trình độ GDPT của các nước có nền giáo dục phát triển
trong khu vực và trên thế giới.
Đánh giá kết quả GD của HS ở các môn học và hoạt động GD trong
mỗi lớp, mỗi cấp học nhằm xác định mức độ đạt được mục tiêu GD, làm căn cứ
để điều chỉnh quá trình GD, góp phần nâng cao chất lượng GD toàn diện.
Đánh giá kết quả GD ở các môn học và hoạt động GD trong mỗi lớp,
mỗi cấp học cần phải:
a. Bảo đảm tính khách quan, toàn diện, khoa học và trung thực.
b. Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ được cụ
thể hóa ở từng môn học, hoạt động GD.
c. Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ, đánh giá
của GV và tự đánh giá của học sinh, đánh giá của nhà trường và đánh giá của
gia đình, của cộng đồng.
d. Kết hợp giữa hình thức trắc nghiệm khách quan, tự luận và các hình
thức đánh giá khác.
20
e. Sử dụng bộ công cụ đánh giá thích hợp .
Bộ GD&ĐT quy định việc đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét
của GV hoặc chỉ đánh giá bằng nhận xét của GV cho từng môn học và hoạt
động GD. Sau mỗi lớp, cấp học có đánh giá xếp loại kết quả GD của HS. Kết
thúc lớp 12, tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT.
1.3.2. Đổi mới quản lý trường THPT
Trong Nghị quyết số 40/2000/QH 10 ngày 9/12/2000 về đổi mới
chương trình GDPT đã xác định: “ Đổi mới nội dung chương trình, sách giáo
khoa, phương pháp dạy và học phải được thực hiện đồng bộ với việc nâng cấp
và đổi mới trong thiết bị dạy học, tổ chức đánh giá, thi cử, chuẩn hóa trường
sở, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và công tác quản lý giáo dục.”. Chỉ thị số
14/2001/CT – TTG của Thủ trướng Chính phủ hướng dẫn cách thực hiện
Nghị quyết này, đổi mới quản lý trường THPT sẽ tập trung vào những nội
dung cụ thể sau :
1.3.2.1. Về nội dung, chương trình, sách giáo khoa.
Hiệu trưởng cần quan tâm đến bồi dưỡng chuyên môn, làm cho GV
đơn vị thực hiện đổi mới PPDH có kết quả.
4. Tổ chức có định kỳ các kỳ thi tay nghề sư phạm.
5. Đổi mới phương pháp đánh giá.
Nội dung cơ bản của quy trình chỉ đạo đổi mới PPDH ở các trường
THPT theo các bước: Chuẩn bị – Tổ chức chỉ đạo điểm – Chỉ đạo phát triển
đại trà - Kiểm tra, đánh giá kết quả, rút ra các bài học kinh nghiệm.
1.3.2.3. Về cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Hiệu trưởng cần hướng tới các biện pháp quản lý để khai thác, sử dụng
triệt để và có hiệu quả những thiết bị dạy học (TBDH) hiện có, được cấp, tự
trang bị, mặt khác, cần khai thác tiềm năng của GV, HS, các lực lượng xã hội
trong việc sưu tầm các mẫu vật, tranh ảnh, trong việc làm ra các TBDH, vừa
22
chú ý quản lý, kiểm tra, ngăn ngừa tình trạng không sử dụng hoặc sử dụng
kém hiệu quả các TBDH hiện có.
1.3.2.4. Về phương pháp đánh giá kết quả học tập.
Bộ GD& ĐT đã ban hành các văn bản đánh giá xếp loại GV và học
sinh và thực hiện quá trình đổi mới đánh giá kết quả GD như : Hướng dẫn HD
10227/THPT ngày 11/9/2001 về đánh giá xếp loại giờ dạy; Quyết định QĐ
12/2006/QĐ- BGD&ĐT ngày 5/4/2005 về việc ban hành Quy chế tuyển sinh
THCS và THPT… Trong các kỳ thi tốt nghiệp và tuyển sinh vào Đại học –
Cao đẳng hàng năm, đề thi được định hướng: đảm bảo cơ bản, không đánh đố,
nhưng yêu cầu phải suy luận để chống lối học tủ, học vẹt của HS.
Căn cứ vào đặc điểm của từng môn học và hoạt động giáo dục của mỗi
cấp học, Hiệu trưởng cần có quy định đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận
xét của GV hoặc đánh giá chỉ bằng nhận xét của GV cho từng môn học và
hoạt động giáo dục.
1.3.2.5. Về việc bồi dưỡng đội ngũ giáo viên.
Thực hiện chỉ thị số 40- CT/TƯ ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về việc
xây dựng, nâng cao chất lượng nhà giáo và CBQL giáo dục, Chỉ thị số
22/2003/CT- BGD&ĐT về việc bồi dưỡng nhà giáo và CBQL giáo dục, Hiệu
dạy của giáo viên không thể tách rời kết quả học tập của học sinh.
Tóm lại, hoạt động dạy học có ưu thế tuyệt đối trong việc hình thành tri
thức phát triển năng lực tư duy thông qua việc dạy các môn học cơ bản, đồng
thời đặt nền móng cho sự phát triển nhân cách toàn diện. Vì thế, hoạt động
dạy học được hiểu một cách đầy đủ bao gồm toàn bộ việc giảng dạy, giáo dục
của giáo viên, việc học tập, rèn luyện của học sinh theo nội dung giáo dục
toàn diện nhằm đào tạo thế hệ trẻ thành những người làm chủ đất nước, có
giác ngộ xã hội chủ nghĩa, có văn hóa, kỹ thuật, có sức khỏe, để đáp ứng nhu
24
cầu xây dựng xã hội mới.
1.3.3.2. Quản lý hoạt động dạy học.
Để quản lý tốt HĐDH ở trường THPT, Hiệu trưởng phải xác định từ
mục tiêu giáo dục: “Đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ, nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc
lập dân tộc và CNXH, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng
lực của công dân đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc”
Mục tiêu của giáo dục phổ thông là “Giúp học sinh phát triển toàn diện
về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành
nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và trách
nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống
lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”
Mục tiêu của giáo dục THPT“Nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển
những kết quả của giáo dục THCS, hoàn thiện học vấn phổ thông và những
hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học lên đại học,
cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao
động”[17 tr21]
Để quản lý có hiệu quả HĐDH trong nhà trường THPT thì người Hiệu
trưởng cần phải chú ý đến các vấn đề sau đây:
Lập kế hoạch: Xây dựng mục tiêu, xây dựng kế hoạch năm học của
nhà trường, chỉ đạo các tổ chuyên môn, các cá nhân lập kế hoạch cụ thể đúng