Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của
giáo vụ ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Phạm Hải Hà
Trường Đại học Giáo dục
Luận văn Thạc sĩ ngành: Quản lý giáo dục; Mã số: 60 14 05
Người hướng dẫn: TS. Đinh Thị Kim Thoa
Năm bảo vệ: 2010
Abstract: Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác giáo vụ dưới góc độ khoa học quản
lý. Phân tích thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ
trường ĐHSP Hà Nội và khoa Giáo dục Mầm non. Đề xuất một số biện pháp nâng cao
hiệu quả hoạt động quản lý của giáo vụ đối với hoạt động dạy và học ở trường ĐHSP
Hà Nội.
Keywords: Công tác giáo vụ; Giáo dục đại học; Hoạt động dạy học; Quản lý giáo dục
Content
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác giáo vụ là một bộ phận hợp thành không thể thiếu được trong công tác quản
lý đào tạo của cấp khoa nói riêng và của cấp trường đại học nói chung với nhiệm vụ cơ bản là
quản lý hoạt động giảng dạy và học tập.
Công tác giáo vụ giúp cho các nhà quản lí nắm bắt được chất lượng giáo dục (giảng
dạy, học tập) và tình hình thực hiện chương trình, kế hoạch công tác chuyên môn của đối
tượng quản lý. Trên cơ sở đó, người làm quản lý sẽ có những biện pháp điều chỉnh, định
hướng đối tượng thực hiện đúng nội dung chương trình, kế hoạch, phương pháp giảng dạy
cho phù hợp với thực tiễn, nâng cao hiệu quả đào tạo.
Trường Đại học Sư phạm (ĐHSP) Hà Nội đã có bề dày 60 năm về hoạt động dạy và
3. Khách thể và đối t-ợng nghiên cứu
3.1. Khách thể nghiên cứu
Cụng tỏc qun lý hot ng dy v hc trng i hc.
3.2. Đối t-ợng nghiên cứu
Cỏc bin phỏp qun lý hot ng dy v hc ca giỏo v trng HSP H Ni. 4. Giả thuyết nghiên cứu
Bin phỏp qun lý hot ng dy v hc ca giỏo v cú mi quan h cht ch vi hiu qu
cht lng cụng tỏc qun lý núi riờng v cht lng o to núi chung. Nu xut c mt
s bin phỏp qun lý ca giỏo v c th nh: Lp k hoch o to, bi dng cỏn b qun lý
cỏn b giỏo v ca trng, khoa; Tng cng s dng cụng ngh thụng tin trong qun lý hot
3
động dạy và học của giáo vụ; Tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy và học; Quản lý
và sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất thì sẽ nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý
hoạt động dạy và học của giáo vụ ở trường Đại học Sư phạm Hà Nội.
5. Phạm vi nghiên cứu
Công tác quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ dành cho hệ cử nhân chính quy
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội và khoa Giáo dục mầm non.
- Điều tra thực trạng quản lý của giáo vụ từ năm 2007 đến năm 2009.
- Một số nội dung quản lý chủ yếu và một số biện pháp.
6. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Nghiên cứu cơ sở lí luận về công tác giáo vụ dưới góc độ khoa học quản lí.
6.2. Phân tích thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động dạy và học của giáo vụ trường
ĐHSP Hà Nội và khoa GDMN.
6.3. Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý của giáo vụ đối với hoạt
động dạy và học ở trường ĐHSP Hà Nội.
7. Ph-¬ng ph¸p nghiªn cøu
Sử dụng phối kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG
DẠY VÀ HỌC Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC
1.1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu
Vấn đề quản lý Nhà nước về quá trình đào tạo đại học đều được các nước nói chung và
Việt Nam nói riêng quan tâm thích đáng; nó được thể hiện trên các mặt: ban hành hệ thống
văn bản pháp luật, quản lý các nội dung cụ thể như quản lý mục tiêu, chương trình, nội dung
đào tạo, quản lý quá trình dạy – học, quản lý thi, kiểm tra và cấp bằng, kiểm tra, thanh tra đào
tạo, khen thưởng, kỷ luật. Hàng năm Bộ Giáo dục và Đào tạo đều tổ chức họp các trường đại
học, cao đẳng trong cả nước để bàn về các biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo đại học và
cao đẳng. Có rất nhiều bài tham luận, bài viết của các nhà quản lý, của các nhà nghiên cứu và
của các giảng viên – người tham gia trực tiếp vào quá trình đào tạo đề cập đến vấn đề này.
Ở các nước có nền giáo dục tiên tiến, họ liên tục đổi mới tư duy về giáo dục - đào tạo,
thường xuyên cải tiến chương trình, nội dung đào tạo và theo đó là cách tạo ra các nguồn lực
tương ứng để đáp ứng mục tiêu đào tạo đại học. Chính nguồn nhân lực với kiến thức, kỹ năng
đầy đủ này lại góp phần thúc đẩy nền kinh tế – xã hội của các nước ngày càng phát triển
nhanh chóng. Trong những năm gần đây, kinh nghiệm đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao
của Mỹ, Anh, các nước phương Tây, CHLB Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singgapo, Trung
Quốc, làm chúng ta phải suy nghĩ và học tập. Họ có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, có
chương trình đào tạo được đổi mới thường xuyên và quản lý tốt quá trình đào tạo để tạo
nguồn nhân lực biết làm việc, thích ứng trong thế giới đa cực hoá và toàn cầu hoá hiện nay.
5
Nhận thức sâu sắc vấn đề đó, Bộ GD & ĐT, các Viện và các Trường đã có nhiều đề tài
nghiên cứu, nhiều hội thảo, nhiều ý kiến chuyên gia về vấn đề quản lý Giáo dục- Đào tạo nói
chung và chủ yếu đề cập đến những vấn đề lớn như:
trường Cao đẳng sư phạm Quảng Ninh”. Võ Tiến Quang. Hà Nội, 2004.
6
- “Một số biện pháp cải tiến công tác giáo vụ ở khoa Sư phạm kỹ thuật trường ĐHSP
Hà Nội”. Nguyễn Thị Tự, 1999
Như vậy, việc nghiên cứu, đánh giá hoạt động dạy và học trong trường Đại học nói
chung và Trường ĐHSP nói riêng thông qua công tác giáo vụ thì hoàn toàn chưa được đề cập
đến. Tuy nhiên những công trình nghiên cứu kể trên cũng là cơ sở, điều kiện để chúng tôi tiếp
tục nghiên cứu đề tài của mình.
1.2. Một số vấn đề lý luận về Quản lý
1.2.1. Khái niệm Quản lý
Quản lý là nhân tố không thể thiếu được trong đời sống và sự phát triển của xã hội.
Loài người đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với nhiều hình thái xã hội khác nhau nên cũng
đã trải qua nhiều hình thức quản lý khác nhau. Các triết gia, các nhà chính trị từ thời cổ đại
đến nay đều rất coi trọng vai trò của quản lý trong sự ổn định và phát triển của xã hội. Nó là
một phạm trù tồn tại khách quan và là một tất yếu lịch sử. Ở mỗi góc độ tiếp cận và hoạt
động, người ta có thể đưa ra một quan niệm và quản lý khác nhau.
Các Mác viết: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành
trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những
hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ
thể khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự
điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [27].
Hoạt động quản lý bắt nguồn từ phân công lao động của xã hội loài người nhằm đạt
mục đích, hiệu quả cao hơn, năng suất cao hơn. Đó chính là hoạt động giúp con người đứng
đầu tổ chức phối hợp sự nỗ lực các thành viên trong nhóm, trong cộng đồng nhằm đạt mục
tiêu đề ra.
Trong quá trình tồn tại và phát triển của quản lý, đặc biệt trong quá trình xây dựng lý
luận về quản lý, khái niệm quản lý được nhiều nhà lý luận đưa ra, nó thường phụ thuộc vào
lĩnh vực hoạt động, nghiên cứu của mỗi người. Chẳng hạn:
- Theo quan điểm triết học, quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất
Tác giả Hồ Văn Vĩnh cho rằng: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của
chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đã đề ra” [42].
Theo quan điểm của Nguyễn Quang Toản- Trung tâm quản lý chất lượng quốc tế
(IQC) thì: Quản lý là các hoạt động có phối hợp để định hướng và kiểm soát một tổ chức
trong việc đạt mục đích đề ra [41].
Theo tác giả Nguyễn Đức Trí: “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có
chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về
tình trạng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho
nó phát triển tới mục tiêu đã định [40].
Nhìn chung các tác giả đã nêu quan niệm của mình về quản lý với những cách tiếp cận
khác nhau nhưng từ những quan niệm đó có thể thấy rõ được nội hàm khái niệm quản lý như
sau:
8
- Quản lý là hoạt động lao động, hoạt động này để điều khiển lao động.
- Trong quản lý bao giờ cũng có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý quan hệ với nhau
bằng những tác động quản lý. Những tác động quản lý chính là những quyết định quản lý, là
những nội dung và chủ thể quản lý yêu cầu đối với đối tượng quản lý.
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao
động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành.
- Quản lý là một hệ thống xã hội trên nhiều phương diện. Điều đó cũng xác lập rằng
quản lý phải có một cấu trúc và vận động trong một môi trường xác định.
Hoạt động “quản lý” bao giờ cũng gắn với hoạt động có ý thức của con người và toàn
xã hội dưới tác động của hoàn cảnh nhằm định hướng sự vận động và phát triển của đối tượng
cần quản lý theo một mục đích nhất định. Khái niệm đó phải bao quản được tất cả mọi hoạt
động của con người. Đồng thời khái niệm “quản lý” cũng như bất kỳ một khái niệm nào khác
cũng phải xây dựng theo những quy tắc khái niệm và không phạm phải sai lầm có thể có khi
khái niệm sẽ thuộc loại khái niệm chính xác.
Trong các quan điểm về quản lý đã nêu trên chúng ta nhận thấy hầu như các quan điểm
đó chưa bao quát được mọi hoạt động của con người. Có định nghĩa chưa nêu được khuynh
tích các thông tin quản lý, căn cứ vào những tiềm năng đã có và những khả năng sẽ có mà xác
định rõ hệ thống mục tiêu, nội dung hoạt động, các giải pháp cần thiếu để chỉ rõ trạng thái
mong muốn của đối tượng khi kết thúc các hoạt động. Kế hoạch hoá có vai trò to lớn như vậy
với bản thân nó có những chức năng cơ bản cụ thể sau:
Chức năng chuẩn đoán: Bao gồm việc xác định trạng thái xuất phát và những phân tích về
trạng thái đó
Chức năng dự báo: Bao gồm việc xác định nhu cầu và các mục tiêu để suy ra những hướng
phát triển cơ bản, trong đó có tính tới nhu cầu bên ngoài và bên trong. Lựa chọn những hướng
ưu tiên, dự kiến những mục tiêu cần đạt và các tiêu chuẩn đánh giá.
Chức năng dự đoán: Bao gồm việc phát hiện các phương án chọn lựa có tính đến tiềm năng
của nguồn lực dự trữ và những mong muốn chủ quan.
Thứ hai, chức năng tổ chức
Bamard định nghĩa tổ chức như là “hệ thống các hoạt động hay tác động có ý thức của
hai hay nhiều người”. Cuốn “Cơ sở khoa học của quản lý” đã xác định: “Tổ chức là hoạt động
hướng tới hình thành cấu trúc tối ưu của hệ thống quản lý và phối hợp tốt nhất giữa các hệ
thống lãnh đạo và bị lãnh đạo (chấp hành) [12].
Nhờ chức năng tổ chức mà hệ thống quản lý trở nên có hiệu quả, cho phép các cá nhân
góp phần tốt nhất vào mục tiêu chung. Tổ chức được coi là điều kiện của quản lý, đúng như
V.I.Lê-Nin đã khẳng định: “Chúng ta phải hiểu rằng muốn quản lý tốt – còn phải biết tổ chức
về mặt thực tiễn nữa”. Thực chất của tổ chức là thiết lập mối quan hệ bền vững giữa con
người, giữa các bộ phận trong hệ thống quản lý. Tổ chức tốt sẽ khơi nguồn các động lực, tổ
chức không tốt sẽ làm triệt tiêu động lực và giảm sút hiệu quả quản lý.
Thứ ba, chức năng chỉ đạo
10
Chỉ đạo là quá trình tác động ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến hành vi và thái độ của
những người khác nhằm đạt các mục tiêu đã đề ra. Chỉ đạo thể hiện quá trình ảnh hưởng qua
lại giữa chủ thể quản lý và mọi thành viên trong tổ chức nhằm góp phần thực hiện hoá các
mục tiêu đã đặt ra.
Chức năng chỉ đạo, xét cho cùng là sự tác động lên con người, khơi dậy động lực của
1.3.1. Khái niệm quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý
nhằm đưa hoạt động sư phạm của hệ thống giáo dục đạt tới kết quả mong muốn bằng cách
hiệu quả nhất. Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quan là một hoạt động điều hành, phối hợp
giữa các lực lượng trong xã hội nhằm đẩy mạnh công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát
triển ngày càng cao của xã hội.
Theo Phạm Minh Hạc: “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động dạy học. Có tổ chức
được các hoạt động dạy học, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam
xã hội chủ nghĩa mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hóa đường lối của Đảng và biến
đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước” [23].
Theo Nguyễn Quang Học, quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối và
nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa
Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học.
Có thể nói rằng quản lý giáo dục chứa đựng những đặc trưng sau:
- Chủ thể quản lý ở tầm vĩ mô: Là quản lý của nhà nước mà cơ quan quản lý trực tiếp
là Bộ giáo dục, Sở giáo dục, Phòng giáo dục.
- Chủ thể quản lý ở tầm vi mô: Là quản lý của Hiệu trưởng các trường dưới Hiệu
trưởng là các Chủ nhiệm khoa, Trưởng các phòng ban, Giám đốc các trung tâm, Viện trưởng
các viện nghiên cứu.
Quản lý giáo dục có tính chất xã hội cao bởi vì luôn luôn trong nó cần phải được tập
trung giải quyết các vấn đề có tính thời sự như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh
quốc phòng để phục vụ tốt cho công tác giáo dục.
- Khách thể quản lý giáo dục là đội ngũ giáo viên, sinh viên và học viên, có thể nói
trong giáo dục và đào tạo thì đây là đối tượng khách thể quan trọng nhất nhưng đồng thời ở
một lĩnh vực nào đó đội ngũ này cũng là chủ thể quản lý trực tiếp quản lý quá trình giáo dục.
Khách thể quản lý là những con người cụ thể, trong họ có rất nhiều mối quan hệ đan xen,
phức tạp, đa dạng mà người quản lý phải đối phó, xử lý khi thực hiện chức năng quản lý của
mình. Vì vậy người quản lý phải biết biến các mối quan hệ trên trở thành các yếu tố tích cực
tạo nên môi trường thuận lợi nhất để hướng tới hoàn thành mục tiêu chung.
Quản lý nhà trường là quá trình thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi
quyển hạn và trách nhiệm của mình tức là phải đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo
dục để tiến tới mục tiêu giáo dục.
Quản lý nhà trường chính là quản lý giáo dục nhưng trong một phạm vi xác định của
một đơn vị giáo dục nền tảng đó là nhà trường. Vì thế quản lý nhà trường phải vận dụng tất cả
các nguyên lý chung của quản lý giáo dục để đẩy mạnh mọi hoạt động củ nhà trường theo
mục tiêu đào tạo.
Tóm lại bản chất của quản lý nhà trường là quản lý mọi hoạt động dạy và hoạt động
học làm sao để đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác để dần dần tiến tới
mục tiêu giáo dục. Một nhà trường có tổ chức dạy và học tốt là nhà trường đã cụ thể hóa được
13
đường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam thành hiện thực, đáp ứng được nhu
cầu học tập suốt đời của nhân dân. Tạo mọi điều kiện để mọi người dân đều được đến trường,
đều có cơ hội học tập như nhau, học tập suốt đời.
Ở đây chúng tôi lấy định nghĩa về quản lý nhà trường của tác giả Phạm Viết Vượng:
“Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý, nhằm tập hợp và tổ chức các lao
động của giáo viên, học sinh sinh viên và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối
đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”.
Quản lý nhà trường về cơ bản khác với quản lý ở các lĩnh vực khác, vì ở đây những
tác động của chủ thể quản lý là những tác động của công tác tổ chức sư phạm đến đối tượng
quản lý nhằm giải quyết những nhiệm vụ giáo dục của nhà trường. Đó là một hệ thống có tác
động, có phương hướng, có mục đích, có kế hoạch, có mối quan hệ qua lại lẫn nhau, phụ
thuộc vào nhau.
1.3.3. Quản lý hoạt động dạy và học
* Dạy học là quá trình tác động qua lại giữa người dạy và người học nhằm giúp cho
người học lĩnh hội những tri thức khoa học, kỹ năng hoạt động nhận thức và thực tiễn, phát
triển các năng lực hoạt động sáng tạo, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan và các phẩm chất
nhân cách của người học theo mục tiêu giáo dục.
* Hoạt động dạy học: là hoạt động mà trong đó dưới sự tổ chức, điều khiển, lãnh đạo
Biện pháp quản lý chính là cách làm cụ thể của chủ thể quản lý tác động tới đối tượng
quản lý theo một phương pháp nhất định, nhằm đạt mục tiêu đã đề ra.
Hiệu quả của công tác quản lý phụ thuộc vào tác dụng của các biện pháp quản lý đã
được áp dụng. Nếu chủ thể quản lý lựa chọn được các biện pháp quản lý đúng đắn, áp dụng
linh hoạt, đúng thời điểm, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của thực tế thì các biện pháp đó
sẽ phát huy tác dụng, công tác quản lý sẽ đạt hiệu quả cao và ngược lại.
Thực tiễn cho thấy, đối tượng quản lý luôn thay đổi và chứa đựng nhiều yếu tố phức
tạp, nên đòi hỏi các biện pháp quản lý cũng phải linh hoạt, đa dạng. Để thực hiện một mục
tiêu trong công tác quản lý ta phải áp dụng đồng bộ nhiều biện pháp quản lý, các biện pháp
quản lý thường có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống các biện pháp.
Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học được hiểu là cách tác động của chủ thể quản
lý giáo dục tới đội ngũ cán bộ, giáo viên, sinh viên và các điều kiện về tài chính, cơ sở vật
chất nhằm đạt mục tiêu của nhà quản lý đã đề ra.
Biện pháp quản lý hoạt động dạy và học bao gồm: việc xây dựng kế hoạch dạy học, tổ
chức, sắp xếp, sử dụng các nguồn lực (nhân lực, vật lực), chỉ đạo, kiểm tra, điều chỉnh các
hoạt động dạy và hoạt động học cụ thể, nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.
Có đầy đủ các biện pháp quản lý hoạt động dạy học một cách khoa học, áp dụng đồng
bộ, linh hoạt sẽ mang lại hiệu quả của hoạt động quản lý, góp phần nâng cao chất lượng dạy
học.
1.3.4. Quản lý hoạt động dạy và học trong trường Đại học
15
Khái niệm: Quản lý Dạy- Học trong trường Đại học là hệ thống những tác động có
mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho quá trình dạy học
vận hành theo đường lối của Nhà nước, thực hiện được những yêu cầu của nền giáo dục
xã hội trong việc đào tạo con người theo mẫu người của thời đại, tập trung vào hoạt động
dạy - học, đưa hệ thống từ trạng thái ban đầu đến mục tiêu.
Để xây dựng công tác quản lý các hoạt động dạy và học nói chung và công tác quản lý
hoạt động dạy và học trong các trường Đại học nói riêng cần làm rõ những vấn đề sau:
- Đối tượng quản lý (quản lý ai, quản lý cái gì, quản lý hoạt động nào?)
tượng và nhiệm vụ nhất định.
Nội dung của quản lý hoạt động dạy và học ở trường đại học
- Quản lý mục tiêu đào tạo, kế hoạch và chương trình giảng dạy (Thường nói
ngắn gọn là Quản lý mục tiêu, nội dung đào tạo) là quản lý hoạt động dạy của giáo viên sao
cho các kế hoạch và chương trình giảng dạy được thực hiện đúng nội dung, thời gian và quán
triệt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo .
- Quản lý giáo viên, học sinh là: quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ giảng dạy của
giáo viên, các nhiệm vụ học tập, rèn luyện của học sinh.
- Quản lý nề nếp dạy học là quản lý việc chấp hành các quy định dạy học như các
nội quy, quy chế, chế độ một cách nề nếp ổn định, có kỷ cương phép tắc, nghiêm chỉnh, tự
giác và tình cảm trách nhiệm sâu sắc.
- Quản lý chất lượng dạy học là phát hiện kịp thời các nguyên nhân dẫn đến tình
trạng yếu kém, đề ra và tổ chức thực hiện các biện pháp khắc phục những yếu kém nhằm đảm
bảo đạt được chất lượng yêu cầu.
1.4. Công tác giáo vụ trong trƣờng Đại học
1.4.1. Khái niệm về giáo vụ: Theo từ điển Tiếng Việt “Giáo vụ là bộ phận trông nom việc
giảng dạy và học tập của một trường”.
Công tác giáo vụ trong một trường đại học được thể hiện theo mối liên kết sau: Giảng viên Sinh viên
tra đánh giá và xây dựng ngân hàng đề thi để đảm bảo kết quả thi khách quan và có tác dụng
tích cực đối với người học.
* Tư vấn cho Ban Giám hiệu về đổi mới công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và thực tập sư
phạm nhằm tạo nên sự phối hợp tốt giữa trường và các cơ sở thực tập của sinh viên trong việc
đánh giá xếp loại thực tập sư phạm, nâng cao chất lượng thực tập và tiết kiệm kinh phí.
* Phối hợp với các khoa, phòng ban chức năng và kí túc xá quản lí số sinh viên chính qui nội
trú tại trường; kết hợp với chính quyền đoàn thể ở các khu dân cư để quản lí tốt số sinh viên
ngoại trú; thực hiện qui chế và chính sách đối với học sinh, sinh viên.
* Sử dụng công nghệ thông tin trong quản lí đào tạo và quản lí sinh viên.
1.4.3. Nhiệm vụ cụ thể của công tác giáo vụ ở trường Đại học
a. Quản lý kế hoạch đào tạo.
* Cụ thể hóa và triển khai thực hiện các văn bản, quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về
công tác đào tạo.
* Xây dựng kế hoạch đào tạo toàn Trường (bao gồm dự kiến số lượng đào tạo).
18
* Xây dựng chương trình đào tạo theo dõi thực hiện chương trình đào tạo.
* Xây dựng lịch học, lịch thi. Phối hợp các đơn vị tổ chức các kỳ thi: tuyển sinh, kết thúc học
kỳ, tốt nghiệp.
* Quản lý kết quả học tập, đánh giá chất lượng đào tạo trong Trường. Trên cơ sở chất lượng
đào tạo, thẩm định quy trình và đề xuất những thay đổi nhằm nâng cao chất lượng đào tạo.
Nghiên cứu và thực hiện các hình thức kiểm định chất lượng đào tạo.
* Chịu trách nhiệm phát hành những chứng nhận kết quả học tập của sinh viên; quản lý công
tác cấp Chứng chỉ, Văn bằng tốt nghiệp.
* Điều phối hoạt động giảng dạy và quản lý chất lượng tại nơi Trường liên kết đào tạo.
* Tổ chức quản lý việc biên soạn, in ấn giáo trình phục vụ giảng dạy và học tập.
b. Quản lý sinh viên.
* Lưu trữ hồ sơ sinh viên trong suốt quá trình đào tạo và hồ sơ sinh viên tốt nghiệp (bằng văn
bản và dữ liệu trong máy tính). Trích lục, chứng thực, sao y các văn bản, hồ sơ sinh viên theo
chức năng quản lý và theo quy định của pháp luật.
riêng cho mình, đảm bảo cho họ trong cùng một thời gian có thể vừa giảng dạy (học tập), vừa
tự học nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ, tin học, tham gia nghiên cứu khoa
học…Những thuận lợi trên lại tạo điều kiện để dễ dàng duy trì nội qui, nề nếp giảng dạy và
học tập của giáo viên và tận dụng tối đa công xuất sử dụng phòng học, trang thiết bị đảm bảo
hiệu quả việc đầu tư trang thiết bị và tiết kiệm được thời gian, cơ sở vật chất trong điều kiện
nguồn kinh phí chi cho các trường đại học hiện nay còn nhiều thiếu thốn.
- Thứ hai, với chức năng là tổ chức quản lý kết quả học tập của sinh viên, giáo vụ
tham gia trực tiếp vào khâu đánh giá quá trình đào tạo – khâu rất quan trọng của việc đào tạo
vì nó chí phối toàn bộ quá trình đào tạo. Giáo vụ giúp cho việc tổ chức đánh giá được khách
quan, công bằng (bảo mật đề thi, tổ chức thi cử, tổng hợp kết quả và phân loại kết quả học tập
cho sinh viên). Đây là yếu tố tạo ra nội lực cho người học cố gắng học tập để đạt mục đích và
giúp cho việc nâng cao uy tín và vị thế của giáo viên trước sinh viên. Hơn nữa việc kịp thời
tổng kết, phân loại kết quả học tập của sinh viên còn giúp cho sinh viên biết được kết quả học
tập của mình để điều chỉnh kế hoạch học tập của bản thân, giáo viên biết được khả năng học
tập của sinh viên để sớm điều chỉnh phương pháp dạy học cho phù hợp với khả năng tiếp thu
của sinh viên. Đánh giá đúng kết quả học tập của sinh viên còn là cơ sở để thực thi các chế độ
chính sách của Đảng và Nhà nước trong giáo dục, có tác dụng trực tiếp khuyến khích người
học, người dạy cũng như tạo dư luận xã hội lành mạnh cho công tác đánh giá giáo dục - điều
mà mọi người dân và các tổ chức xã hội, các cấp quản lý đều quan tâm.
Thứ ba, giáo vụ là người theo sát quá trình học tập và rèn luyện của sinh viên từ khi
mới bước vào trường đến khi tốt nghiệp: bắt đầu bằng việc tiếp nhận sinh viên vào trường,
giúp đỡ sinh viên tổ chức cơ cấu nhân sự lớp, dõi theo họ trong cả quá trình đào tạo từng ngày
không chỉ riêng hoạt động học trên lớp mà còn các hoạt động phong trào khác, chăm lo đảm
bảo chế độ chính sách với các đối tượng ưu tiên, đảm bảo cho họ có điều kiện thuận lợi nhất
để thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của người học…Rõ ràng, nhiệm vụ của giáo vụ ở trường
20
đại học nặng nề hơn so với ở trường phổ thông ở điểm này vì họ đã phải thực thi một phần
công việc của giáo viên chủ nhiệm lớp. Do vậy, họ cũng nắm bắt được tình hình hoạt động
của sinh viên cụ thể hơn, kịp thời hơn và nhiệm vụ của giáo vụ ở trường đại học cũng vì thể
những vấn đề cần phải giải quyết.
21
* Lập và theo dõi việc ghi chép các sổ sách chuyên môn như sổ đầu bài, sổ theo dõi học
tập để khi cần có thể báo ngay được.
* Lên sổ điểm, viết học bạ cho sinh viên từng học kỳ, từng năm học bao gồm phiếu
điểm, phiếu đánh giá, nhận xét (có sự phối hợp của giáo viên chủ nhiệm lớp), báo cáo để
Trưởng khoa duyệt.
* Lập danh sách, làm báo cáo thống kê tình hình học tập và rèn luyện của sinh viên theo
yêu cầu của Khoa và Trường.
22
Kết luận chƣơng 1
Qua nghiên cứu cơ sở lý luận về quản lý, quản lý nhà trường trong đó trọng tâm là quản
lý hoạt động dạy và học của giáo vụ khoa, trường được trình bày ở trên, tôi rút ra một số kết
luận sau đây:
Quản lý là một hiện tượng xã hội. Trong một tổ chức thì hoạt động quản lý là tất yếu.
Bản chất của hoạt động quản lý là tổ chức, điều khiển của chủ thể quản lý đến khách thể quản
lý. Quản lý một tổ chức với tư cách là một hệ thống xã hội khoa học và là nghệ thuật tác động
vào hệ thống, từng thành tố của hệ thống bằng những phương pháp thích hợp nhằm đạt được
mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của
chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ thống vận hành theo đường lối, nguyên lý giáo dục đã đặt
ra. Nhà trường là tổ chức giáo dục chuyên nghiệp, vì vậy công tác quản lý nhà trường là công
tác trọng tâm của quản lý giáo dục. Trong nhà trường công tác quản lý hoạt động dạy và học
theo chức năng được giao cho phòng Đào tạo, đối với mỗi khoa, nhiệm vụ này được giao cho
cán bộ giáo vụ khoa .Vì vậy phòng Đào tạo là hạt nhân của hoạt động dạy học trong nhà
trường. Vì lẽ đó nội dung cơ bản nhất trong nhà trường chính là quản lý hoạt động dạy học.
Đối với trường Đại học quản lý hoạt động dạy và học nhằm thực hiện tốt các nhiệm
vụ dạy học, thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung phương pháp dạy học, kết quả về
toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006- 2020”, Hà Nội .
9. Nguyễn Đức Chính (2002). Kiểm định chất lượng trong giáo dục đại học. Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội.
10. Đỗ Minh Cƣơng- Nguyễn Thị Doan (2001), Phát triển nguồn nhân lực Giáo dục Đại
học Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
11. Vũ Cao Đàm (1998). Phương pháp luận nghiên cứu khoa học. Nxb Khoa học và kỹ thuật
12. Nguyễn Minh Đạo (1997). Cơ sở khoa học của quản lý, Hà Nội.
13. Nguyễn Minh Đạo ( 1997), Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội.
14. Đảng Cộng Sản Việt Nam(1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. NXB
Chính trị Quốc gia.
15. Đảng Cộng sản Việt Nam ( 1997), Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung
ương khoá VIII, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội
16. Đảng bộ Thành phố Hà Nội (2000), Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ 13, Hà
Nội.
17. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nhà
xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
18. Đảng Cộng sản Việt Nam (2002), Văn kiện Hội nghị lần thứ 6, Ban chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX,, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam ( 2004), Chỉ thị số 40-CT/TW ngày 15 tháng 6 năm 2004 của
Ban Bí thư Trung ương Đảng về việc xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán
bộ quản lý giáo dục, Hà Nội.
24
20. Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo (2006), Quản lý giáo dục, Nhà xuất bản
Đại học Sư phạm, Hà Nội
21. Hà Sỹ Hồ (1985), Những bài giảng về quản lý giáo dục, tập II, Nhà Xuất bản Giáo dục,
Hà Nội
22. Vũ Ngọc Hải(2004), Lý luận quản lý nhà nước về giáo dục. Tài liệu giảng dạy.
23. Phạm Minh Hạc (1986). Một số vấn đề về giáo dục và khoa học giáo dục. Nxb Giáo dục
Hà Nội.
41. Nguyễn Đức Trí (1999). Quản lý quá trình GD&ĐT- Giáo trình TC&QLCTVH-GD.
Viện nghiên cứu phát triển giáo dục, Hà Nội.
42. Nguyễn Quang Toản (2002). Bài giảng về hệ thống quản lý chất lượng và từ vựng
43. Hồ Văn Vĩnh (2002). Giáo trình khoa học quản lý.
Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội
44. Harold Koonzt Cyrill O’Donnell Heinz Weihrich (2002). Những vấn đề cốt yếu của
quản lý (bản tiếng Việt), Nxb Khoa học kỹ thuật, Hà Nội.
45. Paul Hersey- Ken Blanc Heard (1995). Quản lý nguồn nhân lực (sách tham khảo). Nxb
chính trị quốc gia Hà Nội.