kinh tế học đại cương chương 5 đo lường sản lượng quốc gia - Pdf 26

Chương 5
ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
I. TỔNG QUAN VỀ ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
I.1. Định nghĩa sản xuất
Sản xuất là hoạt động căn bản nhất của nền kinh tế vì nó giúp tạo ra của cải vật chất để duy trì
đồng thời nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo ra thu nhập cho con người. Song, có nhiều định
nghĩa khác nhau về sản xuất. Các định nghĩa này được hoàn chỉnh theo thời gian để có thể miêu tả
hoạt động thực tế một các chính xác nhất. Theo lịch sử phát triển của kinh tế học vĩ mô, có rất
nhiều nhà kinh tế đóng góp vào việc làm này.
Vào thế kỷ 16, F. Quesnay (1694–1774), người đứng đầu trường phái trọng nông, đưa ra khái
niệm đầu tiên về sản xuất. Ông cho rằng sản xuất là tạo ra sản lượng thuần tăng, đó là lượng sản
phẩm tăng thêm so với số lượng yếu tố đầu vào được đưa vào sản xuất. Thí dụ, nếu gieo một hạt
lúa sau một thời gian thu hoạch được 100 hạt thì sản lượng thuần tăng của sản xuất lúa sẽ là 99 hạt.
Đến thế kỷ 18, Adam Smith (1723–1790) đưa ra khái niệm khác về sản xuất.
1
Theo ông, sản
xuất là sáng tạo ra các sản phẩm vật chất – những sản phẩm hữu hình, có thể nhìn thấy, sờ mó
được. Với quan điểm này thì các ngành được xem là ngành sản xuất bao gồm nông nghiệp, lâm
nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng. Những ngành còn lại như thương nghiệp, giao
thông vận tải, bưu điện, v.v. chỉ tạo ra sản phẩm (dịch vụ) vô hình, không thể nhìn thấy và sờ mó
được thì không phải là sản xuất, cho nên không được tính vào sản lượng quốc gia.
Vào thế kỷ 19, Karl Marx (1818–1883) mở rộng quan điểm về sản xuất của Adam Smith.
Marx cũng cho rằng sản xuất là tạo ra sản phẩm vật chất giống như Smith, nhưng khái niệm sản
phẩm vật chất của Marx bao gồm hai phần:
i. Một là toàn bộ các sản phẩm hữu hình do các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp,
công nghiệp và xây dựng tạo ra.
ii. Hai là một phần các sản phẩm vô hình (dịch vụ) được tạo ra bởi các ngành thương nghiệp, giao
thông vận tải và bưu điện. Đối với các ngành sản xuất sản phẩm vô hình, Marx cho rằng chỉ
được xem là sản xuất khi chi phí hoạt động của chúng nhằm mục đích phục vụ cho tiêu dùng
phải được loại ra. Như vậy, chỉ được tính vào sản lượng quốc gia phần giá trị mà các ngành
này phục vụ cho sản xuất.

giá trị kinh tế của nhà máy, trang thiết bị, công trình dân cư giảm đi hàng năm. Khi đó:
NNP = GNP – khấu hao.
Trong hệ thống tài khoản thu nhập quốc dân, khấu hao được gọi là tiêu dùng vốn cố định. Do
khấu hao là chi phí sản xuất sản phẩm của nền kinh tế nên khấu trừ khấu hao sẽ cho biết kết
quả ròng của hoạt động kinh tế. Vì lý do này, nhiều nhà kinh tế tin rằng NNP là chỉ tiêu đo
lường mức độ giàu có của một quốc gia tốt hơn cả GDP và GNP.
iv. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội ròng (NDP).
Ngoài bốn chỉ tiêu nêu trên, còn có ba chỉ tiêu khác cũng được sử dụng khá rộng rãi trong các
lý thuyết kinh tế là:
i. Thu nhập quốc dân hay lợi tức quốc gia (NI): Ngoài các chỉ tiêu trên, thu nhập quốc dân còn
được điều chỉnh để loại trừ thuế, như thuế doanh thu. Những loại thuế này, thường chiếm
khoảng 10% NNP, tạo ra khoản chênh lệch giữa giá mà người tiêu dùng phải trả cho hàng hóa
và giá mà người sản xuất nhận được. Do nhà sản xuất không bao giờ nhận được khoản thuế
2
Simon Kuznets sinh ở Nga vào năm 1901 trong một gia đình người Do Thái và chuyển đến sống ở Mỹ năm 1922. Ông
hoàn thành chương trình đại học năm 1923, master năm 1924, và tiến sĩ năm 1926 cùng ở Đại học Columbia. Công trình
nghiên cứu quan trọng nhất của ông tập trung vào các lãnh vực là thu nhập quốc dân, sự hình thành vốn của nền kinh tế, và
tăng trưởng kinh tế của các quốc gia. Ông là giáo sư ở Đại học Pennsylvania (1931–1954), Đại học Johns Hopkins (1954–
1960), và Đại học Harvard (1960–1971). Ông nhận được giải Nobel Kinh tế năm 1971.
2
này nên nó không phải là thu nhập của họ. Sau khi khấu trừ thuế gián tiếp doanh nghiệp ra khỏi
NNP, ta sẽ có chỉ tiêu thu nhập quốc dân (NI):
NI = NNP – Thuế gián tiếp doanh nghiệp.
Thu nhập quốc dân đo lường thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế. Hệ thống tài khoản
thu nhập quốc dân phân chia thu nhập quốc dân thành năm thành phần tùy thuộc vào nguồn gốc
phát sinh của chúng. Năm thành phần này là: (i) tiền lương trả cho lao động: lương và các khoản
thu nhập phụ khác của người lao động; (ii) thu nhập từ sở hữu: thu nhập các loại hình kinh doanh
như trang trại quy mô nhỏ, tiệm tạp hóa gia đình, liên danh tư vấn luật, v.v.; (iii) thu nhập từ cho
thuê: thu nhập mà người sở hữu đất nhận được từ tiền cho thuê; (iv) lợi nhuận doanh nghiệp; (v)
lãi suất ròng.

NINNPGNPGDP
CPCPCPCP
,,,
,,,
////
=
,
trong đó: GDP
P/C
, GNP
P/C
, NNP
P/C
, và NI
P/C
lần lượt là GDP, GNP, NNP, NI tính bình quân đầu
người và N là tổng dân số.
II. TÍNH GDP DANH NGHĨA THÔNG QUA GIÁ THỊ TRƯỜNG
GDP là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một
nước trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Sản phẩm cuối cùng là sản phẩm dùng
để đáp ứng nhu cầu sử dụng cuối cùng của nền kinh tế như tiêu dùng (cá nhân hay chánh phủ), đầu
tư hay xuất khẩu. Sản phẩm trung gian – sản phẩm hình thành nên chi phí trung gian và không phải
là sản phẩm cuối cùng – là những loại sản phẩm được dùng như là yếu tố đầu vào để sản xuất ra
sản phẩm khác và chỉ được sử dụng một lần trong quá trình đó, nghĩa là giá trị của nó được chuyển
hết vào giá trị sản phẩm mới. Thí dụ, đá vôi khai thác từ tự nhiên là sản phẩm trung gian của sản
phẩm cuối cùng là xi măng; gỗ xẻ là sản phẩm trung gian của sản phẩm cuối cùng là bàn, ghế, tủ;
quặng sắt là sản phẩm trung gian của sắt thép xây dựng, v.v.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hiện nay GDP được xem là chỉ tiêu đo lường
tốt nhất kết quả hoạt động của nền kinh tế. Chỉ tiêu này tổng hợp giá trị tính bằng tiền của toàn bộ
hoạt động kinh tế của nền kinh tế. Chính xác hơn, GDP bằng với tổng thu nhập của mọi người dân

doanh nghiệp (cũng là một bộ phận của hộ gia đình). Như vậy, chi tiêu cho bánh mì chuyển từ hộ
gia đình sang doanh nghiệp và thu nhập dưới hình thức tiền lương và lợi nhuận được chuyển từ
doanh nghiệp sang hộ gia đình.
GDP đo lường quy mô của dòng lưu chuyển tiền trong nền kinh tế. Ta có thể tính GDP bằng
hai cách. Một, GDP đo lường tổng thu nhập từ sản xuất bánh mì. Khoản thu nhập này bằng với
tổng tiền lương và lợi nhuận ở phần nửa trên của dòng lưu chuyển tiền trong Sơ đồ 2.1. Hai, GDP
là số chi tiêu cho bánh mì ở nửa phần dưới của dòng lưu chuyển tiền tiền tệ trong Sơ đồ 2.1. Như
vậy, ta có thể tính GDP bằng cách tiếp cận từ lưu chuyển tiền tệ từ doanh nghiệp đến hộ gia đình
(đó là thu nhập) hay từ hộ gia đình đến doanh nghiệp (đó là chi tiêu).
Sơ đồ 5.1. Dòng lưu chuyển của nền kinh tế
Tổng chi tiêu của nền kinh tế và tổng thu nhập phải bằng nhau vì mỗi giao dịch của nền kinh
tế luôn có hai phía, đó là người mua và người bán. Chi tiêu của người mua đối với hàng hóa, theo
nguyên tắc kế toán, chính là thu nhập của người bán. Vì vậy, bất kỳ giao dịch nào có ảnh hưởng
Hộ gia đình
Doanh nghiệp
Thu nhập (tiền lương và lợi nhuận)
Lao động
Chi tiêu
Bánh mì
5
đến chi tiêu thì cũng sẽ có ảnh hưởng đến thu nhập. Thí dụ, một doanh nghiệp sản xuất và bán một
ổ bánh mì cho hộ gia đình. Rõ ràng là giao dịch này làm tăng chi tiêu và cũng làm tăng thu nhập.
Nếu doanh nghiệp sản xuất thêm bánh mì mà không thuê thêm lao động (do quá trình sản xuất
được quản lý một cách hiệu quả hơn, chẳng hạn) thì lợi nhuận sẽ tăng. Lợi nhuận tăng thì sẽ làm
tăng thu nhập của hộ gia đình vì thu nhập của hộ gia đình bao gồm cả lợi nhuận, như đề cập trước
đây. Nếu doanh nghiệp sản xuất thêm bánh mì và thuê thêm lao động thì tiền lương sẽ tăng. Tiền
lương tăng sẽ làm tăng thu nhập của hộ gia đình.
Sơ đồ 2.1 được đơn giản hóa để giúp ta hiểu được bản chất của mối quan hệ giữa GDP, chi
tiêu và thu nhập của một nền kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế hộ gia đình không chỉ cung ứng lao
động mà cung ứng yếu tố sản xuất nói chung cho doanh nghiệp thông qua thị trường yếu tố sản

của nền kinh tế sẽ được tính như thế nào? Ta không thể đơn giản cộng bốn ổ bánh mì và ba xe ô tô
lại với nhau vì hai loại hàng hóa này không có cùng đơn vị tính. Do đó, để tính toán giá trị của
hàng hóa khác nhau ta phải sử dụng giá thị trường làm thước đo. Giá thị trường được sử dụng vì
nó cho biết người ta sẵn lòng trả bao nhiêu cho hàng hóa đó. Nếu giá bánh mì là 0,5 đvt/ổ và giá ô
tô là 1.000 đvt/chiếc thì GDP của nền kinh tế trên sẽ là:
GDP = Giá bánh mì
×
Số bánh mì + Giá xe ô tô
×
Số xe ô tô
= 0,5 đvt
×
4 + 1.000 đvt
×
3 = 3.002 đvt.
Như vậy, GDP của nền kinh tế là 3.002 đvt, bao gồm giá trị của bánh mì là 2 đvt và của xe ô
tô là 3.000 đvt. Tuy nhiên, có quan sát cho rằng sản phẩm của nền kinh tế không phải luôn được
bán ngay ra thị trường mà có thể nhập vào kho của doanh nghiệp. Việc nhập kho này có ảnh hưởng
như thế nào đến cách tính toán GDP của một quốc gia. Đó là vấn đề mà ta phải nghiên cứu trong
phần tiếp theo.
Đối với dự trữ (hay tồn kho)
Giả sử một doanh nghiệp trong mô hình nền kinh tế một hàng hóa (bánh mì) ở trên thuê lao động
để làm ra bánh mì, trả lương cho lao động nhưng sau đó lại không bán được bánh mì mà phải nhập
kho. Hiện tượng này có ảnh hưởng như thế nào đến GDP của nền kinh tế?
Câu trả lời phụ thuộc vào điều xảy ra đối với số bánh mì không bán được. Nếu số bánh mì đó
bị hỏng thì lợi nhuận bị giảm đi một khoản bằng với số tiền lương phải trả cho lao động để làm ra
số bánh mì này – nghĩa là doanh nghiệp trả lương cho người lao động nhưng không nhận được gì
từ đó – nên thu nhập của nền kinh tế không thay đổi. Vì hoạt động này không ảnh hưởng đến chi
tiêu (do số bánh mì này bị hỏng nên không được bán ra thị trường) hay thu nhập (do tiền lương
tăng lên nhưng lợi nhuận lại giảm đi một khoản bằng đúng với số tiền lương này) nên nó không

mua vào)). Như vậy, tổng giá trị tăng thêm là 1,5 đvt (= 0,5 đvt + 1 đvt). Đối với toàn bộ nền kinh
tế, tổng cộng giá trị tăng thêm phải bằng với giá trị của hàng hóa cuối cùng. Vì vậy, GDP chính là
tổng giá trị tăng thêm của tất cả các doanh nghiệp trong nền kinh tế.
Dịch vụ nhà ở và giá trị thay thế
Mặc dù hàng hóa được đánh giá theo giá thị trường khi tính GDP nhưng có nhiều loại hàng hóa lại
không được bán ra thị trường nên không có giá thị trường. Vì GDP phải bao gồm giá trị của các
loại hàng hóa này nên ta phải tìm cách ước lượng giá trị của chúng. Uớc lượng này được gọi là giá
trị thay thế.
Giá trị thay thế là đặc biệt quan trọng trong việc xác định giá trị của các dịch vụ nhà ở. Một
người thuê một ngôi nhà nghĩa là đang mua một dịch vụ nhà ở và tạo ra thu nhập cho người chủ
nhà cho thuê. Thu nhập này phải được tính vào GDP. Tuy nhiên, nhiều người lại sống trong nhà
riêng của mình. Mặc dù họ không phải trả tiền thuê nhà nhưng lại hưởng các dịch vụ tương tự như
những người thuê nhà. Để tính giá trị dịch vụ nhà ở của những người sở hữu nhà, GDP bao gồm
tiền thuê của những người có nhà riêng, coi như là trả cho chính bản thân họ. Dĩ nhiên, những
người chủ nhà không phải trả tiền cho chính họ. Chính phủ sẽ ước lượng tiền thuê cho một căn nhà
riêng với giả định là nó được cho thuê và tính tiền thuê này vào GDP. Tiền thuê này được bao gồm
vào cả chi tiêu và thu nhập của người chủ nhà.
Giá trị thay thế cũng xuất hiện trong việc đánh giá các dịch vụ của chánh phủ. Thí dụ, các
viên chức cảnh sát, nhân viên cứu hỏa và các nghị sĩ cung ứng dịch vụ công. Định giá các dịch vụ
này rất khó vì chúng không được bán ra trên thị trường và vì vậy không có giá thị trường. Thu
8
nhập quốc dân tính giá trị các dịch vụ này bằng cách sử dụng chi phí của chúng. Nói cách khác,
tiền lương của những người này được sử dụng như giá trị của các dịch vụ mà họ cung ứng.
Trong nhiều trường hợp, giá trị thay thế được sử dụng trên nguyên tắc nhưng lại không được
sử dụng trong thực tế. Do giá trị thay thế được sử dụng để tính tiền thuê nhà đối với những người
chủ nhà nên nó cũng được kỳ vọng sử dụng cho các loại dịch vụ khác như tiền thuê đối với xe ô tô,
máy cắt cỏ, vàng bạc hay các loại tài sản lâu bền khác do hộ gia đình sở hữu. Song, giá trị của các
dịch vụ này thường không được tính vào GDP vì quá chi tiết và phức tạp. Thêm vào đó, một số sản
phẩm của nền kinh tế được sản xuất và tiêu thụ ở gia đình và không được bán ra trên thị trường.
Thí dụ, các bữa ăn được nấu ở gia đình cũng giống như các bữa ăn nấu ở nhà hàng, nhưng giá trị

danh nghĩa.
9
Cách đo lường mức độ giàu có của một quốc gia một cách chính xác hơn là tính tổng giá trị
hàng hóa của nền kinh tế loại trừ ảnh hưởng của giá qua các thời điểm. Với mục tiêu này, các nhà
kinh tế sử dụng chỉ tiêu GDP thực, đó là tổng giá trị hàng hóa tính theo giá cố định. Để tính GDP
thực, các nhà kinh tế chọn một năm nào đó để làm cơ sở tính toán. Năm này được gọi là năm gốc.
Giả sử ta chọn năm 1994 làm năm gốc. Khi đó, ta sẽ sử dụng giá của năm 1994 để tính toán giá trị
của hàng hóa của năm đang nghiên cứu. Trong nền kinh tế trên, GDP thực của năm 2006 sẽ được
tính như sau:
GDP thực = (Giá bánh mì năm 1994
×
Sản lượng bánh mì năm 2006) +
+ (Giá xe ô tô năm 1994
×
Sản lượng ô tô 2006).
Như vậy, GDP thực đo lường giá trị sản lượng của nền kinh tế sử dụng giá gốc. Do giá (gốc)
cố định nên GDP thực chỉ thay đổi khi sản lượng thay đổi. Do khả năng thỏa mãn của nền kinh tế
đối với các thành viên trong nền kinh tế phụ thuộc vào số lượng hàng hóa được sản xuất ra nên
GDP thực là chỉ tiêu đo lường mức độ giàu có của một nền kinh tế chính xác hơn GDP danh nghĩa.
Vì vậy, GDP thực được sử dụng để tính tốc độ tăng trưởng kinh tế.
II.4. Chỉ số điều chỉnh GDP
Từ GDP danh nghĩa và GDP thực ta có thể tính được một chỉ tiêu quan trọng khác, đó là chỉ số
điều chỉnh GDP. Chỉ số điều chỉnh GDP được tính như sau:
Chỉ số điều chỉnh GDP =
R
N
GDP
GDP
,
trong đó: GDP

cứu) so với năm gốc. Cả GDP danh nghĩa và GDP thực được xem là giá của một rổ hàng hóa.
Trong trường hợp này, rổ hàng hóa bao gồm táo và cam. Chỉ số điều chỉnh GDP so sánh giá của rổ
hàng hóa trong năm nghiên cứu với giá của rổ hàng hóa trong năm gốc.
Định nghĩa chỉ số điều chỉnh GDP cho phép tách GDP danh nghĩa thành hai phần: một đo
lường sản lượng (GDP thực) và một đo lường giá của nền kinh tế (chỉ số điều chỉnh GDP). Nói
cách khác, ta có thể viết:
GDP danh nghĩa = GDP thực
×
Chỉ số điều chỉnh GDP.
GDP danh nghĩa đo lường giá trị bằng tiền của sản lượng của nền kinh tế theo giá ở năm hiện
hành. GDP thực đo lường giá trị sản lượng tính theo giá ở một năm gốc nào đó. Chỉ số điều chỉnh
GDP là tỷ giá giữa một đơn vị sản lượng vào năm đang nghiên cứu với một đơn vị sản lượng vào
năm gốc.
II.5. Thí dụ
Thí dụ này cung cấp cách thức tính GDP danh nghĩa và ảnh hưởng của giá đến GDP danh nghĩa.
Giả sử nền kinh tế sản xuất ba loại sản phẩm (cuối cùng) là gạo, vải và nước giải khát. Từ giá P và
sản lượng Q của ba loại hàng hóa này, ta tính ra được chỉ tiêu GDP theo giá của từng năm như
trong Bảng 2.1.
Bảng 5.1. Giá, sản lượng và GDP của một quốc gia giả định
Năm 2003 2004 2005
Sản phẩm P Y PY P Y PY P Y PY
Lúa 1.000 1
0
10.000 1.000 10 10.00
0
2.000 20 40.000
Vải 10.000 5 50.000 12.00
0
5 60.00
0

R
N
GDP
GDP
= 1,14.
GDP thực năm 2005 = 1.000
×
20 + 10.000
×
10 + 5.000
×
4 = 140.000.
Chỉ số điều chỉnh GDP năm 2005 =
000.140
000.240
2005
2005
=
R
N
GDP
GDP
= 1,71.
11
II.5. Các thành phần của chi tiêu của nền kinh tế
Các nhà kinh tế và các nhà lập chánh sách không chỉ quan tâm đến GDP của nền kinh tế mà còn
quan tâm đến sự phân bổ của GDP cho các mục đích sử dụng khác nhau hay chi tiêu của nền kinh
tế. Hệ thống tài khoản thu nhập quốc gia phân GDP thành bốn thành phần chính là: (i) tiêu dùng
C, (ii) đầu tư I, (iii) chi tiêu chính phủ G và (iv) xuất khẩu ròng NX. Như vậy, nếu gọi Y là GDP
thì ta có thể viết:

12
Mục cuối cùng – xuất khẩu ròng NX – có liên quan đến ngoại thương, trong đó bao gồm cả
xuất nhập khẩu. Xuất khẩu ròng là giá trị hàng hóa xuất khẩu (EX) trừ đi giá trị hàng hóa nhập
khẩu vào trong nước (IM). Xuất khẩu ròng đo lường chi tiêu ròng của nước ngoài đối với hàng hóa
trong nước, qua đó làm tăng thu nhập của người sản xuất trong nước.
Thí dụ. GDP và các bộ phận cấu thành
5
Năm 1994 GDP của Hoa Kỳ là xấp xỉ 7.000 tỷ đô-la. Con số này là quá tổng quát nên khó có thể
thấy được ý nghĩa của nó. Vì vậy, các nhà kinh tế chia con số này cho số dân của Hoa Kỳ vao năm
1994 là 261 triệu người. Bằng cách này, ta tính được GDP tính trên đầu người – đó là số chi tiêu
tính bình quân của mỗi người dân Hoa Kỳ – là 25.852 đô-la vào năm 1994.
Con số này nên được sử dụng như thế nào? Bảng 2.1 cho thấy là khoảng hai phần ba của con
số này, tức là khoảng 17.757 đô-la, là chi cho tiêu dùng. Đầu tư là khoảng 3.963 đô-la/người. Chi
tiêu của chinh phủ là 4.509 đô-la/người, trong đó 1.121 đô-la là chi tiêu cho quốc phòng.
Bảng 5.2. GDP và cấu thành chi tiêu năm 1994 của Hoa Kỳ
Chỉ tiêu
Tổng số
(tỷ đô-la)
Bình quân đầu
người (đô-la)
GDP 6.738,4 25.852
Tiêu dùng (C) 4.628,4 17.757
Hàng hóa mau hỏng 1.394,3 5.349
Hàng hóa lâu bền 591,5 2.269
Dịch vụ 2.642,7 10.139
Đầu tư
Đầu tư của doanh nghiệp 697,6 2.676
Đầu tư của dân cư 283,0 1.086
Dự trữ 52,2 200
Chi tiêu chính phủ 1.175,3 4.509

Theo định nghĩa, GDP được tính trên lãnh thổ một nước. Tuy nhiên, trên lãnh thổ một nước
thì ngoài phần sản phẩm do công dân nước đó sản xuất ra thì còn có phần do công dân nước khác
tạo ra. Do đó, GDP cũng có hai phần. Một, phần do công dân một nước sản xuất ra trên lãnh thổ
nước đó. Hai, phần do công dân nước khác sản xuất ra trên lãnh thổ nước đó. Phần này được gọi là
thu nhập từ các yếu tố nhập khẩu hay còn gọi là thu nhập yếu tố chuyển ra nước ngoài. Đó là tiền
công lao động, thu nhập từ việc sở hữu vốn, bản quyền, v.v. của người nước ngoài đầu tư vào trong
nước.
Như vậy, GNP và GDP trùng nhau ở phần sản phẩm do công dân ở một nước sản xuất ra trên
lãnh thổ nước đó và khác nhau ở phần thu nhập từ các yếu tố được xuất khẩu và nhập khẩu. Như
vậy, ta có mối liên hệ:
GNP = GDP + NIA,

trong đó, NIA là thu nhập ròng từ nước ngoài. NIA chính là phần chênh lệch giữa giá trị sản phẩm
mà người trong nước sản xuất ở nước ngoài và giá trị sản phẩm mà người nước ngoài sản xuất
trong nước.
NIA có thể lớn hơn, nhỏ hơn hay bằng không. Nếu NIA > 0 thì GNP > GDP. Nếu NIA < 0 thì
GNP < GDP. Nếu NIA = 0 thì GNP = GDP, nhưng trường hợp này thường ít xảy ra. Thông
thường, ở những quốc gia đang phát triển như Việt Nam thì GNP < GDP vì khả năng đầu tư ra
nước ngoài thường thấp hơn số đầu tư tiếp nhận từ nước ngoài.
GDP và GNP là hai cách đo lường thu nhập khác nhau vì một cá nhân có thể có thu nhập và
sinh sống ở các quốc gia khác nhau. Để hiểu rõ sự khác biệt giữa GDP và GNP, hãy xem các thí dụ
khác nhau. Một người Mexico làm việc tạm thời ở Hoa Kỳ. Thu nhập của người Mexico này là
14
một bộ phận của GDP của Hoa Kỳ vì nó được tạo ra trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nó lại không
được bao gồm trong GNP của Hoa Kỳ vì người Mexico này không phải là người Hoa Kỳ. Tương
tự, nếu một người Hoa Kỳ làm việc ở Mexico thì thu nhập của anh ta là một bộ phận của GNP của
Hoa Kỳ nhưng không được bao gồm trong GDP của nước này.
Hãy xem một thí dụ khác, một người Nhật sở hữu một căn hộ ở New York, Hoa Kỳ. Tiền
cho thuê căn hộ của người Nhật Bản này là một bộ phận của GDP của Hoa Kỳ vì nó được tạo ra
trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Tuy nhiên, tiền cho thuê căn hộ này không được tính vào GNP của Hoa Kỳ

9292
25
25
CT
CT
PP
PP
×+×
×+×
,
trong đó: năm 1992 là năm gốc, P
T
và P
C
lần lượt là giá táo và giá cam hiện tại,
92
T
P

92
C
P
lần
lượt là giá táo và giá cam vào năm 1992. Chỉ số này cho biết mua 5 quả táo và 2 quả cam hôm nay
tốn kém như thế nào so với việc mua chúng vào năm 1992. Nếu CPI = 1,2 thì ta có thể nói giá của
5 quả táo và 2 quả cam vào thời điểm hiện tại đã tăng 20% so với năm 1992.
CPI là chỉ số giá được quan tâm nhất, nhưng không phải là chỉ tiêu duy nhất. Khi CPI tăng
lên, các nhà kinh tế bảo rằng nền kinh tế vị lạm phát và ngược lại, nền kinh tế bọ giảm phát. Chỉ số
khác là chỉ số giá sản xuất PPI, đo lường giá của một rổ hàng hóa sử dụng cho sản xuất thay vì
cho tiêu dùng.

92929292
9292
CCTT
CCTT
QPQP
QPQP
×+×
×+×
.
16
Hai đẳng thức này cho thấy cả CPI và chỉ số giá điều chỉnh GDP đều so sánh giá của một rổ
hàng hóa hôm này với giá của rổ hàng hóa tương tự ở năm gốc. Sự khác nhau giữa hai chỉ tiêu này
nằm ở chỗ rổ hàng hóa thay đổi theo thời gian. CPI sử dụng rổ hàng hóa cố định (số lượng hàng
hóa vào năm gốc) trong khi chỉ số giá điều chỉnh GDP sử dụng rổ hàng hóa thay đổi (số lượng vào
năm hiện thời).
Thí dụ sau minh họa sự khác nhau của hai chỉ tiêu này. Vào một năm nào đó, sâu bệnh làm
thiệt hại toàn bộ ngành sản xuất cam của một quốc gia. Khi đó, sản lượng cam bằng không và giá
của một số ít cam còn lại trên thị trường là rất cao. Do cam không còn được bao gồm trong GDP
nên sự tăng giá này của cam không được thể hiện trong chỉ số điều chỉnh GDP. Tuy nhiên, do CPI
được tính dựa trên rổ hàng hóa cố định luôn bao gồm cam nên sự tăng giá cam làm cho CPI thay
đổi đáng kể.
Các nhà kinh tế gọi chỉ số giá sử dụng một rổ hàng hóa cố định là chỉ số Laspeyres và chỉ số
giá sử dụng rổ hàng hóa thay đổi là chỉ số Paasche. Các lý thuyết kinh tế đã cố gắng chỉ ra xem
chỉ số nào có ưu điểm hơn nhưng cuối cùng không kết luận được điều này.
Mục tiêu của bất kỳ một chỉ số giá nào cũng là đo lường chi phí sống. Khi giá của các hàng
hóa khác nhau thay đổi một lượng khác nhau thì chỉ số Laspeyres có xu hướng thổi phồng sự gia
tăng trong chi phí sống trong khi chỉ số Paasche lại không phản ánh đầy đủ sự tăng giá này. Do chỉ
số Laspeyres sử dụng rổ hàng hóa cố định nên không tính đến việc người tiêu dùng thay thế hàng
hóa này bằng hàng hóa khác rẻ hơn. Ngược lại, chỉ số Paasche tính đến sự thay thế này nhưng lại
không tính đến sự giảm đi trong lợi ích của người tiêu dùng xuất phát từ sự thay thế này khi giá

Các nhà kinh tế đã đặt ra câu hỏi là có mối quan hệ nào giữa thất nghiệp và GDP thực không? Do
người lao động sản xuất ra hàng hóa, dịch vụ nên nếu thất nghiệp xuất hiện thì GDP thực sẽ giảm.
Định luật Okun – đặt theo tên của nhà kinh tế học nổi tiếng Arthur Okun – miêu tả mối quan hệ
nghịch chiều giữa thất nghiệp và GDP. Định luật Okun cho rằng:
% thay đổi của GDP thực = 3% – 2
×
Thay đổi của tỷ lệ thất nghiệp.
Nếu tỷ lệ thất nghiệp không thay đổi, GDP thực sẽ tăng trưởng 3%. Tỷ lệ tăng trưởng này là
tỷ lệ tăng trưởng bình thường do tăng dân số, do tích tụ vốn, và do tiến bộ kỹ thuật. Định luật
Okun cũng cho thấy nếu tỷ lệ thất nghiệp tăng lên 1% thì GDP thực sẽ giảm đi 2%. Như vậy, nếu
tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 6% lên 8% thì tốc độ tăng trưởng của GDP thực sẽ là:
Tốc độ tăng trưởng của GDP thực =
%1%)6%8(2%3 −=−×−
.
Trong trường hợp này, định luật Okun nói rằng GDP thực sẽ giảm đi 1%, nghĩa là nền kinh tế
bị suy thoái.
Bài đọc thêm. Tăng trưởng “xanh”
Bài đọc này cung cấp một cách nhìn mới về chỉ tiêu GDP, chỉ tiêu được sử dụng phổ biến nhất để
đo lường kết quả hoạt động kinh tế của một quốc gia. Các nhà kinh tế cho rằng chỉ tiêu này nên
được cải tiến để có thể làm việc này một cách chính xác hơn. Bài viết này là của Giáo sư Joseph
Stiglitz là giáo sư kinh tế học người Mỹ, được giải Nobel Kinh tế năm 2001; nguyên là Phó chủ
tịch và kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới (WB). Hiện ông giảng dạy tại Đại học
Columbia và nhiều đại học hàng đầu khác ở Mỹ. Đoạn này trích trong một bài viết của ông trên
tạp chí Fortune, 2–10–2006.

Tổng giá trị sản lượng nội địa GDP, chỉ số đánh giá kinh tế hàng đầu hiện nay, đã bị lạc hậu và sai
lệch. Từ lâu được coi là tiêu chuẩn đo lường tốc độ phát triển của bất kỳ nền kinh tế nào, song
GDP đã trở thành tiêu chí không đầy đủ khi đo lường sức khỏe của một nền kinh tế trong tầm nhìn
18
dài hạn giữa một thế giới toàn cầu hóa. Nó cũng giống như đánh giá một doanh nghiệp mà chỉ dựa

bằng hơn không phải là ý tưởng mới song đã đến lúc phải vận dụng nó vào thực tiễn, nhất là khi
chúng ta đang vận hành công cuộc toàn cầu hóa kinh tế.

Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn, 12-10-2006, tr. 53.
Thuật ngữ
Chỉ số điều chỉnh GDP: GDP deflator
Chỉ số giá tiêu dùng: Consumer Price Index (CPI)
Chỉ số giá sản xuất: Producer Price Index (PPI)
19
Đầu tư cố định: Fixed investment
Thu nhập ròng từ nước ngoài: Net income abroad (NIA)
20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status