Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920), quê ở làng Phù Lưu, tỉnh Bắc
Ninh. Do hoàn cảnh gia đình nghèo khó, sau khi học hết bậc tiểu học ông phải nghỉ học
để đi làm thuê. Kim Lân bắt đầu viết truyện ngắn từ năm 1941. Hầu hết tác phẩm của ông
đều mang ko khí tiêu điều, ảm đạm của nông thôn Việt Nam và cuộc sống lam lũ, vất vả
của những con người bị cái nghèo đeo đuổi. Đồng thời qua đó các tác phẩm còn thể hiện
vẻ đẹp tâm hồn của những người nông dân trước CM_nghèo khổ, cực nhọc nhân vẫn
khao khát yêu đời, tiêu biểu là các tác phẩm như: Đứa con người vợ lẽ, Con chó xấu xí,
Nên vợ nên chồng… Qua các tác phẩm, Kim Lân đã thể hiện mình là cây bút vững vàng,
ông đã viết về cuôc sống và con người nông thôn bằng những tình cảm, tâm hồn của một
người vốn là con đẻ của đồng ruộng. Hay như nhà văn Nguyên Hồng đã từng nhận xét
rằng: Ông là nhà văn một lòng đi về với đất, với người, với thuần hậu nguyên thủy của
cuộc sống nông thôn.
Và vốn dĩ là thế, từ xưa đến nay nông thôn luôn là đề tài quen thuộc của mọi tác
gia dù ta có phân loại nó theo phương diện nào cũng thể bỏ qua đc nó. Với đề tài ấy,
nhiều nhà thơ, nhà văn đã trở nên nổi tiếng và nhiều tác phẩm có giá trị ra đời. Chẳng hạn
như trước CMT8 có “Tắt đèn của Ngô Tất Tố”, “Chí Phèo của Nam Cao”… Trong số đó
có “Vợ nhặt của Kim Lân” đã làm xôn xao ko ít trái tim triệu con người. Tác phẩm đc
ông viết dựa trên bản thảo cũ có tên “Xóm ngụ cư” đã bị thất lạc trước đó. Sau năm 1954,
Kim Lân đã dựa trên cốt truyện cũ và viết lại rồi đổi tên thành “Vợ nhặt” và in trog tập
“con chó xấu xí”.
“Vợ nhặt” ca ngợi tình cảm yêu thương, sự cưu mang, đùm bọc và niềm tin vào
tương lai của những con người khốn khổ giữa lúc nạn đói hoành hành. Qua đó truyện còn
tố cáo tội ác dã man của xã hội thời Pháp-Nhật đã đẩy dân ta vào nạn đói khủng khiếp
1945.Truyện kể về anh Tràng, một thanh niên nghèo khổ, xấu xí, làm nghề kéo xe bò
thuê để kiếm sống. Anh ở với người mẹ già nơi xóm ngụ cư. Giữa nạn đói khủng khiếp
năm 1945, Tràng đã đưa người “vợ nhặt” được ở chợ về nhà. Đó là người phụ nữ nghèo
bị cái đói hành hạ nên săn sàng chấp nhận theo anh chỉ vì anh đã đãi thị ăn một bữa bánh
đúc. Ngày Tràng đưa thị về làm cả xóm ngạc nhiên, mẹ Tràng-bà cụ Tứ cũng ngạc nhiên.
Nhưng với tình mẫu tử và lòng nhân đạo cao cả bà đã chấp nhận cô con dâu mới trong
tâm trạng vừa buồn tủi, vừa xót thương. Sáng hôm sau, bà cụ cùng nàng dâu mới dậy thật
ranh giới phân chia của tồn tại và không tồn tại thế kia mà lại “nhặt” được “thứ” vốn
tượng trưng cho hạnh phúc, cho những con người ăn nên làm ra. Tràng dẫn thị về, sự tò
mò, xoi mói cứ lan dần theo từng bước chân của hắn và người đàn bà lạ mặt ấy trên con
đường mòn xao xác. Mọi người cứ xì xầm, bàn tán “Ai đấy nhỉ? Hay người nhà bà cụ Tứ
mới lên? Chả phải, từ ngày còn mồ ma ông cụ Tứ có thấy họ mạc nào lên thăm đâu?”.
Mặc cho những lời xầm xì bàn tán, Tràng vẫn lầm lũi bước dưới gôc gại sù sì, nơi
có “bóng những người đói đi lặng lẽ như những bóng ma thay cho khách” và tiếng quạ
thét gào thê thiết như thay cho pháo cưới. Câu chuyện chìm trong nặng nề và sợ hãi với
đầy vẫy những cảnh u tối, “Cái đói đã tràn vào xóm tự lúc nào”, chết chóc đã gieo đầy
khắp nơi, ấy vậy mà Tràng lại có vợ trong khi anh không biết cuộc đời phía trước của
mình rồi sẽ ra sao. Tràng đã thật liều lĩnh. Và ngay cả thị cũng thế. Hai cái liều ấy gặp
nhau, kết tụ thành một gia đình, bỡi lẽ Tràng cũng như bao chàng thanh niên khác vậy,
anh cũng mong muốn có một gia đình hạnh phúc, có một người vợ để được yêu thương.
Và có lẽ đó cũng là do sự rung động của trái tim hắn vậy, bởi trong lần gặp thị lần thứ
nhất, hắn đã hết sức thích thú khi thị đùa vui với hắn vì từ trước giờ “có ai cười tình với
hắn như thị đâu”. Và hai thân phận bọt bèo ấy đã dạt đến với nhau qua những lời yêu đại
loại như: “Rích bố cu, hở”, “Làm đếch gì có vợ”. “Làm đếch gì có vợ”, lời nói hắn lúc
bấy giờ thô lỗ, sỗ sàng làm sao ấy nhưng sâu trong nó là ẩn chứa sự chua chát của cuộc
đời, là ước mơ thầm kín nhen nhóm trong lòng hắn. Chỉ nhờ bốn bát bánh đúc mà Tràng
có được vợ, chỉ vì bốn bát bánh đúc mà thị chấp nhận theo Tràng về. Có xót xa không,
khi cái đói tuy mang nhiều đau khổ nhưng cũng có thể se duyên cho hai tâm hồn nghèo
khó.
Và khi nhặt thị về, hắn đã nghĩ: “Thóc gạo này đến cái thân mình không biết có
nuôi nổi không lại còn đèo bồng”, nhưng rồi hắn tặc lưỡi: “Chậc kệ”. Một quyết định hết
sức tầm thường đối với việc lớn của cả đời hắn: hắn có vợ. Nhưng ta cũng có thể hiểu
rằng, cái tặc lưỡi đó là đồng nghĩa với việc Tràng đã chấp nhận đánh với cuộc đời, với cái
nghèo đói để sống một cuộc sống “đầy đủ” như mọi người. Đó chính là khát vọng và
cũng là hạnh phúc của chàng trai nghèo, thô kệch tìm được trong thời buổi bấy giờ. Bởi
khi thị chấp nhận theo hắn về, trong lòng hắn đã bật lên một niềm hạnh phúc lớn lao, và
trong lòng hắn giờ đây đang ngầm chứa một niềm ao ước về hạnh phúc gia đình thực sự:
mình. Anh không hề xem thị là người “vợ nhặt”, dù nghèo khổ nhưng anh vẫn muốn tạo
cho thị một không khí trang trọng trong “ngày cưới”. Và với ánh sáng yếu ớt của ngọn
đèn dầu ấy, tất cả mọi tối tăm của đói nghèo dường như đang dần tan biến đi trong căn
nhà này mà thay vào đó niềm tin vào tương lại, vào cuộc sống.
Và bên cạnh đó, cũng chính tình cảm gia đình ấy đã làm cho hắn thay đổi. Từ anh
thanh niên ngô nghê, thô kệch hắn đã trở thành một người chồng đúng mực khi có vợ.
Tình yêu, hạnh phúc khiến “trong một lúc Tràng quên đi tất cả, quên cả đói rét đang đeo
đuổi, quên cả những thàng ngày qua”. Hắn trở dậy, hắn thay đổi. Và những thay đổi ấy
không có gì khác ngoài tâm hồn đôn hậu, chất phác và giàu tình yêu thương. Trong con
người hắn trở dậy để chào đón hạnh phúc thật khác lạ. Hắn không còn là hắn của ngày
trước nữa mà giờ đây đã là một người con có hiếu với mẹ, một người chồng đầy trách
nhiệm dù chỉ trong ý nghĩ. Thấy mẹ hắn cùng thị quét tước cửa nhà “Bỗng nhiên hắn thấy
yêu thương và gắn bó với cái nhà của hắn lạ lùng. Hắn đã có một gia đình. Hắn sẽ cùng
vợ sinh con đẻ cái ở đấy”, hắn thấy “mình đã nên người”, thấy mình “có bổn phận lo lắng
cho vợ con sau này”. Hắn cũng muốn cùng mẹ và vợ tham gia dọn dẹp nhà cửa cho
quang quẻ để cuộc sống sau này có cơ khấm khá hơn.
Hành động, cử chỉ ấy của Tràng đâu chỉ là câu chuyện bình thường mà đó những
chuyển biến lớn trong tính cách và cuộc đời hắn. Chính tình yêu của vợ, tình mẹ con hòa
thuận ấy đã nhen nhóm trong hắn ước vọng về hạnh phúc. Và niềm tin vào cuộc sống sẽ
thay đổi khi hắn nghe thị kể và nghĩ đến đám người trên Thái Nguyên, Bắc Giang cướp
kho thóc chia cho dân nghèo và hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới. Rồi số phận,
cuộc đời của hắn, mẹ hắn và vợ hắn sẽ thay đổi. Hắn tin thế.
“Vợ nhặt” là một tác phẩm thành công trong nghệ thuật dựng truyện. Ngoài ra, với
cách kể chuyện độc đáo, Kim Lân đã lôi cuốn người đọc bởi giọng kể hón hỉnh, mọc mạc
nhưng vẫn tạo được nét riêng cho chính mình. Tất cả các nhân vật đã được ông khắc họa
rõ nét trong từng chi tiết diễn biến tâm lí, từ anh Tràng đến bà cụ Tứ, đến thị và cả những
người chung quanh. Nó đã thể hiện một cách tự nhiên, chân thật những thứ vốn có trong
cuộc sống hàng ngày và tâm lí nhân vật cũng được miêu tả rất tinh tế. Với cách chọn lọc
những từ ngữ, Kim Lân còn làm cho “Vợ nhặt” thêm gần gũi và sinh động hơn với những
ngôn từ dân giã và đậm đà bản sắc riêng. Với tình tiết truyện độc đáo, hình ảnh lá cờ vừa