Mục Lục:
I. Tổng Quan hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại 3
II. Nợ quá hạn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng thương mại: 4
III. Thực tiễn xử lý nợ quá hạn: ( Xử lý nợ quá hạn của ngân hàng thương mại): 7
IV. Những khó khăn khi xử lý những khoản nợ quá hạn có tài sản đảm bảo: 8
V. Sự cần thiết thành lập công ty quản lý nợ: 10
VI. Công ty mua bán nợ: 11
VII. Kết quả xử lý tài sản đảm bảo trên địa bàn TP.HCM: 12
VIII. Áp dụng thực tế cách xử lý nợ quá hạn tại ngân hàng MHB ( Ngân hàng phát triển nhà
Đồng Bằng Sông Cửu Long ): 13
LỜI GIỚI THIỆU
Rủi ro luôn có thể xảy ra bất cứ lúc nào, điều đó lại càng có thể dễ xảy ra trong
lĩnh vực kinh doanh. Chấp nhận rủi ro trong kinh doanh là quy luật tất yếu của các
thương gia từ ngàn xưa, đây là một quy luật song hành “lợi nhuận càng tăng thì rủi ro
càng cao”.
Trong kinh tế thị trường thì rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi, dưới
giác độ là một tổ chức kinh doanh, NHTM cũng chịu sự tác động và chịu tác động của
môi truờng chính yếu và môi trường thứ yếu. Mối quan hệ giữa hai môi trường này xoay
quanh trung tâm hạt nhân “Vận hội và thách thức đối với các tổ chức kinh tế ” hay còn
gọi là rủi ro môi trường. Trong môi trường cạnh tranh toàn cầu, xu hướng hợp nhất khu
vực ngày càng phát triển, các vận hội sẽ xuất hiện, là thời cơ cho các ngân hàng lớn
mạnh. Song bên cạnh đó cũng tồn tại song hành các nguy cơ rất lớn từ môi trường kinh
tế, xã hội, chính trị, pháp luật, cạnh tranh ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh của
ngân hàng, mà đặc biệt là rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có phản ứng dây
truyền, lây lan và ngày càng có những biểu hiện phức tạp. Rủi ro trong các hoạt động
kinh doanh của ngân hàng nói chung và rủi ro tín dụng nói riêng là một phạm trù tiềm ẩn,
nó có thể xảy ra bất kỳ lúc nào và làm sai lệch, đảo lộn kết quả hoạt động kinh doanh
ngân hàng. Mà như chúng ta đã biết ngân hàng có vai trò vô cùng quan trọng, sự sụp đổ
của ngân hàng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ đời sống kinh tế chính trị và xã hội của
của nước đó.
doanh nghiệp thuộc khu vực sản xuất.
Về phía ngân hàng thương mại, đây là nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng theo
nguyên tắc đi vay để cho vay. Như vậy, việc phát sinh nhu cầu vay vốn ngân hàng của
các doanh nghiệp và vấn đề cho vay vốn của ngân hàng đối với các doanh nghiệp là một
tất yếu khách quan diễn ra thường xuyên trong quá trình thực hiện mọi hoạt động kinh
doanh cả về phía doanh nghiệp và ngân hàng thương mại.
Doanh nghiệp vay vốn ngân hàng và ngân hàng cho doanh nghiệp vay vốn được
thực hiện bằng những cam kết thỏa thuận theo những nội dung đã ấn định phù hợp với
các nguyên tắc tín dụng. Mỗi khoản cho vay được xác định một thời hạn trả nợ nhất định.
Thời hạn trả nợ là bao nhiêu, lâu hay nhanh là do đặc điểm của vốn vay tham gia vào quá
trình tuần hoàn và luân chuyển vốn của doanh nghiệp.
Về nguyên tắc, trong phạm vi thời hạn nợ quy định khi đến hạn trả nợ, doanh
nghiệp vay vốn phải có trách nhiệm hoàn trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng thương mại.
Nếu thực hiện đúng nguyên tắc này thì cả doanh nghiệp và ngân hàng coi như thực hiện
đúng cam kết, vốn cho vay của ngân hàng thương mại được thu hồi để sử dụng vòng luân
chuyển khác. Doanh nghiệp trả hết nợ ngân hàng và thực sự vốn vay này đã giúp doanh
nghiệp hoàn thành nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình. Nhìn chung là rất tốt cho
doanh nghiệp, cho ngân hàng và cho cả nền kinh tế.
Năm
Chỉ tiêu
1999
2000
2001
2002
2003
Tổng dư nợ toàn bộ nền
kinh tế (tỉ VND)
139.180
184.936
là doanh nghiệp phải thế chấp tài sản cho ngân hàng, theo pháp luật, ngân
hàng có quyền phát mãi tài sản để thu nợ, do vậy, nợ quá hạn này tuy chưa
thu được nhưng ngân hàng thương mại vẫn có khả năng thu hồi.
Nợ quá hạn không có tài sản đảm bảo: Là khoản nợ khi cho vay, ngân
hàng không yêu cầu người vay phải thế chấp tài sản. Loại nợ này, con nợ là
doanh nghiệp vay vốn vẫn tồn tại, vẫn hoạt động kinh doanh nếu tình hình
tài chính của doanh nghiệp tốt thì cũng có khả năng thu hồi nợ.
Nợ quá hạn là nợ khó đòi (hay còn gọi là nợ xấu): Loại nợ này xảy ra và
tồn đọng ở những doanh nghiệp vay vốn có tình hình hoạt động sản xuất
kinh doanh và tình hình tài chính yếu kém, biểu hiện là sản xuất kinh doanh
bị lỗ, nợ phải trả tăng, doanh nghiệp mất khả năng thanh toán hoàn toàn.
Thời hạn nợ tồn đọng khá lâu, có thể kéo dài trên một năm, 2 – 3 năm hoặc
lâu hơn nữa và rất khó giải quyết.
Chúng ta có thể xem tình hình doanh nghiệp nợ và phần trăm nợ quá hạn của hệ
thống ngân hàng Việt Nam trong thời gian gần đây 1999 – 2003.
Từ số liệu của bảng trên ta có nhận xét tổng quát sau:
- Tổng dư nợ năm sau cao hơn năm trước, biểu hiện sự tăng trưởng về tín
dụng của nền kinh tế.
- Tỉ lệ phần trăm nợ quá hạn ổn định và có xu hướng giảm là biểu hiện tốt,
tuy phần trăm nợ quá hạn có xu hướng giảm, song tính số tuyệt đối thì đây là
khoản nợ quá hạn rất lớn của nền kinh tế. Nếu số nợ này trở thành nợ khó đòi, nợ
xấu thì sẽ ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại
và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp vay vốn trong nền kinh tế. Thực tế
hiện nay một số ngân hàng thương mại nhìn cục bộ, có phần trăm nợ quá hạn cao,
được biết là số nợ tồn đọng kéo dài chưa hoặc không giải quyết được. Ở các nước
trên thế giới hoặc trong khu vực, phần trăm nợ quá hạn của ngân hàng thương mại
phải đạt tỉ lệ phần trăm là dưới 5%. Như vậy, tỉ lệ này của chúng ta còn quá cao.
Trong xu hướng hội nhập quốc tế về ngân hàng chúng ta phải phấn đấu hạ thấp
phần trăm quá hạn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.
3. Các nguyên nhân gây ra nợ quá hạn:
Ảnh hưởng của nợ quá hạn đối với nền kinh tế:
- Sức ép lạm phát: NQH ở mức độ cao sẽ dẫn đến sự khan hiếm vốn một
cách giả tạo. Một khối lượng vốn tồn đọng trong các khoản nợ quá hạn dẫn đến
tiền trong lưu thông giảm sút gây sức ép tăng cùng tiền mà hậu quả là lạm phát.
- Đình chỉ sản xuất: NQH còn ảnh hưởng đến việc lưu thông tín dụng
khiến vốn ùn tắc không đến được nơi cần vốn để phát triển hoạt động sản xuất
kinh doanh, gây đình đốn ảnh hưởng xấu đến sự phát triển kinh tế.
- Khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng, khủng hoảng kinh tế: ngân
hàng là kênh chủ yếu thực hiện huy động và cho vay phát triển kinh tế. Hoạt động
ngân hàng là hoạt động kinh tế mang tính dây truyền. Tỷ lệ NQH cao nếu không
kịp thời có biện pháp xử lý sẽ gây thua lỗ cho ngân hàng. Hoạt động huy động vốn
cho vay, đầu tư do vậy bị thu hẹp ảnh hưởng tiêu cực đến sự tăng trưởng của nền
kinh tế đồng thời trực tiếp làm khủng hoảng hệ thống tài chính ngân hàng và
khủng hoảng kinh tế xã hội.
Ảnh hưởng đối với ngân hàng:
- Giảm hiệu quả sử dụng vốn: NQH phát sinh đồng nghĩa với việc một
phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ này. Việc tồn
đọng này làm cho ngân hàng mất đi cơ hội làm ăn khác mà có thể đem lại lợi
nhuận cho ngân hàng. Nó làm giảm vòng quay vốn của ngân hàng. Nói cách khác
NQH phát sinh đã làm giảm doanh số cho vay của ngân hàng từ đó làm giảm hiệu
quả sử dụng vốn.
- Giảm lợi nhuận: thu nhập của ngân hàng chủ yếu phát sinh từ hoạt động
cho vay của ngân hàng. Đồng thời nguồn vốn của ngân hàng cũng chủ yếu từ
nguồn huy động phải trả chi phí huy động vốn. Do vậy, khoản vay không thu được
dẫn đến một bộ phận tài sản của ngân hàng bị đóng băng làm giảm thu nhập mà
vẫn phải trả chi phí huy động vốn. Kết quả là làm lợi nhuận của doanh nghiệp
giảm.
- Giảm khả năng thanh toán: các khoản NQH phát sinh làm thay đổi kế
hoạch cũng như nguồn thanh toán các khoản tiền đến hạn. Hơn nữa, tỷ lệ Nợ quá
hạn/ Tổng dư nợ cao sẽ dẫn đến tình trạng mất khả năng thanh toán của ngân hàng.
Là một trung gian tài chính nên rủi ro trong hoạt động tín dụng của ngân hàng là
điều không tránh khỏi. Đặc biệt, khi nước ta chuyển sang nền kinh tế theo cơ chế thị
trường thì rủi ro trong cho vay lại càng cao. Nhận thức rõ điều này nên vào những năm
90 việc cấp tín dụng của các ngân hàng thương mại (NHTM) phần lớn đều phải có tài sản
thế chấp. Nhưng loại tài sản được thế chấp lại gần như chỉ áp dụng cho nhà ở và đất đai.
Vì vậy, khi mà khối tài sản thế chấp kia lên đến hàng ngàn tỉ đồng (tháng 12.1998) thì đã
làm “đóng băng” nợ quá hạn tại các NHTM (80% trong tổng dư nợ quá hạn có tài sản thế
chấp). Nguyên nhân chủ yếu là do vấn đề xử lý các loại tài sản thế chấp đó trong thực tế
gặp rất nhiều khó khăn.
Tính đến cuối năm 2000, nợ quá hạn cho vay của các NHTM trên địa bàn
TP.HCM là 11.606 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 22,24% trên tổng dư nợ. Trong đó, nợ tồn đọng có
tài sản đảm bảo là 8.573 tỉ đồng, chiếm 73,87% trong tổng số nợ quá hạn. Điều này làm
cho tình hình tài chính của các NHTM ngày càng khó khăn do nợ không có nguồn thu hồi
lại phải ôm giữ một khối tài sản khổng lồ mà giá trị cứ giảm dần theo thời gian. Vốn
không thu hồi được, trong khi ngân hàng vẫn phải thanh toán đầy đủ các khoản lãi huy
động từ dân cư và các nguồn khác, vẫn phải chi các hoạt động quản lý, tiền lương,…Đặc
biệt, ngân hàng còn phải thêm một khoản chi phí cho việc trông coi, quản lý, bảo quản,…
các tài sản đó, chưa kể nếu tài sản đó liên quan đến các vụ án thì ngân hàng còn phải mất
thêm thời gian, sức lực để theo đuổi. Yêu cầu bức thiết trước mắt là phải xử lý một cách
hiệu quả khối tài sản thế chấp kia để đủ sức cạnh tranh khi hội nhập. Do vậy, các NHTM
đã nỗ lực tìm mọi biện pháp như ngân hàng tự bán, phối hợp với khách hàng hoặc khách
hàng tự tìm người bán,…Tuy nhiên, quá trình xử lý nợ tồn đọng này chậm và hiệu quả
chưa cao, đặc biệt là việc tổ chức phát mãi tài sản thế chấp, tài sản được giao từ các vụ án
tiến hành rất chậm, thậm chí dậm chân tại chỗ. Do đó, việc giảm tỉ lệ nợ quá hạn và nợ
xấu tại các NHTM dù hết sức cố gắng vẫn chưa đạt được mục tiêu đề ra (dưới 5%).
IV. Những khó khăn khi xử lý những khoản nợ quá hạn có tài sản đảm
bảo:
Như chúng ta đã thấy, vấn đề xử lý nợ quá hạn để lành mạnh hóa tình hình tài
chính của các NHTM hiện nay là một vấn đề khá bức xúc, tốc độ xử lý chậm, hiệu quả
không cao, trong khi thời gian hội nhập ngày càng rút ngắn. Không phải vì Ngân hàng
thì TCTD phải đưa ra bán đấu giá hay khởi kiện ra Tòa. Trong khi đó, Nghị định 178 lại
cho phép TCTD có quyền xử lý tài sản bảo đảm nói chung và tài sản bảo đảm là quyền sử
dụng đất nói riêng nếu không đạt được sự thỏa thuận giữa các bên. Việc này gây cản trở
cho các TCTD khi xử lý tài sản thế chấp trong thực tế, vì :
TCTD chuyển hồ sơ của tài sản thế chấp, bảo lãnh sang Trung tâm bán đấu giá
chuyên trách thuộc Sở tư pháp để xử lý quyền sử dụng đất, nhưng tiến độ xử lý lại quá
chậm, mất nhiều thời gian, thậm chí nhiều trường hợp tồn đọng không xử lý được. Việc
này do nhiều nguyên nhân, nhưng có một nguyên nhân không thể không nhắc đến là hoạt
động của Trung tâm bán đấu giá kém hiệu quả.
Trong khi đó, không ít trường hợp TCTD có thể phối hợp với người có tài sản đảm
bảo để xử lý hoặc tự xử lý được, nhưng khi tiến hành chuyển quyền sử dụng đất hoặc tài
sản gắn liền với đất cho người mua, thì các cơ quan chức năng từ chối việc thực hiện
công chứng, đăng bộ,… với lý do quyền sử dụng đất trong trường hợp này phải thông
qua Trung tâm bán đấu giá chuyên trách theo quy định.
Khi xử lý tài sản bảo đảm là quyền sử dụng đất, theo Khoản 3 – Mục III, phần B
của Thông tư Liên tịch 03, thì TCTD phải xin phép Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền
cho phép bán đấu giá, làm cho quy trình bán đấu giá càng mất nhiều thời gian và thủ tục,
cụ thể là :
15 ngày xin cơ quan có thẩm quyền cho phép bán đấu giá tài sản.
15 ngày thực hiện việc đăng ký bán đấu giá tài sản.
30 ngày niêm yết tài sản bán đấu giá.
60 ngày cho thời gian cấp giấy chứng nhận cho người mua tài sản.
Trong khi khối lượng tài sản thế chấp của NHTM là rất lớn (trên địa bàn TP.HCM
có 2.870 món tài sản đang thế chấp là đất đai, nhà cửa), mà theo quy định này UBND
TP.HCM sẽ phải cấp 2.870 lần giấy phép cho các NHTM bán đấu giá tài sản và thời gian
thu hồi nợ của các NHTM sẽ là bao lâu?
Công tác thi hành án còn chậm. Trong thực tế có nhiều bản án, quyết định của Tòa
án đã có hiệu lực thi hành và đã có đơn yêu cầu thi hành án của ngân hàng. Nhưng cơ
quan thi hành án vẫn chưa thi hành án với nhiều lý do như bản án chưa rõ ràng, hoặc lý
do này khác. Những trường hợp đó, ngân hàng phải chờ cơ quan thi hành án làm việc lại
Phụng – Epco xảy ra.
Xuất phát từ tình hình thực tế đó, qua tham khảo cách giải quyết nợ tồn đọng và
mô hình công ty quản lý nợ của các nước trên thế giới, tháng 1.2000 Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã có đề nghị xin thành lập công ty quản lý nợ và khai thác tài sản (QLN
& KTTS) thế chấp trực thuộc các NHTM trình Chính phủ và đã được Chính phủ đồng ý
tại văn bản 122/CP-KTTH ngày 03.02.2000. Do đó, ngày 30.6.2000, Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam đã ký công văn số 580/CV-NHNN5 chấp thuận cho Ngân hàng công
thương Việt Nam được thành lập Công ty quản lý và khai thác tài sản. Đến tháng 9.2000
Công ty quản lý và khai thác tài sản của Ngân hàng công thương Việt Nam đi vào hoạt
động. Đó là loại hình công ty mới lạ lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam. Ngân hàng công
thương Việt Nam trở thành Ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực quản lý nợ và khai
thác tài sản. Cuối năm 2001, Ngân hàng đầu tư và phát triển Việt Nam cũng ra mắt Cty
QLN & KTTS của mình có trụ sở đặt tại Hà Nội. Tiếp đến, Sài Gòn công thương ngân
hàng – một ngân hàng thương mại cổ phần - cũng có Cty QLN & KTTS đặt tại Thành
phố Hồ Chí Minh. Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn cũng lần lượt thành lập Cty QLN & KTTS trực thuộc. Đến nay, đã có thêm 4
NHTM cổ phần cũng thành lập công ty QLN & KTTS, đưa số công ty QLN & KTTS
của các NHTM lên đến gần một chục công ty.
VI. Công ty mua bán nợ:
Tại Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3, Ban chấp hành trung ương Đảng khóa IX đã
xác định : “Chính phủ quy định biện pháp giải quyết dứt điểm các khoản nợ không có
khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với ngân sách nhà nước và ngân hàng đồng
thời có giải pháp để ngăn ngừa sự tái phát. Thành lập công ty mua bán nợ và tài sản tồn
đọng của doanh nghiệp nhà nước để xử lý nợ và tài sản không cần dùng, tạo điều kiện để
lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp”. Như vậy, công ty mua bán nợ và tài sản
tồn đọng của doanh nghiệp đã được thành lập theo Quyết định số: 109/2003/QĐ/TTG
ngày 5.6.2003 của Thủ tướng Chính phủ, giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số :
0106000093 ngày 12.12.2003 do Sở kế hoạch và đầu tư TP. Hà Nội cấp, có trụ sở tại : Số
4 Ngõ 1, Phố Hàng Chuối, Q.Hai Bà Trưng, TP. Hà Nội. Việc ra đời công ty này nhằm
tạo ra công cụ mới thích hợp với nền kinh tế thị trường để giúp các doanh nghiệp xử lý
việc này cũng gần 1.000 tỉ VND/năm.
Như vậy, sự ra đời của công ty mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp,
đây là một mô hình tài chính mới có tính đặc thù với các hoạt động mua bán nợ, đầu tư,
môi giới huy động vốn, công ty hoạt động theo quy định của luật doanh nghiệp, là công
cụ thích hợp để xử lý nợ và tài sản tồn đọng của các doanh nghiệp trong nền kinh tế,
nhằm góp phần làm lành mạnh hóa tình hình tài chính doanh nghiệp, thúc đẩy quá trình
sắp xếp và chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước. Đây là công ty đầu tiên mang tầm quốc
gia của Việt Nam về mua bán nợ và tài sản tồn đọng của doanh nghiệp. Hy vọng rằng
công ty sẽ góp phần quan trọng trong việc xử lý nợ tồn đọng và tài sản tồn đọng trong
nền kinh tế, để giúp các doanh nghiệp lành mạnh hóa tình hình tài chính và từng bước hội
nhập kinh tế quốc tế đạt kết quả. (Theo TCKTPT)
VII. Kết quả xử lý tài sản đảm bảo trên địa bàn TP.HCM:
Tính đến 31.12.2000, nợ quá hạn của các NHTM trên địa bàn TP.HCM là 11.606
tỉ đồng, chiếm 22,24% tổng dư nợ cho vay. Trong đó, nợ quá hạn có tài sản đảm bảo là
8.572 tỉ đồng, chiếm 73,86% tổng nợ quá hạn. Tài sản đảm bảo của các NHTM chuyển
giao qua công ty QLN & KTTS trực thuộc là 7.831 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 91,36%.
Tính đến cuối năm 2002, các công ty QLN & KTTS trực thuộc các NHTM trên
địa bàn TP.HCM đã tiến hành xử lý các tài sản có giấy tờ hợp lệ trên cơ sở tự bán, khách
hàng tìm người bán hoặc phối hợp cùng nhau để bán. Tuy nhiên, số tài sản mà giấy tờ
còn hợp lệ cho đến lúc thanh lý chỉ chiếm một phần nhỏ, khoảng 7,74% số tài sản đảm
bảo, trị giá 606,2 tỉ đồng. Trong đó, Công ty QLN & KTTS của Ngân hàng công thương
(NHCT) là hoạt động mạnh nhất, cũng chỉ bán được 13 tài sản trị giá 9,7 tỉ đồng. (Báo
Tuổi trẻ tháng 6.1999).
Các tài sản đưa vào kinh doanh, khai thác cho thuê để thu hồi nợ cũng chiếm tỉ
trọng không đáng kể. Tính đến cuối năm 2002, số tài sản đưa vào khai thác, cho thuê là
101,5 tỉ đồng, chiếm tỉ lệ 1,3% tổng dư nợ quá hạn chuyển giao sang công ty QLN &
KTTS. NHCT có số tài sản đảm bảo cao nhất là 375 tài sản với trị giá 2.142,4 tỉ đồng,
nhưng cũng chỉ khai thác đưa vào cho thuê được 121 tài sản, thu hồi được 46,4 tỉ đồng.
Các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.HCM có số tài sản đảm bảo là 98 món với trị giá
80,1 tỉ đồng. Đối với loại tài sản này nguồn thu hồi nợ không cao vì thời gian thuê
đề nghị khởi kiện nêu rõ lý do và được Giám đốc chi nhánh cấp 1 chấp thuận. Phòng
Nghiệp vụ kinh doanh thuộc chi nhánh cấp 1 có trách nhiệm hỗ trợ về pháp lý và thủ tục
trong quá trình xử lý nợ khi có yêu cầu bằng văn bản từ các đơn vị trực thuộc.
4. Quá trình khởi kiện, thi hành án:
Trước khi tiến hành khởi kiện, các đơn vị cần nghiên cứu, liên hệ với chính quyền
địa phương và các ban ngành có liên quan để xác định phương thức và biện pháp phát
mại tốt nhất hoặc khách hàng tự bán thông qua Trung tâm bán đấu giá theo đúng trình tự
hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2001/TTLT/NHNN-BTP-BCA-BTC-TCĐC ngày
23/04/2001; Thông tư liên tịch số 05/2005/TTLT-BTP-BTNMT ngày 16/06/2005 và các
quy định khác của pháp luật.
Sau khi đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để khách hàng trả nợ mà khách hàng vẫn
không thực hiện được nghĩa vụ thanh toán nợ vay, trong thời hạn 25 ngày làm việc kể từ
ngày làm việc cuối cùng với khách hàng, cán bộ xử lý nợ có trách nhiệm lập tờ trình đề
nghị khởi kiện. Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày Giám đốc chấp thuận cho
khởi kiện, cán bộ xử lý nợ phải tiến hành khởi kiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:
a) Giai đoạn chuẩn bị hồ sơ khởi kiện:
Hồ sơ khởi kiện nộp tại Tòa án (chỉ nộp những hồ sơ, giấy tờ cần thiết):
+ Đơn khởi kiện do Giám đốc hoặc người được ủy quyền ký kèm bảng
chiết tính chi tiết nợ phải trả (nợ gốc; lãi trong hạn; quá hạn; lãi phạt ); bảng chiết tính
các khoản phí đến ngày khởi kiện.
+ Hồ sơ pháp lý của Ngân hàng theo quy định;
+ Hồ sơ pháp lý của khách hàng theo quy định;
+ Hồ sơ tín dụng: Giấy đề nghị vay vốn; tờ trình thẩm định cho vay; biên
bản họp hội đồng tín dụng (nếu có); hợp đồng tín dụng và các phụ lục hợp đồng tín dụng;
giấy nhận nợ; các văn bản liên quan đến điều chỉnh nợ, gia hạn nợ, các chứng từ giải
ngân của Ngân hàng; hợp đồng kinh tế, dân sự có liên quan ;
+ Hồ sơ tài sản đảm bảo nợ: Hợp đồng thế chấp, cầm cố, bảo lãnh tài sản
đảm bảo có công chứng; đăng ký thế chấp có chứng nhận của cơ quan đăng ký thế chấp;
các giấy tờ có liên quan đến tài sản đảm bảo,
+ Hồ sơ kế toán tài chính: Cân đối tài khoản; báo cáo kết quả hoạt động
- Nộp đơn và hồ sơ khởi kiện tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền.
- Quyết định người đại diện tham gia tố tụng: Người đại diện tham gia tố tụng là
Giám đốc chi nhánh cấp 1 và những người được Tổng Giám đốc ủy quyền bằng văn bản.
Tùy theo mức độ quan trọng và phức tạp của từng khoản nợ khởi kiện mà Giám đốc chi
nhánh cấp 1 sẽ quyết định Người đại diện tham gia tố tụng và chịu trách nhiệm về việc cử
người đại diện tham gia tố tụng.
- Sau khi đã được Tòa án thụ lý (Ngân hàng đã nộp tạm ứng án phí); Người đại
diện tham gia tố tụng, Cán bộ xử lý nợ cùng luật sư (nếu có) tiến hành các thủ tục tố tụng
tại các cơ quan pháp luật theo trình tự:
+ Hoà giải;
+ Xét xử: Sơ thẩm; phúc thẩm
- Trong giai đoạn tố tụng tại Tòa án, nếu thấy cần thiết, Cán bộ xử lý nợ phải
nghiên cứu, áp dụng các điều, khoản tại chương VIII Bộ luật Tố tụng Dân sự 2004, đề
xuất cho lãnh đạo đơn vị trực thuộc để tham mưu cho Giám đốc yêu cầu Tòa án áp dụng
các biện pháp khẩn cấp tạm thời, đảm bảo việc thi hành án, thu hồi nợ cho Ngân hàng.
d) Giai đoạn thi hành án:
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, các chi nhánh phải lưu ý thời hiệu thi hành
án theo Điều 25 Pháp lệnh Thi hành án Dân sự 2004 để tiến hành các thủ tục phát mại tài
sản, thu hồi nợ:
“Thời hiệu thi hành án là 03 năm kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp
luật, người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành
án có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Trong trường hợp thời hạn thực hiện nghĩa
vụ được ấn định trong bản án, quyết định của Tòa án thì thời hạn 03 năm được tính từ
ngày nghĩa vụ đến hạn. Đối với bản án, quyết định theo định kỳ thì thời hạn 03 năm được
áp dụng cho từng định kỳ, tính từ ngày nghĩa vụ đến hạn”.
Sau khi bản án hoặc quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự (sau
đây gọi chung là bản án) có hiệu lực thi hành, cán bộ xử lý nợ phải căn cứ nội dung bản
án để soạn thảo đơn yêu cầu thi hành án trình ký và nộp đơn thi hành án cùng 01 bản án
tại cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền giải quyết. Sau khi cơ quan Thi hành án
Dân sự thụ lý đơn, cán bộ xử lý nợ tiếp tục tiến hành các bước:
c. Phòng (bộ phận) Kế hoạch nguồn vốn:
- Phối hợp với Phòng (bộ phận) Kiểm tra nội bộ lập báo cáo tiến trình, kết quả thu
hồi nợ của Chi nhánh báo cáo cấp trên theo quy định;
- Cho ý kiến cụ thể về việc miễn giảm lãi, phí đối với hồ sơ thu nợ (nếu có);
d. Phòng (bộ phận) Kiểm tra nội bộ:
- Lập báo cáo tiến trình, kết quả thu hồi nợ của Chi nhánh báo cáo cấp trên theo
quy định;
- Giám sát quá trình thực hiện việc xem xét miễn giảm lãi, phí đối với hồ sơ thu
nợ (nếu có) theo đúng quy định;
e. Đối với những yêu cầu khác:
Phòng Nghiệp vụ kinh doanh, các đơn vị trực thuộc lập đề nghị bằng văn bản
cụ thể khi có phát sinh trình Giám đốc xem xét giải quyết.
6. Xử lý vi phạm
Lãnh đạo Phòng Nghiệp vụ kinh doanh thuộc chi nhánh cấp 1 và lãnh đạo các đơn
vị trực thuộc tham mưu cho Giám đốc các biện pháp xử lý cán bộ cho vay và đề
xuất hướng xử lý đối với cán bộ xử lý nợ nếu phát hiện sai phạm.
7. Báo cáo:
Các đơn vị trực thuộc lập báo cáo kết quả thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã khởi
kiện và tiến trình xử lý theo mẫu đính kèm gửi về Giám đốc chi nhánh vào ngày cuối
cùng hàng tháng.
Phòng Nghiệp vụ kinh doanh thuộc chi nhánh cấp 1 tổng hợp và báo cáo kết quả
thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã khởi kiện và tiến trình xử lý của toàn Chi nhánh theo
yêu cầu của Giám đốc chi nhánh và Hội sở.
Định kỳ vào ngày 20 của tháng cuối cùng hàng quý, các Chi nhánh lập báo cáo kết
quả thu hồi nợ đối với các khoản nợ đã khởi kiện và tiến trình xử lý về Hội sở theo mẫu
đính kèm (số liệu báo cáo tại thời điểm ngày 15 của tháng cuối cùng hàng quý ).
8. Điều khoản thi hành:
Hướng dẫn này có hiệu lực kể từ ngày ký.
Giám đốc các chi nhánh chịu trách nhiệm tổ chức thực hiện tốt hướng dẫn này tại
đơn vị của mình. Trong quá trình thực hiện, nếu có vướng mắc, các Chi nhánh báo cáo cụ