Giáo dục môi trường trong chương Nitơ Photpho Hóa học 11 - Pdf 26

MỤC LỤC
Đề mục Trang
Phần một: Mở đầu 2
Phần hai: Nội dung 5
I. Giải pháp cũ thường làm 5
II. Giải pháp mới cải tiến 6
1. Các quy trình đưa nội dung giáo dục môi trường vào dạy
chương Nitơ - Photpho 6
2. Các phương pháp đưa nội dung giáo dục môi trường vào
dạy chương Nitơ - Photpho 8
3. Các hình thức đưa nội dung giáo dục môi trường vào dạy
chương Nitơ - Photpho 8
III. Hiệu quả dự kiến đạt được 19
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng 21
Phần ba: Kết luận 22
Tài liệu tham khảo 24
Phụ lục 25
I. Một số bài tập câu hỏi và minh hoạ 25
II. Giới thiệu giáo án bài "Phân bón hoá học" 28
Trang 1
PHẦN MỘT: MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Môi trường có vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự sống và chất lượng cuộc sống
của con người. Môi trường là không gian sống của con người. Con người đòi hỏi không
gian sống không chỉ về phạm vi rộng lớn mà còn cả về chất lượng. Không gian sống có
chất lượng cao trước hết phải sạch sẽ, tinh khiết, không chứa hoặc chứa ít các chất bẩn,
độc hại đối với sức khoẻ con người.
Môi trường còn là nơi cung cấp nguồn tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt
động sản xuất của con người. Đất, nước, không khí, khoáng sản được con người sử
dụng để phục vụ cho mục đích ăn, ở và lao động của mình.
Tuy nhiên,môi trường lại là nơi chứa đựng các phế thải do con người tạo ra trong

Photpho qua các ví dụ minh họa. Với đề tài này chúng tôi hi vọng sẽ mang lại cho bản
thân, đồng nghiệp một tài liệu nghiên cứu, học tập bổ ích.
II. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Đề tài này đi vào nghiên cứu những biện pháp để tích hợp, lồng ghép nội dung
kiến thức giáo dục môi trường vào bài dạy hóa học ở chương Nitơ- Photpho Hóa học 11
sao cho có hiệu quả tốt nhất. Từ đó giáo dục cho học sinh ý thức về tình trạng ô nhiễm
môi trường hiện nay và có ý thức để hạn chế điều đó.
Giúp cho học sinh hiểu rõ được mối quan hệ giữa các kiến thức Hóa học với thực
tiễn đời sống, với xu hướng phát triển của xã hội.
III. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Học sinh khối 11 và giáo viên dạy môn Hoá học ở trường THPT Đinh Tiên Hoàng.
IV. PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu để giảng dạy các bài có liên quan đến nội dung giáo dục môi trường
trong chương Nitơ - Photpho lớp 11.
V. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu các vấn đề cơ bản liên quan đến việc tích hợp, lồng ghép kiến thức
giáo dục môi trường vào dạy học Hoá học trong chương trình THPT.
Tìm hiểu nội dung và các biện pháp tích hợp, lồng ghép kiến thức giáo dục môi
trường vào dạy học Hoá học trong chương Nitơ-Phopho: Bài nào; phần nào, nội dung nào
Trang 3
cần đưa kiến thức giáo dục môi trường vào, Giáo viên tìm kiến thức trên internet, sách
báo về nội dung có liên quan.
Tự rút ra kinh nghiệm sau mỗi giờ lên lớp cũng như sau những tiết dự giờ từ các
đồng nghiệp.
VI. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: hệ thống hoá những vấn đề có liên quan đến đề
tài .
Phương pháp thực nghiệm: Tiến hành thí nghiệm ở các giờ dạy trên lớp của bản
thân và đồng nghiệp.
Phương pháp điều tra học sinh qua trò chuyện, qua sản phẩm của học sinh sau giờ

Trang 5
II. GIẢI PHÁP MỚI CẢI TIẾN
1. Các quy trình đưa nội dung giáo dục môi trường vào dạy chương Nitơ –
Photpho
1.1.Tìm kiếm và phân loại các tài liệu
Để đưa nội dung giáo dục môi trường vào bài giảng một cách sống động, hợp lí giáo
viên cần phải có vốn kiến thức phong phú. Muốn được như vậy phải chịu khó tìm kiếm
tài liệu (bài viết, phóng sự, tranh ảnh, video ). Sau đó, chắt lọc và phân loại theo từng
hình thức hoặc từng bài để dễ dàng khi sử dụng.
1.2. Xác định hệ thống kiến thức giáo dục môi trường trong chương Nitơ -
Photpho
Kiến thức giáo dục môi trường trong môn Hóa học không được trình bày cụ thể
trong từng chương, từng bài rõ ràng mà được tích hợp và lồng ghép vào nội dung bài
giảng. Qua nội dung bài giảng Hóa học, giáo viên có thể cung cấp cho học sinh những
khái niệm, hiện tượng, kiến thức có liên quan đến môi trường, tình trạng ô nhiễm môi
trường và giải pháp khắc phục. Từ đó giáo dục thái độ, tình cảm, kỹ năng và hành vi xử lí
các vấn đề có liên quan đến môi trường.
Cụ thể, nội dung giáo dục bảo vệ môi trường trong chương Nitơ – PhotPho:
Bài học
Nội dung giáo dục bảo vệ môi trường
Kiến thức Thái độ tình cảm Kĩ năng – hành vi
Bài 7: Nitơ
- Biết khí nitơ là thành
phần của chủ yếu của
không khí. N có trong
đất, là nguyên tố cần
cho cây trồng
- Sự biến đổi của Nitơ
trong tự nhiên và sự ô
nhiêm không khí.

muối amoni nước.
- Sản xuất amoniac gây
ô nhiễm môi trường
bởi NH
3
. và muối amoni sau thí
nghiệm
Bài 9: Axit
nitric và
muối nitrat
- Hiểu được HNO
3

muối nitrat là hoá chất
cơ bản trong sản xuất
hoá học
- Tác dụng của HNO
3

muối nitrat với các chất
và sự ô nhiễm môi
trường.
- Có ý thức tiếp xúc và
làm thí nghiệm an toàn
với HNO
3
và muối
nitrat.
- Nhận biết HNO
3

- Sản xuất axit
photphoric, phân bón
hoá học cũng gây ô
nhiếm môi trường
không khí, nước.
- Có ý thức sử dụng hợp
lí, an toàn phân bón hoá
học giảm ô nhiễm môi
trường nước, đảm bảo
vệ sinh an toàn thực
phẩm.
- Nhận biết muối
photphat, axit
photphoric, một số
phân bón hoá học.
- Xử lí chât thải sau
khi thí nghiệm về tính
chất của P, H
3
PO
4

muối phophat.
Bài 14: bài
thực hành:
- Củng cố, ôn tập kiến
thức của hợp chất nitơ
- Có ý thức sử lí chất
thải, bảo vệ môi trường
- Tiến hành nhận biết

+ Phương pháp sử dụng các tài liệu trực quan trong giờ dạy: như tranh ảnh, video
clip…
+ Phương pháp dùng lời nói (giảng giải, kể chuyện, đọc tài liệu)
+ Phương pháp thực hành, thực nghiệm trong phòng thí nghiệm
3. Các hình thức đưa nội dung giáo dục môi trường vào dạy chương Nitơ -
Photpho
Với hai phương thức thuận lợi là tích hợp và lồng ghép, kết hợp với các phương
pháp đã xác định ở trên thì sẽ có nhiều hình thức khác nhau để đưa giáo dục môi trường
vào bài học. Tuỳ vào điều kiện lớp học, năng lực của học sinh hay nội dung bài học mà
lựa chọn hình thức phù hợp trong các hình thức dưới đây:
Trang 8
3.1. Vận dụng kiến thức trong nội dung bài học để liên hệ thực tế có liên quan
đến môi trường
Hình thức này giúp các em thấy được sự gần gũi giữa Hoá học với các vấn đề thực
tiễn, các em có thể sử dụng kiến thức Hoá học để giải thích được một số hiện tượng trong
tự nhiên có liên quan đến sự biến đổi Hoá học, từ đó tạo sự hứng thú cũng như niềm say
mê của các em đối với bộ môn Hoá học.
Trong hình thức này, giáo viên có thể kể chuyện hoặc nêu vấn đề và đặt các câu
hỏi "tại sao?" để dẫn dắt các em tiếp cận với nội dung giáo dục môi trường.
Ví dụ 1: Khi dạy bài Nitơ: Trong phần tính khử của nitơ, giáo viên có thể hỏi: "Các oxit
của nitơ có thể sinh ra ở đâu? Nó có tác hại như thế nào?"
- Trong tự nhiên oxit nitơ sinh ra chủ yếu từ đất và sự phân huỷ các chất hữu cơ
trong đại dương. Nó còn được sinh ra từ khí thải của các động cơ ôtô, xe máy, trong các
nhà máy sản xuất đạm , công nghiệp luyện kim… Vai trò của NO
x
thiệt hại lớn cho môi
trường, nó không những là một trong những nguyên nhân chính gây mưa axit, mà còn
hình thành sương khói quang hóa trong khí quyển , là một vật liệu quan trọng tiêu thụ O
3
gây nên hiện tượng thủng tầng ozon.

NO
2
+ SO
2


NO + SO
3
2SO
2
+ O
2


2SO
2
3NO
2
+ H
2
O

2HNO
3
+ NO
SO
3
+H
2
O

giáo viên đặt vấn đề: Diêm tiêu ( kali nitrat ) dùng để ướp thịt muối có tác dụng làm cho
thịt giữ được màu sắc đỏ hồng vốn có. Tuy nhiên, khi sử dụng các loại thịt được ướp bằng
diêm tiêu như xúc xích, lạp xường, không nên rán kỹ hoặc nướng ở nhiệt độ cao. Hãy nêu
cơ sở khoa học của lời khuyên này?
- Cơ sở khoa học của lời khuyên đó là: ở nhiệt độ cao, kali nitrat bị phân hủy theo
phương trình:
2KNO
3

0
t
→
2KNO
2
+ O
2
Muối KNO
2
không tốt cho sức khỏe.
Ví dụ 6: Trong phần tính oxi hoá của Photpho, giáo viên lấy ví dụ về phản ứng của P với
Zn, sau đó cho học sinh biết: Thành phần của thuốc diệt chuột là Zn
3
P
2
. Nếu không quản
Trang 10
lí được thuốc khi sử dụng, để lâu ngày trong không khí ẩm sẽ gây ảnh hưởng đến môi
trường do phản ứng thủy phân sinh ra PH
3
là chất khí, mùi trứng thối, độc. Do đó phải biết

CaSO
3
+ H
2
O
4NO
2
+ 2Ca(OH)
2


Ca(NO
2
)
2
+ Ca(NO
3
)
2
+ 2H
2
O
2HF + Ca(OH)
2


CaF
2
+ 2H
2

A. Cầm bằng tay có đeo găng.
B. Dùng cặp gắp nhanh mẫu photpho ra khỏi lọ và cho ngay vào chậu đựng nước
khi chưa dùng đến.
C. Tránh cho tiếp xúc với nước.
D. Có thể để ngoài không khí.
- Photpho trắng rất độc, gây bỏng nặng khi rơi vào da.
- Photpho trắng không tan trong nước.
- Photopho trắng bị oxi hóa chậm trong không khí và bốc cháy ở nhiệt độ trên
400C.

Đáp án đúng là B.
Ví dụ 5: Khi dạy bài "Phân bón hoá học", trong phần củng cố, giáo viên đưa bài tập: Khử
đất chua bằng vôi và bón phân đạm cho lúa đúng cách để không ảnh hưởng đến môi
trường được thực hiện theo cách nào sau đây?
A. Bón đạm cùng một lúc với vôi.
B. Bón đạm trước rồi vài ngày sau mới bón vôi khử chua.
C. Bón vôi khử chua trước rồi vài ngày sau mới bón đạm.
D. Cách nào cũng được.
- Bón đạm thường làm đất chua thêm ảnh hưởng tới sức khỏe cây trồng. Vì thế
trước khi bón đạm cần phải bón vôi trước vài ngày để khử chua đất. Không thể bón cùng
một lúc vì chúng tác dụng với nhau làm tiêu hao một lượng đạm đáng kể. Cũng không thể
bón đạm trước vài ngày rồi mới bón vôi vì khi đó cây chưa hấp thụ hết lượng đạm.

Chọn phương án C.
Ví dụ 6: Trong tiết "Luyện tập", giáo viên có thể cho các bài tập sau:
Trang 12
1. Trong thành phần khí thải công nghiệp có các khí SO
2
, NO, NO
2

2
.
- Đáp án đúng là D.
2. Tại sao những con chuột sau khi ăn thuốc chuột lại đi tìm nước uống? Vậy thuốc chuột
là gì? Chất gì đã làm chuột chết? Nếu sau khi ăn thuốc mà không có nước uống nó sẽ chết
mau hơn hay lâu hơn?
- Thuốc chuột là Zn
3
P
2
. Sau khi chuột ăn, Zn
3
P
2
bị thủy phân rất mạnh, hàm lượng
nước trong cơ thể chuột giảm, nó khát và đi tìm nước:
Zn
3
P
2
+ 6H
2
O

3Zn(OH)
2
+ 2PH
3



trong không khí tạo ra khí NO
2
rất độc hại. Để tránh gây ô nhiêm môi trường bạn đó phải
chuyển axit thành muối như cho tác dụng với dung dịch bazơ như Ca(OH)
2
.
3.3. Đưa vào nội dung bài học những thông tin có liên quan đến môi trường
Bằng phương pháp kể chuyện, phát hoặc trình chiếu các tờ rời gồm những nội
dung có liên quan đến môi trường hoặc những thông tin mang tính thời sự có liên quan
đến môi trường. Với hình thức này sẽ giúp học sinh có thêm những hiểu biết thực tế, sâu
sắc hơn so với các kiến thức trong sách giáo khoa, giúp cho các em thấy được mối quan
hệ mật thiết giữa Hoá học với đời sống, với môi trường. Từ đó biết vận dụng những kiến
thức Hoá học vào việc xây dựng, bảo vệ, cải tạo môi trường mà các em đang sống.
Ví dụ 1: Khi dạy bài "Nitơ", giáo viên có thể cho học sinh đọc các tờ rời trong phần củng
cố hoặc yêu cầu về nhà đọc các tờ rời sau:
Tờ rời: Tác hại của NO
x

+ Khí NO
x
làm phai màu thuốc nhuộm vải, han gỉ kim loại.
+ NO
2
: Với nồng độ 100ppm có thể làm chết người và động vật chỉ sau vài phút,
nồng độ 5ppm gây tác hại bộ máy hô hấp sau vài phút, nồng độ 15-50ppm gây nguy hiểm
cho tim, phổi, gan sau vài giờ. Nồng độ 0,06ppm có thể gây bệnh phổi cho người nếu tiếp
xúc lâu dài.
+ NO
2
tạo axit nitric: 4NO

Dương,…
+ Tại khu vực thành phố Cần Thơ, tần suất xuất hiện mưa acid trung bình trong mười
năm đã lên đến 58%
+ Ở Tây Ninh tần suất xuất hiện mưa acid trung bình trong mười năm cũng ở con số
57,9%
Bình luận: tần suất xuất hiện mưa acid đang tăng dần trong những năm gần đây, những
cơn mưa acid chủ yếu tập trung ở các khu công nghiệp, các thành phố lớn…vậy nên
chúng ta cần phải có biện pháp khắc phục và hạn chế lượng khí thải công nghiệp này.
Ví dụ 4: Trong bài "Photpho", sau phần tính chất vật lí, giáo viên có thể chiếu tờ rời:
Tờ rời:
Photpho trắng rất độc, gây bỏng khi rơi vào da, thở nhiều hơi photpho dẫn đến bệnh
mục xương và ăn một lượng rất nhỏ photpho cũng có thể bị tử vong. Do đó phải cẩn thận
khi làm việc với photpho trắng. Ngược lại, photpho đỏ không độc hại nên thường được sử
dụng hơn, nó được sử dụng để sản xuất diêm an toàn.
Ví dụ 5: Khi dạy bài "Phân bón hoá học", giáo viên có thể cho học sinh đọc một số tờ rời
sau:
Tờ rời: Sử dụng nhiều phân đạm
- Đối với đất trồng: dùng phân đạm làm tăng tính chua của đất vì dạng HNO
3
rất phổ
biến trong đất.
- Đối với môi trường nước: phần lớn nitrat của phân được giữ lại trong đất và ngấm
xuống mạch nước ngầm, làm giảm chất lượng của nước mặt và nước ngầm. Nếu dư
Trang 15
phân đạm thì rong tảo phát triển quá mức rồi chết gây thối nước và giảm oxi trong
nước ảnh hưởng đến các loài vật khác trong nước.
- Đối với muôi trường khí nếu dư phân đạm thì chuyển thành NH
3
; NO; NO
2

đều bị ô nhiễm bởi nitrat và photphat. Sự ô nhiễm này tạo ra hiện tượng phát triển hỗn
loạn của thực vật nổi và cây có hoa thủy sinh do trong nước có quá nhiều muối khoáng
và chất dinh dưỡng. Những khối lượng lớn thực vật này sẽ tích lũy ở đáy hồ. Các vi khuẩn
Trang 16
ưa khí sẽ phân hủy khối thực vật này qua con đường oxi hóa sẽ kéo theo sự tiêu thụ oxi có
trong nước (BOD), kết quả là xảy ra sự chết hàng loạt của các động vật. Giai đoạn tiếp
theo của sự phú dưỡng là sự lên men yếm khí của khối thực vật ở dưới đáy, giải phóng ra
CH
4
và các mùi khó chịu khác, đặc biệt là H
2
S, NH
3
.
3.4. Minh hoạ nội dung giáo dục môi trường bằng những hình ảnh thực tế
Giáo viên sưu tầm và đưa vào những hình ảnh cụ thể, có thật và sinh động sẽ tạo
hứng thú cho học sinh, hiệu quả giáo dục sẽ cao hơn.
Ví dụ 1: Trong bài "Nitơ", có thể chiếu hình ảnh:
Hiện tượng khói mù quang hoá
NO và NO
2
có vai trò nhất định trong việc hình thành khói mù quang hóa và là một trong
bốn nguyên nhân chính phân hủy ozôn, gây nên nguy cơ suy giảm tầng ôzon hiện nay.
Phố Nguyễn Chí Thanh – Hà Nội lúc 22h ngày 13/6/2009
Ví dụ 2: Khi dạy bài "Axit nitric và muối nitrat", để dẫn dắt vào bài, giáo viên chiếu hình
hình ảnh về hậu quả của mưa axit
Trang 17
Mưa axit gây tổn hại cho các công trình bằng sắt thép, đá, cây cối.
Ví dụ 3: Khi dạy bài "Phân bón hoá học", khi liên hệ về ảnh hưởng của việc sử dụng và
sản xuất phân bón đến môi trường, giáo viên có thể chiếu một hoặc một số hình ảnh:

Kết quả kiểm tra
Giỏi Khá TB Yếu Kém
11B8 Thường xuyên 25% 37,5% 37,5% 0% 0%
11B9 Thường xuyên 21,6% 43,2% 35,2% 0% 0%
11B10 ít hoặc không thường xuyên 11,1% 27,8% 47,2% 13,9% 0%
11B1 ít hoặc không thường xuyên 11,4% 34,3% 45,7% 8,6% 0%
11B2 Không áp dụng 7,6% 20,5% 56,4% 12,8% 2,7%
Trang 19
Hình thức 2: Chúng tôi đã tiến hành một buổi sinh hoạt ngoại khóa với chủ đề “ô nhiễm
môi trường”. Mỗi nhóm học sinh chuẩn bị một sản phẩm dưới dạng trình chiếu về vấn đề
ô nhiễm môi trường có liên quan đến kiến thức Hóa học trong chương Nitơ – Photpho.
Kết quả cho thấy các em đều rất hứng thú, hăng hái, tích cực tham gia buổi ngoại khóa và
đã thể hiện sự hiểu biết rất sâu sắc của mình về vấn đề ô nhiễm môi trường. Các em đã
biết vận dụng các kiến thức Hóa học trong chương để giải thích cho các hiện tượng ô
nhiễm môi trường.
Chúng tôi xin giới thiệu một video báo cáo sản phẩm của một nhóm học sinh lớp
11B9(có video kèm theo).
Qua kết quả của hai hình thức khảo sát trên đã cho thấy hiệu quả của việc vận dụng
"Giáo dục môi trường trong chương Nitơ - Photpho hóa học 11":
- Đối với xã hội:
+ Thay đổi nhận thức của học sinh (một bộ phận không nhỏ người dân) về môi
trường một cách rõ ràng, các em đã có những hiểu biết sâu hơn, có những ý tưởng tốt cho
những giải pháp bảo vệ môi trường.
+ Giáo dục cho các em học sinh - chủ nhân tương lai của đất nước ý thức bảo vệ
môi trường , bảo vệ sức khỏe cho người lao động, cho cộng đồng. Góp phần không nhỏ
cho việc bảo vệ “cái nôi của con người”.
- Đối với công tác giảng dạy:
+ Tạo được sự hứng thú, niềm say mê học tập của học sinh đối với bộ môn Hoá
học. Học sinh năng động, tích cực hơn trong quá trình học bài trên lớp cũng như sự chuẩn
bị bài từ nhà.

nôi của loài người”.
II. KIẾN NGHỊ
Vấn đề đổi mới phương pháp trong dạy học trong trường phổ thông đang là vấn đề
bức xúc. Để dạy hóa học trong nhà trường phổ thông có hiệu quả tôi đề nghị một số vấn
đề sau:
+ Đối với mỗi giáo viên dạy môn Hoá học ngoài việc tự học, tự nâng cao kiến thức
chuyên môn còn phải biết kết hợp linh động, thành thạo nhiều phương pháp dạy học, phải
kiên trì, đầu tư nhiều tâm, sức để tìm hiểu các vấn đề Hóa học, vận dụng sáng tạo các
phương pháp dạy Hoá học để có bài giảng thu hút được học sinh.
+ Đối với nhà trường và các cấp lãnh đạo cần tạo điều kiện tốt hơn về cơ sở vật
chất, tổ chức nhiều buổi trao đổi chuyên đề về phương pháp giảng dạy để các giáo viên có
thể học tập cũng như bổ sung kinh nghiệm cho nhau nhằm tìm ra những phương pháp
giảng dạy tốt nhất phục vụ cho nhu cầu dạy và học trong nhà trường. Cần bồi dưỡng cho
đội ngũ giáo viên một cách có hệ thống.
+ Tích cực đổi mới sinh hoạt chuyên môn, qua đó các giáo viên cùng nhau nghiên
cứu bài học một cách có hiệu quả.
Trong quá trình thực hiện đề tài, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng vì thời gian
đầu tư có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu chưa nhiều nên không thể tránh khỏi những sai
sót. Chúng tôi kính mong thầy, cô giáo và các bạn thông cảm, đóng góp ý kiến để đề tài
được hoàn thiện hơn để có thể ứng dụng rộng rãi trong công tác giảng dạy.
Xin trân trọng cảm ơn!
Ninh Bình, ngày 17 tháng5 năm 2014
Xác nhận của cơ quan, đơn vị Các tác giả
Nguyễn Thị Quỳnh Hương
Trần Thị Phương
Trang 22

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1]. Hoá học công nghệ và môi trường
Trần Thị Bính - Phùng Tiến Đạt - Lê Viết Phùng - Phạm Văn Thưởng

chuyển vào máu tạo ra hợp chất methemoglobin có hại cho sức khỏe con người. Để loại
bỏ khí NO
2
trong công nghiệp người ta dùng hóa chất nào trong các hóa chất sau:
A. Dung dịch NaOH B. Dung dịch Ca(OH)
2

C. Dung dịch H
2
SO
4
D. Cả A,B.
4. NO, NO
2
là những chất gây ô nhiễm môi trường, không khí vì:
A. Chúng là chất khí có khả năng thâm nhập vào mạch máu để phản ứng với
Hemoglobin.
B.Chúng làm tổn thương lá cây, làm rụng lá và làm thực vật giảm sinh trưởng.
C. Chúng là những oxit độc, có mùi khai.
D. Chúng tan vào nước mưa gây hiện tượng mưa axit.
5. Một loại chất có mùi khó chịu, độc hại đối với người và động vật, nồng độ cao làm lá
cây trắng bạch, làm đốm lá và hoa, làm giảm rễ cây, làm cây thấp đi, quả bị thâm tím,
giảm tỷ lệ hạt giống nảy mầm. Công thức hóa học của chất này là:
A. H
2
S B. Cl
2
C. NH
3
D. NO

được kết quả sau:
Các chỉ tiêu Hàm lượng nước ở rác Tiêu chuẩn cho phép
pH 7,71 - 7,88 5,50 - 9,00
NH
4
+
(mg/l) 22,3 – 200 1,0
Trang 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status