Toàn cầu hóa - Pdf 27

Lời nói đầu
Trong lịch sử từ xa xa đến nay, không một cộng đồng, một quốc gia hay một
dân tộc ngời náôc thể phát triển bình thờng mà không quan hệ không trao đổi giao
lu trên các lĩnh vực: Kinh tế, chính trị, văn hoá, t tởng.v.v với các cộng đồng dân
tộc, với các quốc gia khác. Do đó quan hệ quốc tế xuất hiện với t cách là quan hệ
lâu đời và phổ biến
Nó vừa là điều kiện, vừa là kết quả cần thiết cho mọi quá trình phát triển xã
hội.
Toàn cầu hoá đã trở thành một xu thế khách quan. Trong hơn một thập kỷ
lại đây xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới có sự gia tăng mạnh mẽ gắn liền
với sự phát triển của khoa học công nghệ, sự chấm dứt chiến tranh lạnh, thế giới
chuyển sang thời kỳ mới hoà bình hợp tác và phát triển. Sự gia tăng mạnh mẽ
của toàn cầu hoá kinh tế kéo theo nó là những cơ hội và thách thức mới cho các
quốc gia khi tham gia vào quá trình đó.
Việt Nam đang trong quá trình đổi mới chuyển sang phát triển kinh tế thị tr-
ờng định hớng xã hội chủ nghĩa. Việc đẩy mạnh tham gia vào hội nhập kinh tế thế
giới là một nội dung, một khía cạnh quan trọng hiện nay. Do vậy, việc nghiên cứu
tìm hiểu sâu về toàn cầu hoá kinh tế là vấn đề không chỉ có ý nghĩa về mặt lý luận
mà còn có ý nghĩa thực tiễn.
Sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa vào cuối những năm 80 và đầu thập
kỷ 90 đã làm biến đổi trật tự hệ thống thế giới. Cũng trong thời điểm chuyển đổi
ấy, khái niệm toàn cầu hoá bắt đầu đợc hình thành và đợc sử dụng một cách phổ
biến. Những quan hệ liên kết vợt lên trên quốc gia, đôi khi ngời ta cách điệu siêu
quốc gia, ấy gọi là quá trình quốc tế hoá.
1
Chính do xu hớng quốc tế, toàn cầu hoá xuất hiện gắn liền với sự hình thành
và phát triển của chủ nghĩa t vản mà dẫn đến quan niệm về quốc tế hoá trớc kia và
toàn cầu hoá ngày nay là xu thế lớn của sự vận động nền kinh tế thế giới. Vậy thì
toàn cầu hoá là gì? Toàn cầu hoá đó là sự gia tăng tăng mạnh mẽ các mối quan hệ
gắn kết, tác động phục thuộc lẫn nhau là quá trình mở rộng quy mô và cờng độ
hoạt động giữa các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên phạm vi toàn cầu trong

hình của kinh tế tri thức, một mặt làm gia tăng khoảng cách phát triển giữa những
nền kinh tế phát triển nhất với phần còn lại của thế giới. Nhng mặt khác nó cũng
tạo ra cơ hội lớn hơn cho việc tiếp cận tri thức phục vụ CNH - HĐH.
2- Toàn cầu hoá tài chính:
Đặc trng thứ hai cần nhấn mạnh là quá trình toàn cầu hoá ngày nay không
chỉ diễn ra ở lĩnh vực thơng mại hàng hoá, mà nét đặc trng mới là toàn cầu hoá tài
chính ngày càng giữ vị trí chi phối. Nói cách khác, toàn cầu hoá ngày nay chịu sự
dẫn dắt của toàn cầu hoá tài chính. Đặc điểm này đợc biểu hiện ở hiện tợng chẳn
máu của các dòng vốn di chuyển trên thế giới đã liên tục gia tăng, từ mức 1.0149
tỷ USD năm 1991 lên đến 5.80, tỷ USD năm 2000. Trong đó sự duy chuyển thông
qua thị trờng vốn đã tăng từ mức 794 tỷ USD lên đến 4.324 tỷ USD (tăng
21,3%/năm) và tà trợ phát triển chính thức giảm từ 60,9 tỷ USD xuống còn 38,6tỷ
USD. Sự gia tăng dòng chảy đầu t làm cho nền kinh tế thế giới gắn kết chặt ché với
nhau hơn thông qua sự liên kết chức năng sản xuất, và khiến cho biên giới kinh tế
quốc gia ngày càng mờ nhạt.
3- Vai trò mới của Công ty xuyên quốc gia (TNCs)
3
Nhân vật trung tâm quyết định cái dòng chảy vốn đầu t và chuyển tài tri thức
khoa học công nghệ để hình thành nền kinh tế tri thức nêu trên chính là các TNCs.
Tuy mục tiêu chúng của các Công ty vẫn còn là tìm kiếm lợi nhuận, nhng cách
thức hoạt động của các TNCs hiện đại có nhiều điểm khác biệt so với trớc. Vài ba
thập kỷ trớc đây, các Công ty có xu hớng tập trung nỗ lực nghiên cứu trao đổi mới
hệ thống sản xuất nhằm giảm giảm chi phí đầu vào, tăng khối lợng sản xuất và
khuyến khích tiêu dùng hàng loạt. Nguồn lợi nhuận thu đợc chủ yếu do giảm chi
phí sản xuất và tăng số ngời tiêu dùng. Những tình hình đủ thực sự đã đổi khác kể
từ sau thập kỷ 70. Các Công ty hiện đại chủ yếu thu lợi nhuận từ việc đổi mới sản
phẩm. Các TNCs đang chuyển giao mạnh mẽ hệ thống sản xuất ra bên ngoài, nay
các nớc kém phát triển hơn, trong khi giảm bớt quy mô ở Công ty mẹ. Toàn cầu
hoá đã khiến cho hệ thống sản xuất và phân phối đợc chuyển ra bên ngoài, trong
khi các TNCs chỉ tập trung nắm giữ hệ thống tài chính và bản quyền, những lĩnh

hợp ngợc lại, các nguồn lực sẽ dễ dàng chảy đi nơi khác trong điều kiện toàn cầu
hoá hiện nay. Vì vậy, điểm mới trong vai trò của Nhà nớc. Hiện nay tìm ra phơng
thức hợp tác trong đấu tranh để tạo cho toàn cầu hoá đạt hiệu quả cao nhất đã trở
thành vấn đề chính sách chủ chốt đối với mỗi quốc gia.
III- Nhân tố thúc đẩy quá trình toàn cầu hoá:
Toàn cầu hoá là nh vậy, là xu thế khách quan của thời đại đã không ngừng
mở rộng và phát triển cùng với nó là một đặc điểm và vai trò to lớn của nó đối với
nền kinh tế của mỗi quốc gia. Điều quan trọng là cần phải có các biện pháp thích
hợp trong việc khuyến khích toàn cầu hoá phát triển.
Để làm đợc điều đó cần phải xác định đợc rõ: đâu là nhân tố để cho quá
trình toàn cầu hoá phát triển?
* Thứ nhất là sự bành trớng của các Công ty xuyên quốc gia (TWC).
5
Sự phát triển mạnh mẽ của các Công ty xuyên quốc gia trong những thập
niên qua vừa phản ánh đặc điểm của quá trình toàn cầu hoá gia tăng mạnh mẽ lên
một bớc mới: Toàn cầu hoá. Chúng ta biết rằng với sự phát triển mạnh mẽ của sản
xuất trong chủ nghĩa t bản tất yếu dẫn đến sự tập trung sản xuất và dẫn đến độc
quyền. Trong lịch sử của nền sản xuất thế giới vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX
các tổ chức kinh tế độcc quyền đã bắt đầu ngự trị trên thế giới. vào nửa sau của thế
kỷ XX, dới tác động của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đa đa lại sự phát triển
cha từng có của các Công ty xuyên quốc gia. Nếu vào cuối những năm 60 có
khoảng 7000 Công ty xuyên quốc gia, thì đến những năm 80 có khoảng 20 nghìn
và năm 1998 có khoảng 60 nghìn Công ty mẹ và trên 500 nghìn Công ty con rải
rác khắp các quốc gia trên địa cầu. Với một mạng lới rộng khắp nh vậy, hoạt động
của chúng thực sự tác động đến nền kinh tế toàn cầu. Chúng kéo theo các nền kinh
tế quốc gia vào vòng chu chuyển của mạng lới Công ty. Hiện nay các Công ty
xuyên quốc gia kiểm soát 80% công nghệ mới, 40% nhập khẩu, 60% xuát khẩu,
90% đầu t trực tiếp nớc ngoài và sử dụng 34,5 triệu lao động khoảng 500 Công ty
lớn kiểm soát tới 25 tổng sản phẩm thế giới và giá trị trao đổi của chúng tơng đơng
giá trị thơng mại toàn cầu. Với sức mạnh nh vậy, các Công ty xuyên quốc gia

toàn cầu, làm gia tăng tính đa dạng của nó
* Thứ hai là vai trò của các định chế kinh tế toàn cầu và khu vực
Các định chế kinh tế toàn cầu ra đời nhằm đáp ứng đòi hỏi của xu thế quốc
tế hoá, toàn cầu hoá kinh tế. Sự tồn tại và hoạt động của các định chế toàn cầu và
khu vực lại góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa của xu thế toàn cầu hoá.
7
Trong các tổ chức kinh tế thơng mại tài chính toàn cầu và khu vực có
ảnh hởng lớn tới quá trình toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế phải kể đến
WTO, IUF, WB và các tổ chức khu vực EU, NAFTA, APEC.v.v với các mục
tiêu chức năng của mình, các tổ chức kinh tế quốc tế đã tham gia và thúc đẩy các
hoạt động kinh tế quốc tế, điều phối và quản lý các hoạt động này. Cho dù tính
hiệu quả của các tổ chức này còn khác nhau xuất phát từ quan điểm lợi ích quốc
gia, sống không ai thừa nhận sự cần thiết và vai trò của chúng, thậm chí còn đặt ra
yêu cầu về hoàn thiện cơ cấu tổ chức, đổi mới nguyên tắc hoạt động của chúng
a- Tổ chức thơng mại thế giới (WTO) đây là tổ chức có vai trò hàng đầu
trong thúc đẩu sự phát triển của xu hớng toàn cầu hoá kinh tế. WTO tiền thân là
hiệp định về thuế quan và mậu dịch (GATT) ra đời năm 1947 nh một hợp đồng
quốc tế đặt ra luật lệ cho mậu dịch thế giới, chủ yếu là ký kết các hiệp định giảm
thuế quan và những hạn chế khác đối với các sản phẩm chế tạo của các nớc công
nghiệp hoá. Ngày 1/1/1995 WTO ra đời thay cho GATT. WTO có chức năng điều
hành và thực thi các hiệp định thơng mại đa phơng và hiệp định giữa một số bên
cấu thành WTO, WTO hoạt động với tính chất một diễn đàn cho các cuộc thơng l-
ợng mậu dịch đa phơng, tìm kiếm các giải pháp xử lý tranh chấp thơng mại, giám
sát các chính sách thơng mại quốc gia và hợp tác với các thiết chế quốc tế khác
liên quan tới hoạch định chính sách kinh tế toàn cầu. Với chức năng nh trên thực tế
trong thời gian tồn tại của mình WTO đã đóng góp đáng kể vào thúc đẩu tự do hoá
thơng mại toàn cầu. Tất nhiên lợi ích của quá trình này đối với các quốc gia, luật
chơi của WTO còn nhiều vấn đề phải bàn cãi, song thực tế dờng nh tất cả các quốc
gia (cả phát triển và đang phát triển) đều muốn trở thành thành viên của WTO.
b- Các tổ chức tài chính - tiền tệ lớn nh WB, IUF cũng đóng vai trò lớn

9
lẫn nhau giữa các nền kinh tế, thực chất nó phân công lao động quốc tế ngày càng
sâu sắc trong nội bộ tổ chức.
- Thứ hai, hoạt động của các tổ chức này từ thấp đến cao sẽ đẩy đến hình
thành một thị trờng thống nhất trong khu vực buộc các quốc gia tham gia phải có
lịch trình hội nhập tích cực để hoà đồng vào khu vực
Nói tóm lại, các tổ chức kinh tế toàn cầu và khu vực vừa là kết quả vừa là
động lực của quá trình toàn cầu hoá kinh tế. Thiếu vắng các tổ chức này, quá trình
trên diễn ra sự phát triển và chậm chạp. Thực tế của quá trình quốc tế hoá ở những
thời kỳ đầu cho thấy rõ điều đó. Cùng với các nhân tố nh đã trình bày, các tổ chức
kinh tế khu vực và toàn cầu đã thúc đẩy xu thế quốc tế hoá phát triển lên bớc mới
từ cuối những năm 70 trở lại đây và đợc gọi là toàn cầu hoá.
- Thứ ba, là vai trò của chính phủ và sự chuyển đổi trong chính sách phát
triển từ thay thế nhập khẩu sang hớng vào xuất khẩu ở nhiều quốc gia trên thế giới.
Toàn cầu hoá là một xu thế tất yếu song tốc độc của toàn cầu hoá phụ thuộc
nhiều vào chính sách phát triển của các quốc gia. Các chính sách này có phù hợp
vào xu thế chung của tự do hoá hay không, các chính phủ có ủng hộ vào việc đó
hay không? có tích cực tham gia vào phá bỏ hàng rào hạn chế luôn chuyển của các
yếu tố sản xuất hay không đều tác động lớn tới xu thế toàn cầu hoá.
Nói tóm lại, toà cầu hoá kinh tế không phải là hiện tợng mới. Nó nh tác giả
Niall Fijzenrald toàn cấu hoá không phải là sản phẩm sáng tạo của việc kinh
doanh, không phải là một âm mu của chủ nghĩa t bản nhằm tạo ra một thế giới tập
đoàn, cũng không phải là điều tởng tợng của thế giới học thuật. Toàn cầu hoá là
mở rọng tự do hoá quốc tế về t bảnvà thơng mại do sự thôi thúc của những thay đổi
về dân số, chính trị, kinh tế và công nghệ và đẩy nhanh bởi các phơng tiện liên lạc
cao tốc. Nó vừa là nguyên nhân, vừa là kết của của một quan niệm mang tính chất
10
quốc tế sau hàng thập kỷ tồn tại, chế độ bảo hộ nền công nghiệp trong nớc đã bị
thất bại, cho rằng thị trờng mở cửa tạo ra của cải
IV- Các tác động của toàn cầu hoá kinh tế:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status