Tổng tập
các nhà văn thế giới trong chương trình Ngữ văn THCS
Mục lục
Tác giả Quốc gia Trang
1
Tago
(Tagore - Đại thi hào Ấn độ - Danh nhân văn hoá thế giới, giải thưởng Nobel văn
học năm )
MÔPAXĂNG G. Đ.:
(Guy de Maupassant; cg. Môpatxăng; 1850 - 93), nhà văn Pháp. Học trường dòng Yvơtô (Yvetot), rồi
học luật. Yêu văn chương từ
nhỏ. Nhập ngũ từ 1870, dự
cuộc tháo chạy khủng khiếp
của quân đội Pháp trước quân
Phổ; nhiều đề tài truyện ngắn
của Môpaxăng lấy ở cuộc
chiến tranh ấy. Làm việc ở Bộ
Hải quân, rồi Bộ Giáo dục; tiếp
xúc với nhiều kẻ "cạo giấy" tầm
thường, và sau này sẽ là
những nhân vật trong truyện
của Môpaxăng. Năm 1876, gia
nhập nhóm Mêđăng (Médan),
xung quanh nhà văn Zôla Ê. (É.
Zola). Chịu nhiều ảnh hưởng
của Flôbe G. (G. Flaubert) và
Zôla. Năm 1880, nổi tiếng với
truyện "Viên mỡ bò" trong tập
truyện "Những trôi nổi ở
Mêđăng" của nhiều nhà văn
trẻ. Từ đó, chuyên viết văn.
quen thuộc với bạn đọc đủ mọi lứa tuổi
khắp năm châu, như "Nàng công chúa
và hạt đậu", "Nàng tiên cá", "Bộ quần áo
mới của hoàng đế", "Bầy thiên nga", "Cô
bé bán diêm", vv. Truyện của Anđecxen
nhẹ nhàng, tươi mát, toát lên lòng yêu
thương con người, nhất là những người
nghèo khổ và niềm tin vào sự thắng lợi
cuối cùng của cái thiện, cái mĩ trên thế
gian. Anđecxen còn viết tiểu thuyết: "Hai
bà nam tước" (1848), "Pie may mắn"
(1870) ; một số tác phẩm du kí ("Tây
Ban Nha", 1853; "Thăm Bồ Đào Nha",
1866) và tự truyện "Chuyện đời tôi"
(1855).
ĐỖ PHỦ:
(Du Fu; tự: Tử Mỹ; hiệu: Thiếu Lăng; 712 - 770), nhà thơ Trung
Quốc. Quê: huyện Củng (Gongxian), tỉnh Hà Nam (Henan)
(Trung Quốc). Xuất thân gia đình phong kiến, có truyền thống
sáng tác thơ ca, giữ một chức quan nhỏ, quản lí kho quân giới
ở Kinh Triệu (Jingzhao), sống nghèo khổ. Gặp thời loạn An Lộc
Sơn (An Lushan), mang vợ con theo đám nạn dân, trải qua mọi
cực khổ của người dân chạy loạn nên có điều kiện gần gũi và
thấu hiểu cuộc sống cực nhục của nhân dân, cuối cùng lưu lạc
đến vùng tây nam [Tứ Xuyên (Sichuan)] rồi chết ở Lỗi Dương
(Leiyang) trên một chiếc thuyền con ở bến sông Tương
(Xiangjiang). Thơ Đỗ Phủ phản ánh chân thực các cảnh tượng
xã hội đời Đường (Tang) trong quá trình chuyển biến từ cực
thịnh đến suy vong, những sự phân hoá, thối nát ngay trong hàng ngũ quý tộc. Thơ Đỗ Phủ được mệnh
danh là "thi sử", phản ánh được những bước chuyển biến trong tư tưởng từ chỗ hi vọng vào giới nho sĩ
lùng, đi sâu vào tâm lí. "Bà
Bôvary" là tác phẩm xuất sắc
nhất, tái hiện một tâm hồn
nhiều ảo vọng, song gặp
những hoàn cảnh sống tầm
thường, lừa đảo, xấu xa,
đồng thời miêu tả một xã hội
trì trệ, ao tù, quê kệch, trong đó con người ngụp lặn một cách mệt mỏi và tuyệt vọng. Tính cách "Bôvary"
(bovarysme) trở thành một thành ngữ trong ngôn ngữ Pháp nói về sự không ăn khớp giữa ảo vọng lãng
mạn và cái tầm thường, thô kệch của cuộc sống.
ĐICHKEN Ch.:
(Charles Dickens; 1812 - 70),
nhà văn Anh. Xuất thân trong một
gia đình công chức trung lưu,
cuộc sống thiếu thốn. Năm 12
tuổi, làm thợ phụ trong xưởng chế
tạo xi đánh giày; 16 tuổi, tự học
tốc kí rồi lần lượt làm thư kí cho
một trạng sư, làm nghề ghi chép ở
nghị viện, toà án, làm phóng viên
báo chí. Năm 21 tuổi, bắt đầu
sáng tác văn chương. Đầu tiên là
một số bút kí, phóng sự lấy bút
danh Bôzơ (Boz). Năm 1837, tiểu
thuyết "Di thư của Hội Picuych"
bắt đầu đăng trên các báo. Tiếp
đó là "Ôlivơ Tuyt" (1838), tiểu
thuyết xã hội lớn đầu tiên của
Đichken; "Nicôlai Nickơnbai"
(1839), tiểu thuyết viết về chế độ
nguyên tắc triết học của vật
chất và vận động" (1770),
Điđơrô đã chống lại chủ nghĩa
duy tâm chủ quan. Trong trước
tác "Người cháu họ của Ramô"
viết khoảng năm 1762, Điđơrô
nêu ra những luận điểm của
phép biện chứng. Trong văn
học, Điđơrô đấu tranh cho chủ nghĩa hiện thực [tiểu thuyết "Giăc - kẻ theo thuyết định mệnh và ông chủ
của anh ta" (1773) và truyện ngắn "Nữ tu sĩ" (1760)] mà Điđơrô đã tiến hành đồng thời trong các tác
phẩm phê bình nghệ thuật tạo hình ("Các phòng triển lãm"; 1759 - 81) và sân khấu ("Nghịch lí về diễn
viên"; 1773 - 78).
GACXIA MACKET G.:
(Gabriel García Márquez; sinh 1928), nhà báo, nhà văn Côlômbia. Học luật rồi ra làm báo, biên tập
viên tờ "Khán giả" (El Espectador).
Với tư cách phóng viên tờ báo này,
Gacxia Macket đi thăm nhiều nước
Châu Âu. Sống lưu vong ở Pari
(1955 - 57); đến Vênêxuêla (1959).
Cuộc cách mạng Cuba thành công,
Gacxia Macket cộng tác với Hãng
Thông tấn Prenxa Latina (Prensa
Latina) của Cuba. Sang Mêhicô
(1961) hoạt động trong phong trào
chống chủ nghĩa đế quốc Mĩ ở nước
này. Gacxia Macket được xem là bậc
thầy về nghệ thuật kể chuyện ở Châu
Mĩ Latinh. Mỗi tác phẩm của Gacxia
Macket là một sự kiện văn học quan
tay "Maka Chuđra", với bút danh M.
Goocki. Sau đó là một loạt truyện
ngắn "Bà lão Izecghin", "Bài ca chim
ưng", "Vợ chồng Ooclôp" rồi hai
cuốn tiểu thuyết "Fôma Goocđêep"
(1899), "Bộ ba" (1900) khẳng định
tài năng nghệ thuật của Goocki. "Bài
ca chim báo bão" và thiên trường ca
"Con người" chan chứa chủ nghĩa
nhân đạo. Goocki được bầu làm viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm khoa học Nga (1902), nhưng Nga hoàng
đã huỷ quyết định này. Các vở kịch "Bọn trưởng giả", "Dưới đáy", "Những người nghỉ mát", "Những đứa
con của Mặt Trời", "Bọn dã man", "Những kẻ thù" đưa lên sân khấu những vấn đề xã hội - chính trị
nóng bỏng, có sức cổ vũ cách mạng to lớn. Bị chính quyền Nga hoàng trục xuất khỏi quê hương (1905),
Goocki vào Đảng Bônsêvich. Lênin V. I. (V. I. Lenin) và Ban Chấp hành Trung ương Đảng phân công
Goocki ra nước ngoài, tuyên truyền và kêu gọi nhân dân thế giới ủng hộ cách mạng Nga. Goocki sang
Phần Lan, Đức, Pháp, Hoa Kì (1906). Hai tập bút kí "Những cuộc phỏng vấn của tôi" và "Ở Mĩ" là kết
quả của chuyến đi ấy. Cũng trong thời gian này, Goocki hoàn thành vở kịch "Những kẻ thù" và viết cuốn
tiểu thuyết "Người mẹ", mở đầu chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Rời Hoa Kì, Goocki đi Italia, ở
đây đến 1913, viết một loạt tác phẩm: "Một mùa hè", "Thời thơ ấu", "Trên những nẻo đường đất nước
Nga", "Những chuyện nước Ý", nhiều vở kịch và nhiều bài chính luận. Năm 1913, về nước, bắt đầu viết
"Kiếm sống".
Sau cách mạng, Goocki tham gia nhiều công tác văn hoá, xã hội. Bị lao phổi, Goocki ra nước ngoài
chữa bệnh (1921); sáng tác tập cuối thiên tự thuật "Những trường đại học của tôi", hồi kí "V. I. Lênin",
tiểu thuyết lớn "Sự nghiệp gia đình Actamônôp" và bắt đầu xây dựng bộ tiểu thuyết sử thi "Cuộc đời Klim
Xamghin". Năm 1928, về nước. Giai đoạn này, ông viết "Trên những nẻo đường Liên bang Xô Viết",
"Truyện kể về những người anh hùng" và một loạt bài lí luận, tiếp tục viết bộ tiểu thuyết sử thi, ba vở
kịch trong đó có "Êgo Bulưchôp và những người khác". Được tặng thưởng Huân chương Lênin.
GÔGÔN N. V.:
(Nikolaj Vasil'evich Gogol'; 1809 - 52),
nhà văn Nga, người kế tục Puskin A. X.
(1950). Tiểu thuyết "Khuliô Khurenitô" (1922),
"Pari sụp đổ" (1941) phê phán xã hội tư sản
Châu Âu và chiến tranh đế quốc. "Ngày hôm
sau" (1933) viết về cuộc sống trên đất nước Xô
Viết, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, ca
ngợi con người mới. "Bão táp" (1946 - 47) viết
về Chiến tranh thế giới II (1939 - 45). Êrenbua còn có nhiều tập thơ, tiểu luận, phê bình, chân dung văn
học. Tập hồi kí nghệ thuật "Con người, năm tháng, cuộc đời" (1961 - 65) gồm 6 tập, ghi lại những quan
sát và cảm xúc qua nhiều năm hoạt động văn học, xã hội. Giải thưởng Nhà nước Liên Xô (1942, 1948).
Giải thưởng Hoà bình quốc tế Lênin (1952).
ÊXÊNIN X. A.:
(Sergej Aleksandrovich Esenin; 1895 -
1925), nhà thơ Nga. Tốt nghiệp trung học,
đến Matxcơva kiếm sống, tự học văn học
và âm nhạc. Năm 1917, sau khi rời quân
ngũ, đi khắp nước Nga. Nhiệt tình chào
đón Cách mạng tháng Mười. Những năm
1922 - 23, cùng với nữ nghệ sĩ Đuncan I. (I.
Duncan) du lịch sang Đức, Pháp, Bỉ Về
nước năm 1924. Có thơ in từ 1914, những
bài thơ dạt dào tình yêu đối với thiên nhiên
và đời sống nông thôn. Lúc đầu Êxênin ngộ
nhận về cách mạng, khi ở cực này, lúc ở
cực khác, có lúc bị khủng khoảng tư tưởng
trầm trọng, sống phóng túng, buông thả.
Giai đoạn sau, ông mới dứt khoát từ bỏ thế
giới cũ và bày tỏ tâm tình của mình trong
các bài "Trở về tổ quốc", "Nước Nga cũ đã
đi qua", "Nước Nga Xô Viết", "Thư gửi một
người phụ nữ", "Thư mẹ" và "Trả lời".
đau mắt nặng và mù, đi lang thang, làm thơ, kể chuyện thơ để kiếm ăn, cuối cùng ốm chết khi đi ngang
qua hòn đảo nhỏ Iôt (Ios) và được chôn cất trên bãi biển. Vẫn theo tài liệu ấy, "Hôme" là biệt danh, theo
ngôn ngữ ở Xume, "Hôme" có nghĩa là "mù", nhưng lại có tài liệu cho rằng "Hôme" có nghĩa là "con tin",
hình như cha Hôme bị những người dân đảo Sip bán cho người Ba Tư. Theo nhiều học giả về Hi Lạp
hiện nay, Hôme là một nghệ sĩ dân gian có công sưu tầm, chỉnh lí những bài ca truyền thuyết chiến tranh
thành Tơroa (Troie), và "Iliat", "Ôđixê" trước hết là những tác phẩm truyền miệng, mãi rất lâu về sau mới
được ghi lại bằng văn tự.
LA FÔNGTEN J. Đ.:
(Jean de La Fontaine; 1621 -
95), nhà ngụ ngôn Pháp. Được
bầu vào Viện Hàn lâm Pháp
(1684). Học ở Pari, sau đó về
quê ở Satô - Tiery (Château -
Thierry), sống 20 năm giữa
cảnh thiên nhiên rừng núi. La
Fôngten viết nhiều thể loại: thơ,
tiểu thuyết, kịch, truyện, ngụ
ngôn. Tập "Truyện" (1665) được
nhiệt liệt hoan nghênh. Song
chủ yếu La Fôngten là nhà ngụ
ngôn với tập "Ngụ ngôn" (1668 -
94) nổi tiếng. Ngụ ngôn của La
Fôngten có nguồn gốc ở ngụ
ngôn của Êdôp (Ésope), Pheđrơ
(Phèdre), ở ngạn ngữ của
người Hinđu (Hindu), ở truyện
phương Đông. Từ những chất liệu ấy, La Fôngten sáng tạo những bài ngụ ngôn ngắn gọn là công trình
nghệ thuật nhỏ, sống động. Tập thơ "Ngụ ngôn" của La Fôngten là "một vở kịch có trăm hồi khác nhau",
với những ý nghĩa sâu sắc, những lời răn ý nhị, những đối thoại tuyệt diệu, tâm lí nhân vật tinh tế. Đó là
nước Sở được Khuất Nguyên cải
biên. Tính dân tộc của thơ Khuất
Nguyên rất sâu đậm: "viết bằng
tiếng nước Sở, làm bằng thanh âm
nước Sở, ghi chép sự việc trên đất
Sở, dùng tên sự vật của nước Sở".
Điểm quán xuyến toàn bộ "Cửu
chương" và "Li tao" là lòng yêu
nước thiết tha, mãnh liệt. "Li tao"
gồm 373 câu, viết theo thể "tao",
một thể thơ do chính nhà thơ sáng
tạo trên cơ sở dân ca nước Sở.
Khuất Nguyên là danh nhân văn hoá đầu tiên của Trung Quốc được thế giới kỉ niệm (9.1953). Thơ ông
đã ảnh hưởng sâu sắc đến toàn bộ thơ Trung Quốc qua các thời đại sau này.
LECMÔNTÔP M. I.:
(Mikhail Jurievich
Lermontov; 1814 - 41), nhà
thơ, nhà văn, nhà viết kịch
Nga, được mệnh danh là "Mặt
Trời thi ca" của nước Nga sau
khi Puskin A. X. (A. S. Puskin)
mất. Sinh trưởng trong một
gia đình quý tộc, học đại học
ở Matxcơva, sĩ quan ở
Pêtecbua (Peterburg),
Lecmôntôp sáng tác khi
Cuộc khởi nghĩa tháng Chạp
thất bại, nhưng cảm hứng
công dân, tinh thần yêu nước,
bất bình và phản kháng, khao
nền văn chương mới. Danh tiếng
Huygô lừng lẫy. Được bầu vào Viện
Hàn lâm Pháp (1842), Viện Nguyên
lão (1845). Năm 1851, Huygô bước
vào thời kì sáng tác thứ hai. Lu-i
Bônapactơ (Louis Bonaparte) làm đảo
chính đánh đổ nền cộng hoà, thành
lập Đế chế II; Huygô bỏ ra nước
ngoài, sống ở Jecxây (Jersey) và
Guecnơxay cho đến 1870, khi đế chế sụp đổ. Sáng tác chính: "Crômoen" và "Tựa" (kịch, 1827), "Ngày
cuối cùng của một người bị kết án" (truyện vừa, 1829), tập thơ "Những bài thơ Phương Đông" (1829) là
cảm tác trước sự nổi dậy vì nền độc lập của người Hi Lạp chống Thổ Nhĩ Kì, "Hecnani" (kịch, 1830),
"Nhà thờ Đức Bà Pari" (tiểu thuyết, 1831), "Nhà vua vui chơi" (kịch, 1832), "Trừng phạt" (thơ, 1852), tập
thơ "Chiêm ngưỡng" (1856), "Những người khốn khổ" (tiểu thuyết, 1862), "Chín mươi ba" (tiểu thuyết,
1874), "Mariông đơ Loocmơ" (1831), "Truyền kì các thế kỉ" (thơ, 1859 - 83). Huygô là một thiên tài. Ông
đã sáng tạo một nền thi ca, tiểu thuyết, kịch hoàn toàn mới, tiêu biểu cho chủ nghĩa lãng mạn Pháp và
có ảnh hưởng lớn trên văn đàn thế giới. Tựa "Crômoen" đưa ra khái niệm về cái " thô kệch" (grotesque )
làm đảo lộn mọi quan niệm văn chương lúc ấy. Ông đề xướng mĩ học của cái "tương phản", của sự "vận
động từ bóng tối đến ánh sáng", phá huỷ mọi thành trì phân cách máy móc các thể loại và xây dựng
những quan niệm mới, mong đạt tới cái vô biên. Huygô là một nhà văn suốt đời đấu tranh cho tự do, dân
chủ, cho quyền sống của người lao động, phụ nữ và trẻ em.
LỖ TẤN:
[Lu Xun; tên thật: Chu Thụ
Nhân (Zhou Shuren); 1881 -
1936], nhà văn Trung Quốc.
Thời trẻ từng học hàng hải,
rồi học khai mỏ. Sang Nhật
Bản học y, sau chuyển sang
viết văn. Viết nhiều thể loại:
truyện ngắn, bút kí, chính
tuổi, đi lãng du khắp nơi. Làm
việc ở Hàn lâm viện một năm
nhưng không được coi trọng, bị
dèm pha, hơn một năm sau rời
Tràng An. Năm Thiên Bảo thứ ba
(774), kết giao với Đỗ Phủ. Khi
xảy ra loạn An Lộc Sơn, ông đã
từng phục vụ cho Vĩnh vương Lý
Lân, vì Lân thất bại nên ông cũng
bị liên luỵ và bị đầy đi Dạ Lang.
Cuối đời lang thang cùng khổ,
chết ở Đương Đồ. Thơ ông thể
hiện tinh thần ngạo mạn, miệt thị
bọn quyền quý phong kiến và phê
phán sâu sắc sự thối nát của nền
chính trị đương thời, thông cảm
với nỗi cực khổ của nhân dân; lên
án các thế lực phiến loạn An Lộc
Sơn, ca ngợi cuộc chiến tranh
giữ gìn sự thống nhất đất nước.
Ông giỏi về miêu tả cảnh sắc
thiên nhiên tráng lệ, diễn đạt tình yêu đất nước non sông. Thơ ông hùng tráng, sảng khoái, tưởng tượng
phong phú, ngôn ngữ tự nhiên, âm điệu hài hoà biến hoá. Là đỉnh cao mới về thơ ca lãng mạn tích cực
sau Khuất Nguyên. Các bài thơ "Thục đạo nan", "Hành lộ nan", "Mộng du Thiên Mụ ngâm lưu biệt",
"Tĩnh dạ từ", "Tảo phát Bạch Đế thành" được mọi người truyền tụng. Nhưng trong một số tác phẩm
cũng có những nét tiêu cực như thoả sức rượu chè và có ý muốn đi cầu tiên, học đạo. Tác phẩm có "Lý
Thái Bạch tập".
MAIAKÔPXKI V. V.:
(Vladimir Vladimirovich Majakovskij;
1893 - 1930), nhà thơ Nga. Say mê
hè" Tiểu luận "Tôi làm thơ như thế nào?". Còn có hai vở kịch đả kích, châm biếm xuất sắc: "Con rệp"
(1928), "Nhà tắm" (1929) mới cả về nội dung lẫn hình thức, đánh dấu sự phát triển của kịch Xô Viết.
Maiakôpxki là nhà thơ vĩ đại của văn học Xô Viết, ảnh hưởng đến nhiều nhà thơ lớn trong nước và trên
thế giới. Thất vọng vì đời sống chung cũng như đời tư, Maiakôpxki tự sát tại Matxcơva năm 1930.
MÔNGTEXKIƠ S. L.:
(Charles Louis
Montesquieu; 1689 - 1755),
nhà văn, nhà triết học, xã hội
học và sử học Pháp, người
đại diện cho khuynh hướng
chính trị của giai cấp tư sản
Pháp thế kỉ 18 và có ảnh
hưởng lớn đến Cách mạng
tư sản Pháp 1789. Ông phê
phán nhà thờ và thần học,
nhưng lại cho rằng tôn giáo
có một vai trò nhất định trong
việc duy trì đạo đức xã hội.
Trong khi phê phán chế độ
quân chủ chuyên chế ở Pháp,
Môngtexkiơ lại đồng thời bảo
vệ tư tưởng thoả hiệp về việc
duy trì một chế độ quân chủ
lập hiến ôn hoà và nêu lên
nguyên tắc phân chia quyền
lực (thuyết phân quyền:
quyền lập hiến, quyền tư
pháp và quyền hành chính); cố gắng tìm cách vạch ra nguyên nhân xuất hiện các chế độ nhà nước,
phân tích các hình thức nhà nước khác nhau, khẳng định luật pháp phụ thuộc vào hình thức cầm quyền
ở mỗi nước. Theo ông, luật pháp không phải do thượng đế quyết định hay chỉ xuất phát từ một nguyên
hoá rộng và kinh nghiệm của người sáng tác với những khái quát lí luận. Nhiều bài tiểu luận có giá trị lí
luận và vận dụng thực tiễn. Về thơ, cũng có những đóng góp quan trọng. Các tập “Người chiến sĩ”
(1958), “Bài thơ Hắc Hải” (1958), “Dòng sông trong xanh” (1974) và tuyển thơ “Tia nắng” đã xác định vị
trí cao của Nguyễn Đình Thi trong nền thơ Việt Nam hiện đại. Thơ ông gần với lời nói và mạch cảm nghĩ
tự nhiên. Giải thưởng Hồ Chí Minh (1996) về cụm tác phẩm “Xung kích”, “Vào lửa”, “Mặt trận trên cao”,
“Vỡ bờ”, “Hoa và Ngần”.
NGUYỄN MINH CHÂU :
(1930 - 89), nhà văn Việt Nam. Quê: xã Quỳnh Hải,
huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Năm 1950, nhập ngũ,
tham gia hoạt động ở vùng địch hậu Sông Hồng. Từ 1954,
viết văn và công tác tại tạp chí “Văn nghệ quân đội”. Trong
Kháng chiến chống Mĩ, Nguyễn Minh Châu vào chiến
trường Trị - Thiên - Huế nhiều đợt, cùng sống chiến đấu
và tích luỹ vốn sống chuẩn bị cơ sở cho những tác phẩm
xuất sắc về chiến tranh. Các tập truyện ngắn: “Cửa sông”
(1967), “Những vùng trời khác nhau” (1970), “Người đàn
bà trên chuyến tàu tốc hành” (1984), “Bến quê” (1985),
“Chiếc thuyền ngoài xa” (1988), “Cỏ lau” (xuất bản sau khi
Nguyễn Minh Châu qua đời, 1989). Tiểu thuyết: “Dấu chân
người lính” (1972), “Miền cháy” (1977), “Những người đi
từ trong rừng ra” (1982). Ngoài sáng tác, Nguyễn Minh
Châu còn viết lí luận phê bình, phần lớn các bài viết được
tập hợp trong cuốn “Trang giấy trước đèn” (1994).