Tiểu sử các nhà văn,nhà thơ Việt Nam - Pdf 64

Chế Lan Viên
Chế Lan Viên tên thật Phan Ngọc Hoan, sinh ngày 20 tháng 10 năm
1920, quê ở Cam Lộ, tỉnh Quảng Trị.
Ông lớn lên và đi học ở Quy Nhơn, đỗ bằng Thành Chung thì thôi
học, đi dạy tự
Chế Lan Viên bắt đầu làm thơ từ năm 12, 13 tuổi; đến năm 17 thì
xuất bản tập thơ đầu tay Điêu Tàn mà lời tựa đồng thời là lời tuyên
ngôn nghệ thuật của "Trường Thơ Loạn".
Sau 1954, Chế Lan Viên nằm trong Ban lãnh đạo Hội Nhà Văn Việt
Nam, là đại biểu Quốc hội, viết nhiều thơ, bút ký, tùy bút, tiểu luận
văn học. Sau 1975, ông vào Sài Gòn, ở quận Tân Bình, mất tại đấy
ngày 19 tháng 6 năm 1989.
Tác phẩm tiêu biểu: tập văn xuôi Vàng Sao (1942), các tập thơ Điêu
Tàn (1937), Gửi Các Anh (1954), Ánh Sáng và Phù Sa (1960), Hoa Ngày Thường -- Chim Báo Bão
(1967), Hoa Trên Đá (1984)...
Người ta thường biết Chế Lan Viên qua tập thơ Điêu Tàn, một trong những tác phẩm nổi bật trong
thi đàn tiền chiến. Đọc Điêu Tàn là bước vào một thế giới ma quỉ, kinh dị, âm u và huyền bí. Tập thơ
mượn những lời rên rỉ, khóc than nghẹn ngào, chất chứa bao u uất lẫn căm hờn của một dân tộc bị
diệt vong để bộc lộ lòng yêu nước một cách kín đáo
Hải Thượng Lãn Ông
Hải Thượng Lãn Ông là tên hiệu của Lê Hữu Trác, một nho gia và danh y
Việt Nam vào cuối đời Hậu Lệ Ông sinh năm 1721, người xã Liêu xá,
huyện Đường Hào, trấn Hải Đương (nay thuộc phủ Yên Mỹ, tỉnh Hưng
Yên). Ông thuộc đòng đõi một gia đình có nhiều đời đại đăng khoạ Cha
và chú đều đỗ tiến sĩ và làm quan đến đại thần. Lúc còn trẻ, ông đã nổi
tiếng hay chữ. Đến năm 20 tuổi, gặp buổi nhiễu nhương, chúa Trịnh
Giang độc đoán, giặc giã nổi lên khắp nơi, ông quyết định xếp bút nghiên
theo việc đao cung. Đang ở trong quân ngũ, ông phải về quê ngoại là
huyện Hương Sơn (thuộc tỉnh Hà Tĩnh bây giờ) để thay người anh thứ
năm phụng đưỡng mẹ già. Tại Hương Sơn, ông mắc phải một chứng bệnh
đai đẳng, may nhờ một y sĩ họ Trần cứu chữạ Từ đó, ông quyết định rời

Nghệ An, và một người thiếp quê ở Hải
Dương.
Năm sinh, năm mất, thân thế, cuộc đời, và
thơ văn của bà đến nay vẫn còn vướng mắc
nhiều nghi vấn. Ta chỉ biết bà sống vào thời
Lê mạt Nguyễn sơ, người cùng thời với
Nguyễn Du (1765-1820), Phạm Đình Hổ
(tức Chiêu Hổ, 1768-1839).
Hồ Xuân Hương học rộng, đọc sách nhiều,
uyên thâm cả Nho, Phật, Lãọ Nàng có tài
ứng đối, dùng điển tích rất tài tình, Hiệp
Trấn Sơn Nam Thượng Trần Ngọc Quán
phục nàng: Tài cao nhã phượng thế gian
kinh, Nguyễn Du so sánh nàng với Tiểu
Thanh; Trương Đăng Quế, Hoàng Diệu
Khuê, Trương Bỉnh Thuyên sánh nàng với
Ban Chiêu, Tạ Huệ Liên, Tô Tiểu Muội, Sái
Cơ của Trung Quốc, và đem Mai Am nữ sĩ,
tức Công Chúa Lại Đức so sánh với Hồ Xuân
Hương, (dĩ nhiên không thể sánh công chúa
triều đình với một nhà thơ dâm tục được.)
Hồ Xuân Hương lận đận trên đường tình ái,
trên bốn mươi mới gặp được Tri phủ Tam
Đái tức Vĩnh Tường, sau được thăng lên làm
Hiệp Trấn Yên Quảng là Trần Phúc Hiển,
được ba năm Phúc Hiển bị vu tội tham
nhũng, nhưng thật ra Phúc Hiển chết là vì vây cánh của Nguyễn Văn Thành, Đặng Trần Thường bị
phe Lê Chất, Lê Văn Duyệt diệt, Thi tướng tao đàn Cổ Nguyệt đường là Hiệp Trấn Sơn Nam Thượng
Trần Ngọc Quán cũng tự tử chết.
Tác phẩm nổi bật nhất của bà là số thơ Nôm trong Xuân Hương Thi Tập (dù có đôi bài đáng nghi

(1964). Những tập thơ sau này nghiêng hẳn về Xã Hộị.
Lưu Trọng Lư
Lưu Trọng Lư là tên thật, sinh ngày 19 tháng 6 năm 1912 tại Cao La
Hạ, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình trong một gia đình quan lại xuất
thân nho học.
Học trường Quốc Học Huế đến năm thứ ba thì bỏ ra Hà Nội học tư, rồi
bỏ đi làm thơ, làm báo, viết văn.
Chủ trương Ngân Sơn Tùng Thư tại Huế năm 1933-1934. Sau 1954,
ông làm vụ trưởng Vụ Sân Khấu Bộ Văn Hóa, và là Tổng thư ký Hội
Nghệ Sĩ Sân Khấu Việt Nam.
Tác phẩm tiêu biểu: các tập thơ Tiếng Thu (1939), Người Con Gái
Sông Gianh (1966), Từ Đất Này (1971), Hồng Gấm. Tuổi Hai Mươi
(kịch thơ, 1973).
Mặc dù Lưu là một trong những người cổ động cho Thơ Mới ồn ào
nhất, đọc thơ ông, người ta vẫn có cảm tưởng nó chẳng mới bao nhiêụ Thơ Lưu Trọng Lư vẫn là một
khúc đàn xưa, giàu tình cảm lẫn nhạc điệu với những rung động chân tình, dễ gây ấn tượng trong
người đọc.
Nhận xét của Hoài Thanh - Hoài Chân: "... thơ Lư nhiều bài thực không phải là thơ, nghĩa là những
công trình nghệ thuật, mà chính là tiếng lòng thổn thức cùng hòa theo tiếng thổn thức của lòng ta".
Lưu Quang Vũ
Lưu Quang Vũ sinh ngày 17 tháng 4 năm 1948 tại
xã Thiệu Cơ, huyện Hạ Hòa (Vĩnh Phú). Quê ở
Quảng Nam - Đà Nẵng.
Thuở nhỏ ông sống cùng gia đình ở Việt Bắc.
Sau khi xuất ngũ năm năm 1970 xuất ngũ, Lưu
Quang Vũ làm nhiều nghề khác nhaụ Nhưng từ
tháng 8 năm 1979 cho đến khi mất, ông là một
phóng viên của "Tạp chí sân khấu".
Lưu Quang Vũ từng làm thơ, làm báo, lại viết văn
khá có duyên, cộng với một tâm hồn nhạy cảm, Lưu

3. T.15 về đâu (1980)
4. Mùa hạ cuối cùng (1981)
5. Cô gái đội mũ nồi xám (1981)
6. Người con gái trở về
(Trời xanh trên mái phố) (1981)
7. Những ngày đang sống (1981)
8. Thủ phạm là aỉ (1982)
9. Cây ngọc lan của Huyền (1982)
10. Nữ ký giả (1983)
11. Dạ khúc tình yêu (1983)
12. Nàng Sita (1982)
13. Ngôi sao màu lá xanh
(Giòng máu trắng) (1983)
14. Hẹn ngày trở lại (1984)
15. Nguồn sáng trong đời (1984)
16. Bên sông Thu Bồn (1984)
17. Tôi và chúng ta (1984)
18. Người trong cõi nhớ (1982)
19. Vách đá nóng bỏng (1983)
20. Đường bay (1984)
21. Hoa xuyến chi (1982)
22. Hồ Trương Bađa hàng thịt (1981)
23. Người tốt nhà số 5 (1981)
24. Ngọc Hân công chúa (1984)
25. Lời nói dối cuối cùng (Cuội và Bờm) (1985)
26. Đất sống của người (1985)
27. Vi khuẩn Han-Xen (Hạnh phúc của người bất hạnh) (1985)
28. Đôi dòng sữa mẹ (Hai giọt máu) (1985).
29. Ông vua hóa hổ (1985)
30. Khoảnh khắc và vô tận (1986)

Gốc gác còn nhiều nghi vấn; ta chỉ biết mẹ ông họ Phạm và từ năm ba tuổi ông đã làm con nuôi của
sư Lý Khánh Văn.
Dưới thời Tiền Lê, ông làm đến Tả thân vệ điện tiền chỉ huy sứ. Năm 1009, Lê Ngọa Triều mất, ông
được quần thần tôn lên làm vua, đổi niên hiệu là Thuận Thiên và dời đô từ Hoa Lư ra Đại La, nhân đó
để lại áng văn Thiên Đô Chiếụ<
Ông là người thông minh, nhân ái, có chí lớn, và rất hâm mộ Phật giáọ
Lý Thường Kiệt
Lý Thường Kiệt tên thật là Ngô Tuấn. Thường Kiệt là tự; sau này ông được ban quốc tính nên mới đổi
tên thành Lý Thường Kiệt.
Theo tài liệu mới phát hiện (bài văn khắc trên chuông chuà Bắc Biên và cuốn Tây Hồ Chí) thì ông là
người làng An Xá, huyện Quảng đức, thuộc khu vực phía nam hồ Tây trong thành Thăng Long.
Ông sinh năm 1019 và mất tháng Sáu năm Ất Dậu (tức từ 13 tháng Bảy đến 11 tháng Tám năm
1105).
Lý Thường Kiệt tinh thông thao lược, lại có tài thơ văn. Năm 23 tuổi, ông đã được bổ làm Hoàng môn
chi hậu rồi thăng đến chức Thái úỵ Ông có công rất lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất
nước: phá Tống, bình Chiêm, dẹp tan phản loạn...
Tác phẩm còn lại gồm có bài Lộ Bố Văn phát ra cho nhân dân Trung Quốc ở các châu Ung Khâm
Liêm nhân dịp chủ động đem quân sang đánh Tống năm 1075, lời tâu xin vua Lý Nhân Tông cho đi
dẹp loạn Lý Giác năm 1103, và tiêu biểu nhất là bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.
Nam Cao
Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri (1915-1951) thuộc thế hệ văn học
tiền chiến nhưng mất rất sớm trong những ngày đầu của cuộc kháng
chiến chống Pháp. Tác phẩm của ông quan trọng là của thời trước
chiến tranh với những khổ đau của dân quê và những hủ tục của một
thời mà con người nghèo nàn chỉ biết bám víu vào những hư vị hão
trong thôn đảng.
Giá trị con người được đề cao trong truyện của Nam Cao, nhất là
trong truyện ngắn nổi danh Chí Phèo mà trước đây ít người được biết.
Truyện ngắn Nam Cao có nghệ thuật trong kết cấu và ngôn từ .
Nhiều truyện của ông mang tính cách tâm lý đến bây giờ vẫn còn là

Bạn bè chỉ có gió trăng theo
Những thằng bất nghiã xin đừng tới
Hãy để thềm ta xanh sắc rêu#."
(Từ Độ Về Đây - 1943)
Năm 1947, Nguyễn Bính tham gia kháng chiến chống Pháp ở Miền Nam. Đến
Năm 1954, khi Hiệp định Genève chia đôi đất nước, Nguyễn Bính tập kết về Bắc năm 1955 và được
bố trí phục vụ trong Hội Nhà văn ở Hà Nội một thời gian.
Năm 1956, Ông được giao nhiệm vụ phụ trách tờ TRĂM HOA (nguyên văn trong tài liệu của Hội Nhà
văn);
Đến năm 1958, Nguyễn Bính chuyển về tỉnh nhà Nam Định và phục vụ trong Ty Văn Hoá Nam Định
cho đến ngày ông từ giã cõi đờị
Nguyễn Bính chết ngày 20-1-1966, những ngày cuối năm Ất Tị;
Suốt 30 năm sinh hoạt văn nghệ, nhà thơ đã sáng tác nhiều thể loại như làm thơ, viết kịch, truyện
thợ.. Ông sáng tác rất mạnh, viết rất đều và sống hết mình cho sự nghiệp thi cạ Ông đã xuất bản
được 20 tác phẩm đủ loại:
- Lỡ Bước Sang Ngang (Thơ 1940)
- Tâm Hồn Tôi (Thơ 1940)
- Hương Cố Nhân (Thơ 1941)
- Một Nghìn Cửa Sổ (Thơ 1941)
- Người Con Gái Ở Lầu Hoa (Thơ 1942)
- Mười Hai Bến Nước (Thơ 1942)
- Mây Tần (Thơ 1942)
- Bóng Giai Nhân (Kịch Thơ 1942)
- Truyện Tỳ Bà (Truyện Thơ 1942)
- Ông Lão Mài Gươm (Thơ 1947)
- Đồng Tháp Mười (Thơ 1955)
- Trả Ta Về (Thơ 1955)
- Gửi Người Vợ Miền Nam (Thơ 1955)
- Trong Bóng Cờ Bay (Truyện Thơ 1957)
- Nước Giếng Thơi (Thơ 1957)

ở vùng bãi biển tỉnh Nam Định và tỉnh Ninh Bình để lập ra hai huyện Tiền Hải (nay thuộc Thái Bình)
và Kim Sơn (vẫn thuộc Ninh Bình).
Cụ có biệt tài về văn nôm. Văn Cụ làm đủ các lối, (chữ Hán (câu đối, sớ) cũng như chữ Nôm (thơ,
hát nói, phú, câu đối, ca trù ...), nhưng sở trường nhất là lối hát nói . Văn Cụ lỗi lạc khác thường;
không thiên về tình buồn như phần nhiều các thơ ca của ta; trái lại, Cụ thường khuyên người ta phải
gắng gổ làm tròn phận sự, lập nên công nghiệp và lúc nào cũng nên vui vẻ, dầu gặp cảnh nghèo khó
cũng vậy . Lời văn lại hào hùng và ngạo nghễ, biểu lộ một bản lĩnh vững chắc, một chí khí mạnh mẽ,
và thái độ cầu tiến, vươn lên, thật rõ là khẩu khí của một người suốt đời hăng hái làm việc cho đời,
tận tụy với chức vụ .
Tham khảo từ:
+ Nguyễn Công Trứ, Con Người và Sự Nghiệp, Chu Trọng Huyến.
+ Đại Nam Liệt Truyện, Quốc Sử Quán nhà Nguyễn.
+ Thi Ca Cổ Điển, Bảo Vân.
Nguyễn Đình Chiểu
Nhân dân Lục tỉnh quen gọi Nguyễn Đình Chiểu một cách thân mật là
Đồ Chiểụ
Đồ Chiểu sinh ngày 1/7/1822 tại làng Tân Khánh, phủ Tân Bình, tỉnh
Gia Định (thuộc thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Cụ Nguyễn Đình
Huy người Thừa Thiên, vào làm thư lại trong dinh Lê Văn Duyệt ở Gia
Định, lấy bà Trương Thị Thiệt người làng Tân Thới (gần Sài Gòn) sinh ra
Nguyễn Đình Chiểụ
Năm 1833, sau cuộc khởi nghĩa của Lê Văn Khôi, Nguyễn Đình Huy đưa
Nguyễn Đình Chiểu về gửi một người bạn ở Huế để ăn học. Khoảng
1840, Nguyễn Đình Chiểu trở về Nam và đến 1843 thi đỗ tú tàị Năm
1846, ông lại ra Huế để chuẩn bị thi tiếp. Nhưng năm 1849, sắp thi thì
được tin mẹ mất. Ông bỏ thi để về Nam chịu tang mẹ. Dọc đường vất
vả, lại thương mẹ khóc nhiều, ông bị đau nặng và mù cả hai mắt. Sau đó ông vừa dạy học, vừa bốc
thuốc, vừa làm thơ, sống giữa tình thương và lòng hâm mộ của bà con, cô bác. Hồi ông mới đậu tú
tài, có nhà phú hộ hứa gả con gái chọ Nay ông bị mù lòa, gia đình kia bội ước. Về sau, có người học
trò cảm nghĩa thầy đã gả em gái chọ

Nghuyệt Nga vì nàng có tấm lòng chung thủy son sắt; yêu quý Hớn Minh vì Hớn Minh bất chấp
quyền uy, trừng trị thẳng tay hạng người ỷ thế làm càng; yêu quý ông Quán vì ông Quán biết yêu
ghét rạch ròi theo lợi ích của nhân dân:
Quán rằng: "Ghét việc tầm phào,
Ghét cay, ghét đắng, ghét vào tận tâm.
Ghét đời Kiệt, Trụ mê dâm,
Để dân đến nỗi sa hầm sẩy hang.
Ghét đời U, Lệ đa đoan,
Khiến dân luống chịu lầm than muôn phần".
(Lục Vân Tiên)
Tác phẩm Lục Vân Tiên cũng là bản án kết tội những kẻ bất nhân, phi nghĩa: gia đình Võ Công lật
lọng đến tàn bạo, viên Thái sư hiểm ác, Trịnh Hâm phản trắn, Bùi Kiệm máu dệ..
3.Giặc đánh chiếm quê hương đất nước, thơ văn Đồ Chiểu chuyển từ đề tài đạo đức sang đề tài đánh
giặc cứu nước. Ngọn bút của ông càng hăng hái "chở đạo" và "đâm gian". Trong thơ văn, ông đã


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status