Nghiên cứu, ứng dụng chỉ thị phân tử ADN nhằm xác định gen CMS, gen duy trì, gen phục hồi phục vụ chọn tạo giống lúa lai ba dòng - Pdf 27

Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
PHẦN I: MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Lúa lai là một trong những thành tựu to lớn của các nhà khoa học trong
việc tăng năng suất cây trồng giải quyết vấn đề an ninh lương thực.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa học thì lúa lai có thể tăng năng suất lên
20% - 30% so với lúa thường. Vì vậy nhiều nước trên thế giới đã đưa lúa lai vào
sản xuất đại trà. Trung Quốc là nước đầu tiên đưa lúa lai vào sản xuất và đã đạt
được những thành tựu đáng kể. Nhận thấy được vai trò của việc sản xuất lúa lai
nên trong những năm gần đây các nhà khoa học nước ta đã đầu tư rất nhiều công
sức nghiên cứu và phát triển lúa lai. Sản xuất và phát triển lúa lai đã trở thành
một chương trình chiến lược trong việc tăng năng suất lúa ở nước ta.
Hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta có hai hệ thống sản xuất lúa lai
chủ yếu là: hệ thống lúa lai hai dòng mẫn cảm với nhiệt độ, ánh sáng và hệ thống
lúa lai ba dòng bất dục đực tế bào chất. So với lúa lai hai dòng thì lúa lai ba dòng
ổn định hơn ít biến động với điều kiện môi trường. Nó rất thuận lợi đối với một
nước có điều kiện tự nhiên như nước ta. Chính vì vậy từ lâu hệ thống lúa lai ba
dòng đã được nghiên cứu và sản xuất rộng rãi trên thế giới.
Để có được những tổ hợp có ưu thế lai cao thì cần có sự đa dạng về các
dòng bất dục, dòng duy trì, dòng phục hồi.
Để chọn tạo được các dòng này bằng các phương pháp truyền thống như:
Lai chuyển gen, đánh giá đời con…thì tốn rất nhiều thời gian và công sức và
thường đem lại hiểu qủa không cao.
Ngày nay với sự phát triển mạnh mẽ của Công nghệ sinh học đặc biệt là
kỹ thuật phân tử ADN (Chỉ thị phân tử) đã đem lại hiệu quả cao trong công tác
chọn tạo giống.
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
1
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
Xuất phát từ thực tiễn là nhanh chóng tạo đựơc các dòng bất dục, dòng
duy trì, dòng phục hồi chúng tôi tiến hành đề tài: “ Nghiên cứu, ứng dụng chỉ

nhất đó là:
Giả thuyết tính trội
Theo giả thuyết này thì trong quá trình tiến hoá, các tính trạng có lợi
thường do gen trội quy định, còn các tính trạng không có lợi do gen lặn quy định.
Ở con lai F1 chứa nhiều gen trội có lợi nhất hơn cả bố mẹ vì F1 có độ dị hợp tử
cao nhất về các cặp gen, nên các gen trội lấn át hoàn toàn các gen lặn trong cùng
locus trên NST tương đồng làm cho con lai F1 có ưu thế lai hơn hẳn hai bố mẹ.
VD: Khi lai AAbbCCdd với aaBBccDD cho con lai có kiểu gen
AaBbCcDd nên cho ưu thế lai hơn bố mẹ rõ rệt.
Giả thuyết siêu trội
Theo giả thuyết này thì không có hiệu ứng trội cũng như hiệu ứng lặn giữa
các alen.Do vậy, biểu hiện của ưu thế lai không phải do hiệu ứng trội mà là do sự
phân hoá khác nguồn của các alen. Giữa alen trội và lặn trong cặp gen dị hợp có
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
3
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
sự tác động tương hỗ lẫn nhau. Điều này làm cho cơ thể có kiểu gen dị hợp sẽ có
sức sống hơn hẳn cơ thể mang kiểu gen đồng hợp tử trội lẫn đồng hợp tử lặn
(AA < Aa > aa).
Giả thuyết cân bằng di truyền
Theo giả thuyết này thì mỗi cơ thể sinh vật có một trạng thái cân bằng di
truyền do các gen trong nhân quy định và có vai trò tác động của tế bào chất. Khi
lai giữa hai cơ thể khác nhau sẽ tạo nên một cân bằng mới thích ứng hơn cân
bằng cũ nên có nhiều tính trạng mới tốt hơn ở bố mẹ.
2.1.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa lai ba dòng trên thế giới
Hiện tượng con lai hơn hẳn bố mẹ đã được loài người biết đến từ lâu.
Khoảng 584 năm trước Công nguyên người ta đã biết lai lừa với ngựa để tạo ra
con la có sức khoẻ như ngựa và dẻo dai như lừa. Nhân dân vùng Trung du Bắc
bộ từ thời Lê đã biết tạo con lai giữa vịt và ngan lớn nhanh có thịt thơm ngon.
Theo tài liệu chính thức thì ưu thế lai đã được I. G. Kolreiter phát hiện mô tả và

dòng phục hồi hữu dục (Restores line, dòng R). Năm 1974, Trung Quốc đã đưa
ra nhiều tổ hợp lúa lai có ưu thế lai cao; năm 1975, đưa ra quy trình sản xuất hạt
lai “3 dòng”; năm 1976 đã sane xuất đủ lượng hạt lai F1 để gieo cấy trên diện
tích 140.000 ha. Năm 1990, đã cấy thêm được 5 triệu ha lúa lai thương phẩm và
năm 1996, đã đưa diện tích lên tới 17,6 triệu ha chiếm 55% tổng diện tích gieo
cấy cả nứơc. Năng suất lúa lai cao hơn lúa thuần khoảng 30%. Trên diện tích hẹp
(0,1 ha) lúa lai đạt năng suất kỷ lục là 16,8 tấn/ha/vụ và 23 tấn/ha/2 vụ [2].
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
5
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
Hiện nay, kỹ thuật sản xuất lúa lai của Trung Quốc đã phát triển ở mực độ
cao. Năng suất hạt lai F1 trung bình 2,5 tấn/ha trên phạm vi cả nước. Nhiều dòng
CMS có tỷ lệ thụ phấn chéo cao từ 85-90% như II-32A, ZhiA, You-IA và có
phẩm chất tốt đã được tạo ra [23]. Kể từ khi tổ hợp lúa lai đầu tiên là Nan You
được tạo ra năm 1974 và được đưa vào sản xuất đại trà năm 1976 đến nay đã có
hơn 100 tổ hợp được trồng với diện tích lớn. Các tổ hợp lúa lai ba dòng Indica
của Trung Quốc chủ yếu thuộc vào các hệ như Wei You (dòng mẹ là V20A)
gồm Wei You 64, Wei You 77, hệ Shan You, Quế You 99 ,hệ Bo You (dòng
mẹ là BoA) gồm Bo You 64, Bo You Quế 99B; Hệ Kim You (dòng mẹ là Kim
32 A) bao gồm Kim You 77, Kim You Quế 99, ngoài ra còn một số hệ mẹ khác
như ZhiA, XieA, You IA.
Nhiều dòng CMS tốt đã được tạo ra trên nền di truyền của các giống thuộc
Viện nghiên cứu lúa IRRI, các giống có nguồn gốc từ Hàn Quốc và Ấn Độ. Các
dòng IR54752A, IR54753A và IR54754A thích ứng tốt với điều kiện nhiệt đới ,
có khả nằng kết hợp cao và tỷ lệ thụ phấn chéo đảm bảo. Các dòng này đã được
sủ dụng để tạo ra hạt lai F1.
Qua hơn 30 năm nghiên cứu và phát triển Trung Quốc đã tạo ra được hơn
600 dòng bất dục đực tế bào chất (dòng A) và dòng duy trì tương ứng (dòng B),
hơn 3000 dòng phục hồi để tạo ra nhiều tổ hợp lai trong đó có hơn 200 tổ hợp
được gieo trồng phổ biến ngoài sản xuất.

2.1.3. Tình hình nghiên cứu và sản xuất lúa lai ba dòng ở Việt Nam
Việt Nam bắt đầu nghiên cứu lúa lai vào năm 1980 tại Viện Khoa học kỹ
thuật Nông nghiệp, Viện lúa Đồng bằng sông Cửu Long và Viện Di truyền Nông
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
7
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
Nghiệp. Nguồn vật liệu bố mẹ chủ yếu nhập nội từ IRRI, tuy nhiên những nghiên
cứu này mới ở giai đoạn tìm hiểu. Bước đầu chúng ta chỉ đánh giá các dòng
CMS, xây dựng các quy trình sản xuất hạt lai F1 và đánh giá ưu thế lai để tìm
những tổ hợp lai có triển vọng. Đến năm 1992, chương trình nghiên cứu lúa lai
quốc gia mới thực sự được hình thành [2].
Năm 1990, bộ Nông nghiệp đã nhập một số tổ hợp lúa lai từ Trung Quốc
gieo trồng thử trong vụ xuân ở đồng bằng Bắc bộ. Cụ thể từ năm 1989 đến năm
1991 đã có một số tổ hợp cao hơn lúa thường từ 15 – 40% như IR62829/Pusan
đạt 9,05 tấn/ha. Một số giống lúa lai hệ 3 dòng nhập nội từ Trung Quốc như
Shan ưu 63, Bắc ưu 903, Nhị ưu 63 đã cho năng suất cao hơn lúa thuần từ 13 –
30 %. Một số dòng CMS được đánh giá có tính bất dục hoàn toàn và gần như là
ổn định là V20A, IR58025A, BoA. Các dong phục hồi cho các dòng trên cũng
đựơc chọn lọc như Minh khôi 63, Trắc 64, Quế 99 [5].
Tại Viện di truyền Nông nghiệp, một số tổ hợp lai cho năng suất cao cũng
được tạo ra. Tiêu biểu là tổ hợp BoA/DT12 cho năng suất 7,5-10 tấn/ha có tính
thích ứng cao và đã được chọn lọc để để đưa ra sản xuất thử [10].
Ngoài việc thu thập các dòng CMS chúng ta còn tiến hành nghiên cứu để
tạo dòng CMS mới. Chúng ta đã tạo ra được 8 dòng CMS mới từ 5 nguồn lúa
dại, 4 trong số 8 dòng đó có nguồn tế bào chất bất dục từ lúa dại Đồng Tháp kết
hợp với nhân của các giống IR66, IR70, PMS23, V20B; 4 dòng còn lại là:
OMS1, OMS2, OMS4, RPMS2 có kiểu bất dục giao tử thể rất khác với dạng bất
dục đực “WA” của Trung Quốc [6].
Trung tâm nghiên cứu và phát triển lúa lai thuộc Viện Khoa học Kỹ Thuật
Nông nghiệp Việt Nam đã tạo ra được nhiều tổ hợp 3 dòng có triển vọng như:

9
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
Sự bất dục là do sự tương tác giữa gen nhân và gen trong tế bào chất gây
ra. Cây bất dục này thì có tế bào chất bất dục dạng (S) và trong nhân có chứa gen
bất dục là (rfrf). Cây bất dục có kiểu gen là Srfrf. Những cây này thì ty thể không
cung cấp đủ năng lượng cho các hoạt động của tế bào trong khi đó các sản phẩm
của các gen trong nhân lại không bù đắp được. Chính điều này làm cho hạt phấn
của những cây này bị bất dục do không tích luỹ được năng lượng, hạt phấn lép,
méo mó biến dạng, không có khả năng nảy mầm thụ tinh.
b) Đặc điểm
Dòng này thì có nhụy phát triển bình thường nhưng hạt phấn bị thui chột.
Nên dòng này không có khả năng tự thụ phấn tạo hạt nhưng có khả năng nhận
phấn của các dòng khác có chúa gen phục hồi để tạo hạt [19].
Chúng ta có thể nhận biết được những dòng này bằng cách nhuộm hạt
phấn bằng dung dịch I-KI1% và soi trên kính hiển vi thì các hạt phấn này không
nhuộm màu, có hình dạng méo mó. Hoặc nhận bằng cách bao cách ly dòng này
thì dòng này không cho hạt, các hạt bị lép hoàn toàn.
c) Một số dạng bất dục phổ biến
+ Bất dục đực hoang dại (Wild Abortion: WA)
Đây là dạng bất dục bào tử thể nó đựơc tạo ra bằng cách lai giữa lúa dại và
lúa trồng là các giống thuộc loài phụ Indica chín sớm như như: V20, V41, Zhen
Shan 97…Các giống Indica ngắn ngày của Trung Quốc có thể được dùng làm
dòng duy trì còn các giống Indica chín muộn và các giống trồng ở vùng Đông
Nam Á có thể dùng làm các dòng phục hồi như: IR24, IR26, Zhu Ai, Tai Yin1…
Hiện nay dạng bất dục “WA” được sử dụng rộng rãi nhất, nó chiếm 95%
tổng số lượng hạt giống F1 được đưa vào sản xuất.
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
10
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
+ Dạng bất dục đực kiểu Hồng Liên

kinh nghiệm tổng kết của các chuyên gia chọn giống Trung Quốc thì cần chọn
các dạng Indica nguyên thuỷ làm mẹ lai với một số dạng cải tiến trong nhóm
Indica chín sớm, chín trung bình và các giống Japonica cải tiến sẽ xuất hiện
nhiều cá thể bất dục. Chọn trong đó những cá thể có nhiều tính trạng nông sinh
học tốt lai thử với dòng bố khởi đầu. Nếu con lai bất dục thì tiến hành lai lại rồi
đánh giá độ thuần, cuối cùng sẽ thu được dòng bất dục và dòng duy trì tương
ứng.
+ Phương pháp gây đột biến
Người ta có thể dùng các tác nhân đột biến (hoá học, vật lý) để tạo ra các
dạng bất dục khác nhau trong quần thể. Để tìm được dòng CMS trong số đó
chúng ta phải tiến hành lai thử các cá thể bất dục được tạo ra với dòng vật liệu
khởi đầu chưa có xử lý đột biến hoặc các giống lúa thường khác nhau có những
tính trạng mong đợi. Sau đó tiến hành đánh giá con lai F1 và lựa chọn những tổ
hợp lai bất dục, cặp nào có độ ổn định bất dục cao thì đó chính là dòng CMS và
dòng duy trì mới.
e) Yêu cầu đối với một dòng A tốt để sản xuất hạt lai F1
- Hạt phấn phải bất dục hoàn toàn và ổn định qua các vụ.
- Phải tương đối dễ phục hồi:
• Phổ phục hồi rộng có nghĩa là nhiều giống lúa thường khi lai với dòng
A cho con lai F1 hữu dục cao trên 80%, trên cơ sở đó có thể chọn ra nhiều tổ hợp
lai tốt.
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
12
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
• Cấu tạo hoa phù hợp với đặc điểm nhận phấn ngoài: Góc mở vòi trấu
rộng, thời gian mở dài, thời gian sống của vòi nhụy kéo dài. Có tập tính nở hoa
tốt: nở tập trung.
• Độ trỗ thoát cổ bông càng nhiều càng tốt và nhạy cảm với GA
3
.

chuyển toàn bộ các đặc điểm mong muốn sang cây A, như vậy sẽ thu được cặp
A/B cải tiến. Ngoài ra có thể sử dụng đột biến hoá học để cải tiến những tính
trạng của dòng B.
2.2.4. Dòng phục hồi bất dục
a) Bản chất di truyền.
Các cây trong dòng phục hồi thì tế bào chất có thể chứa gen phục hồi hoặc
gen bất dục (F hoặc S) nhưng gen trong nhân là gen đồng hợp tử trội (RfRf) hoặc
ở dạng dị hợp (Rfrf) kiểm soát tính hữu dục của hạt phấn do gen phục hồi ở
trong nhân có thể là đồng hợp hoặc dị hợp nên khi lai với dòng CMS sẽ gây nên
hiện tượng phục hồi hoàn toàn hoặc phục hội một phần.
b) Đặc điểm
Dòng phục hồi có hạt phấn hữu dục và dùng để thụ phấn cho dòng A để
sản xuất hạt lai F1. Hạt lai F1 khi gieo sẽ cho các cây F1 đồng nhất về đa số các
tính trạng và cho ưu thế lai cao.
c) Chọn tạo dòng phục hồi hữu dục
Có 3 phương pháp để gây tạo dòng phục hồi
+ Phân lập dòng phục hồi trong quần thể tự nhiên bằng lai thử
Để phát hiện dòng phục hồi trong quần thể tự nhiên các nhà chọn giống sử
dụng dòng A để lai thử với các giống trong tập đoàn giống tự nhiên. Sau đó gieo
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
14
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
các tổ hợp thu được cùng hàng với các giống bố. Khi lúa trỗ tiến hành quan sát
hạt phấn để đánh giá độ hữu dục của hạt phấn. Những tổ hợp có tỷ lệ hạt phấn
hữu dục > 80% thì dòng bố có khả năng được chọn tạo làm dòng phục hồi.
Ngoài việc đánh giá độ hữu dục của hạt phấn cần chọn lọc những tổ hợp có tỷ lệ
hạt chắc cao, khối lượng hạt lớn
+ Tạo dòng phục hồi bằng phương pháp lai hữu tính
Lai hai dòng phục hồi có các đặc tính nông sinh học tương phản có thể bổ
sung cho nhau. Chọn các cá thể phân ly ở F2 và tiến hành lai với các dòng CMS

về kiểu hình (tính trạng) giữa các cá thể, dòng, giống và giữa các loài khác nhau.
2.3.2. Một số chỉ thị phân tử thường được áp dụng
a) Chỉ thị RFLP (Restriction Fragment Length Polymorphism)
RFLP là kỹ thuật nhận dạng ADN bằng cách lai axit nucleic. Bản chất của
kỹ thuật này là dựa trên sự phân cắt ADN bằng enzyme giới hạn và sự lai (liên
kết) giữa các bazơ bổ sung trên hai sợi đơn axit nucleic (sợi ADN hoặc mARN).
Khi xử lý bằng enzym giới hạn sẽ thu được những mảnh ADN nhỏ hơn có kích
thước khác nhau, những mảnh này sau đó được điện di và cho lai với mẫu dò,
nếu chúng bổ sung với mẫu dò thì sẽ có phản ứng lai. Kết quả của phản ứng lai
là chúng ta có thể xác định được sự đa hình giữa các mẫu ADN khác nhau [13].
Để tiến hành phương pháp này trước hết cần chiết tách ADN của bộ
genome. Sau đó sử dụng một hoặc vài enzym cắt giới hạn, chúng ta sẽ thu được
những đoạn ADN có kích thước nhỏ hơn, những đoạn này được phân tách bằng
cách chạy điện di trên gel agarose. Tùy theo kích thước của mỗi đoạn này mà nó
sẽ di chuyển đến các vị trí khác nhau trên gel. Sau đó chuyển nguyên vẹn các vệt
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
16
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
này lên trên màng lai. Loại màng lai được ưa dùng hiện nay là hybond N
+
, nó sẽ
giữ chặt ADN trên đó. Trước khi chuyển lên màng lai các mảnh ADN được xử
lý bằng axit (HCl) nhằm bẻ gẫy những mảnh ADN thành những mảnh nhỏ hơn
nữa để chúng dễ dàng di chuyển lên màng lai, đồng thời vì lai ADN chỉ tiến hành
được giữa sợi đơn và sợi đơn nên những mảnh ADN trong gel tiếp tục được xử
lý bằng kiềm (NaOH) để làm biến tính tách ADN thành sợi đơn [7]. Các vệt đó
được lai với các mẫu dò mục tiêu, đã được đánh dấu phóng xạ, màng lai sau khi
được rửa và chụp hình trên phim X quang, trong những điều kiện nhất định như
vệt lai trên màng lai sẽ chuyển thành vết đen trong phim X quang.
b) Chỉ thị PCR (Polymerase Chain Reaction)

định trước (30-60 chu kỳ). Sản phẩm thu được sau khi thực hiện phản ứng PCR
sẽ được điện di trên gel agarose 1% sau đó đựơc nhuộm Ethidium Bromide. Cuối
cùng các vết băng đựơc phát hiện bằng máy chiếu UV [16].
c) Chỉ thị RAPD (Randomly Amplified Polymorphic ADN)
Phương pháp RAPD được William, Welsh, McClelland đề xuất vào năm
1990. Bản chất của phương pháp này là quá trình nhân bản các đoạn ADN bằng
kỹ thuật PCR có sử dụng các mồi được thiết kế ngẫu nhiên. Các mồi này sẽ bắt
cặp ngẫu nhiên vào ADN khuôn ở vị trí bất kỳ nào mà tại đó có trình tự bổ sung
với nó. Đoạn mồi được thiết kế có kích thước từ 8-12 nu (thông thường là 10
nu). Sau phản ứng sẽ có vô số các đoạn ADN được nhân lên với những tính trạng
nhất định [11].
d) Chỉ thị AFLP (Amplified Fragment Length Polymorphism)
Phương pháp này được Zabeau và Vos cùng cộng sự đề xuất vào những
năm 1993-1995. Bản chất của phương pháp này là sử dụng kỹ thuật PCR để
nhân bản các đoạn ADN đã được cắt bởi enzyme giới hạn. Khâu then chốt của
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
18
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
kỹ thuật này là việc thiết kế các mồi đặc trưng. Dựa vào trình tự nucleotide ở hai
đầu bị cắt người ta thiết kế các đoạn gắn (adaptor) và gắn chúng vào các đầu cắt.
Dựa vào trình tự adaptor ta có thể thiết kế mồi PCR gồm hai phần: phần trình tự
bổ sung với adaptor và phần bổ sung những nu tùy thích thường từ 1-3 nu. Với
mồi thiết kế như vậy chỉ có các đoạn ADN có trình tự 2 đầu bắt cặp với trình tự
mồi mới được nhân lên. Đây là phương pháp kết hợp giữa RFLP và RAPD nên
có nhiều ưu điểm: đơn giản, ổn định, dễ thiết kế mồi ở lượng lớn, khả năng ứng
dụng lớn [7].
2.3.3. Tình hình nghiên cứu và ứng dụng chỉ thị phân tử trong chọn tạo giống
lúa lai
Từ khi phát hiện ra kỹ thuật PCR năm 1985 nó đã trở thành một kỹ thuật
quan trọng đựơc sử dụng trọng nghiên cứu và chọn tạo giống cây trồng. Cho đến

phương pháp RAPD nhằm phân biệt dòng duy trì và dòng bất dục đực tế bào
chất dạng “WA”. Kubo and Kadowaki (1997), Ashitola et alY(2004) đã sử dụng
marker RMT6 để khuyếch đại một trình tự lặp lại (AT6) ở phía trước gen mã hóa
cho tiểu phần nad5 nhằm phát hiện được các dòng duy trì và dòng bất dục đực
“WA”.
Theo P. Rajendrakumar et al (2006) đã sử dụng một marker prcms nhằm
nhân đoạn lặp lại đặc biệt trên ty thể để phát hiện dòng duy trì và dòng bất dục
đực tế bào chất dạng “WA”.
Như vậy từ những thành tựu nghiên cứu đạt được trên thế giới chúng ta
có thể vận dụng và thiết kế được các cặp mồi và sử dụng các chỉ thị phân tử thích
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
20
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
hợp để tìm nguồn gen trong các giống lúa địa phương, cụ thể là các gen bất dục,
gen duy trì, gen phục hồi để phục vụ cho công tác chọn tạo giống lúa lai ba dòng.
2.3.4. Ưu điểm của việc sử dụng chỉ thị phân tử
Việc sử dụng chỉ thị phân tử và bản đồ di truyền giúp cho các nhà chọn
giống thấy rõ được mối quan hệ giữa: Tính trạng-Gen-Môi trường. Điều này
giúp cho các nhà chọn giống có những biện pháp thích hợp trong chương trình
chọn giống với các tính trạng.
Chỉ thị phân tử còn giúp cho các nhà chọn giống chọn được chính xác gen
quy định tính trạng mong muốn và trong thời gian rất ngắn. Từ đó rút ngắn được
thời gian và công sức nâng cao hiệu quả chọn lọc.
Ngoài ra nó còn có nhiều ưu điểm nữa, chính vì vậy chúng tôi thực hiện đề
tài này để tìm ra những chỉ thị thích hợp nhất phục vụ cho công tác chọn tạo
giống ở Việt Nam.
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
21
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
PHẦN III: VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

2
O 7,4ml
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
22
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
Dung dịch đệm TE
Thành phần
Nồng độ dung
dịch mẹ
Nồng độ dung
dịch làm việc
50ml dung dịch
TE làm việc
Tris-HCl (pH=8) 1M 10mM 0,5ml
EDTA (pH=8) 0,5M 1mM 1,0ml
H
2
O 49,4ml
* Ngoài ra còn có:
+ Hỗn hợp phenol : chlorofom : Isoamylancohol (25:24:1)
+ Ethanol 70%, 96%, đá lạnh.
- Hoá chất dùng cho chạy điện di trên gen agarose 1,5%, Ethidium
bromide 10mg/ml, Loading Buffer (Bromophenol blue, Xylene cyanol,
Succarose).
+ TAE (Tris base, glacial aceric acide, EDTA) 1X.
- Dung dịch KI 1% dùng để nhuộm soi hạt phấn
3.1.2.2. Ngoài đồng ruộng
- Gồm 137 tổ hợp lai giữa các dòng bất dục với các giống lúa địa phương,
những giống lúa cải tiến,
- Ngoài ra còn có các vật liệu khác như : Bao nilon, cọc tre, phân bón

2
O)/ha.
- Cách bón:
+ Bón lót: Toàn bộ P
2
O
5
+ 20%N bón sau lần cày bừa cuối cùng,
giữ mực nước thấp.
+ Bón thúc 1: 50%N + 40%K
2
O vào lúc lúa đẻ nhánh ( rút nước
thấp 1-2 cm, bón đều kết hợp với làm cỏ).
+ Bón thúc 2: Toàn bộ lượng phân còn lại, bón vào lúc lúa bước vào
giai đoạn phân hoá, làm đòng.
3.5. Nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Nghiên cứu phát hiện các dòng có khả năng duy trì, phục hồi cho các
dòng bất dục CMS.
* Phương pháp:
- Lai cưỡng bức giữa các giống lúa địa phương với các dòng bất dục để
thu hạt F1: Bằng cách bứng cây mẹ đặt cạnh cây bố, sau đó cắm cọc tre nghiêng
Khoa Nông học Trường ĐHNN I
24
Báo cáo tốt nghiệp Trần Bảo Ngọc - CNSH49
một góc 45
0
và bao nilon lại, ghi thẻ đánh dấu tổ hợp lai, ngày lai. Dòng mẹ phải
đảm bảo chưa mở vỏ trấu, có thời gian trỗ trùng khớp với cây bố. Cây mẹ cần
được tỉa bớt lá và các nhánh trổ quá sớm, các nhánh còn non. Cây mẹ phải đặt
thấp hơn cây bố để đảm bảo khả năng nhận phấn tốt nhất. Thời gian lai tiến hành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status