Love
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Bài tiểu luận
Đề tài: Quá trình Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta
trước và sau đổi mới
Quy Nhơn, ngày 29 tháng 11 năm 2010
2
MỤC LỤC
Lời mở đầu
Hiện nay, thế giới xung quanh ta luôn luôn biến chuyển trên tất cả mọi mặt của
cuộc sống. Cho nên, để
3
Ph ầ n m ộ t:
Lý luận chung
1.1. Các khái niệm cơ bản:
1.1.1. Công nghiệp hóa:
Công nghiệp hóa có thể được hiểu một cách ngắn gọn là quá trình chuyển đổi từ
nước nông nghiệp sang nước công nghiệp, cải biến từ một xã hội nông nghiệp sang xã
hội công nghiệp.
Hay khái niệm này còn có thể được hiểu theo nghĩa: Công nghiệp hóa là hoạt
động mở rộng tiến bộ của khoa học kĩ thuật với sự lùi dần của tính chất thủ công trong
sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, đem lại một tính cách công nghiệp cho một
hoạt động nào đó.
Trước kia (khi máy dệt chưa ra đời), người dân phải dùng khung cửi để dệt vải,
chất lượng và số lượng hoàn toàn phụ thuộc vào chủ quan con người (sức khỏe, tâm lý,
công cụ,…). Ngày nay, vải được dệt ra trên dây chuyền có sự phân công và chuyên
môn hóa cho từng công đoạn sản xuất, với quy trình hiện đại và kỷ luật người lao động
được nâng cao.
động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiên đại dựa trên sự
phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã
hội cao”.
1.2. Tính tất yếu phải thực hiện CNH – HĐH ở nước ta:
CNH – HĐH là con đường phát triển tất yếu của tất cả các nước và các dân tộc
trên thế giới để tiến lên sản xuất hiện đại. Đây là quá trình tạo nên phát triển nhảy vọt
của LLSX cả về chất lượng và số lượng.
Theo quan điểm CNML, cơ sở vật chất khoa học – kỹ thuật của CNXH phải là
LLSX cao hơn CNTB, chỉ có dựa trên nền tảng của CNH thì mới tạo lập được thật sự
đầy đủ những QHSX mới thì XHCN mới có điều kiện cơ bản để xấy dựng cơ sở cho
xã hội mới.
5
Do đó, C.Mác khẳng định: ” Những thời đại kinh tế khác nhau không phải ở
chỗ chúng sản xuất ra cái gì mà là chúng sản xuất bằng cách nào, với TLSX nào, các
tư liệu lao động không những là cái thước đó mà còn là chỉ tiêu của mối quan hệ xã
hội”.
Để sản xuất ra cùng một loại sản phẩm, trong lao động thủ công, người lao
động phải mất một khoảng thời gian dài, sử dụng công cụ sản xuất thô sơ hơn so với
thời kỳ áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất.
*Sau khi cách mạng tháng Tám(1945) thắng lợi chưa được bao lâu, thì đất nước
lại phải trải qua cuộc kháng chiến 9 năm, nền kinh tế đã bị tàn phá nặng nề; chỉ có
nông nghiệp tăng trưởng rất chậm (tổng giá trị sản lượng nông nghiệp năm 1955 so
với năm 1939 tăng 23,9%, bình quân 1 năm tăng 1,3%, sản lựơng lúa chỉ tăng 318
nghìn tấn, đậu tương giảm 3,9 nghìn tấn, chè búp khô giảm 4,4 nghìn tấn, cao su tăng 4
nghìn tấn, lạc tăng 12,1 nghìn tấn, số lượng trâu tăng 210 nghìn con, bò tăng 114
nghìn con, lợn tăng 790 nghìn con...).
Còn công nghiệp bị sút giảm mạnh (năm 1955 so với năm 1939, giá trị tổng sản
lượng công nghiệp giảm 60,1%, sản lượng xi măng giảm 14,4%, than giảm 74,4%,
muối giảm 33,5%, rượu giảm 65,3%...).
Đứng trước tình hình nền kinh tế đất nước đang bị sa sút nghiêm trọng, yêu cầu
nông nghiệp chiếm tỉ trọng 42,3% và 83%; Sản lượng lương/người dưới 300kg;
GDP/người dưới 100USD. Trong khi phân công lao động chưa phát triển và lực lượng
sản xuất còn ở trình độ thấp, quan hệ xã hội đã được đẩy lên trình độ tập thể hóa và
quốc doanh hóa là chủ yếu (đến năm 1960: 85,8% nông dân vào hợp tác xã; 100% hộ
tư sản được cải tạo , gần 80% thợ thủ công cá thể vào hợp tác xã tiểu thủ công
nghiệp).
7
Mặc dù, với các nước phát triển thì CNH bình thường được tiến hành CNH từ
nông nghiệp đến công nghiệp nhẹ và kết thúc quá trình CNH là công nghiệp nặng; tuy
nhiên, Việt Nam bắt đầu quá trình CNH với việc phát triển công nghiệp nặng là hoàn
toàn hợp lý trong thời kỳ này. Do đó, để trang bị kỹ thuật cho toàn bộ nền kinh tế
quốc dân nhằm mục đích cơ giới hóa sản xuất để nâng cao năng suất lao động mà mục
đích cuối cùng là đánh Mỹ cứu nước.
Ngay từ đầu quá trình CNH, Đảng ta đã xác định CNH XHCN là nhiệm vụ
hàng đầu trong suốt thời kỳ quá độ lên XHCN ở nước ta.
Đại hội Đảng khóa III (9/1960) đã xác định mục tiêu căn bản của CNH XHCN
là xây dựng một nền kinh tế XHCN cân đối và hiện đại; bước đầu xây dựng cơ sở vật
chất và kỹ thuật của CNXH. Đó là mục tiêu cơ bản, lâu dài và phải thực hiện qua
nhiều giai đoạn.
Công cuộc cải tạo XHCN đối với thủ công nghiệp và công thuơng nghiệp
TBCN đã căn bản hoàn thành, công nghiệp quốc doanh ngày càng phát triển, vai trò
chủ đạo của công nghiệp trong nền kinh tế quốc dân ngày càng được phát huy. Tuy
nhiên, nền kinh tế về cơ bản vẫn còn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, cơ sở vật
chất và kỹ thuật trong nông nghiệp còn quá nhỏ yếu, công nghiệp nặng còn rất nhỏ bé,
đội ngũ cán bộ khoa học – kỹ thuật và công nhân lành nghề còn quá ít ỏi…
Với nhận định tình hình CNH thời kỳ đầu như trên, tại Hội nghị trung ương 7
khóa III (4/1962) đã đề ra phương hướng chung về xây dựng và phát triển công
nghiệp nước ta là:
Ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý,
Kết hợp chặt chẽ phát triển công nghiệp và phát triển nông nghiệp,
nghề hình thành và phát triển, đào tạo lực lượng cán bộ khoa học - kỹ thuật và
lao động có trình độ tay nghề cao.
2.1.2. Giai đoạn 1976 – 1986:
Sau ngày thống nhất đất nước, Việt Nam đứng trước một cơ hội mới để xây
dựng và phát triển kinh tế vì tiềm năng kinh tế của hai miền bổ sung cho nhau và có
thuận lợi cơ bản là có hoà bình. Song do xuất phát điểm của nền kinh tế quá thấp hậu
quả chiến tranh nặng nề, cùng với những hạn chế trong việc tận dụng thời cơ, hạn chế
của cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp và những vấp ngã, sai lầm trong chính sách
kinh tế, đặc biệt “ giá – tiền – lương” (bao cấp về giá – bao cấp theo chế độ cấp phát
vốn – tiền lương tượng trưng), nên cuộc khủng hoảng tiềm ẩn những năm 80 và bùng
phát từ những năm 1985.
Trên cơ sở phân tích một cách toàn diện đặc điểm, tình hình trong nước và quốc
tế, Đại hội IV của Đảng (12/1976) đề ra đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa
10
và Đại hội V (3/1982) đã có sự sửa đổi để xác định đúng bước đi của công nghiệp hoá
cho phù hợp với mục tiêu và khả năng của mỗi chặng đường.
Đại hội IV của Đảng (12/1976) chủ trương lần thứ 1 (1976 – 1980) “ Đẩy mạnh
công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất – kĩ thuật của chủ nghĩa xã
hội, đưa nền kinh tế nước ta từ sản xuất nhỏ lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa. Ưu tiên
phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lí trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công
nghiệp nhẹ, kết hợp xây dựng công nghiệp và nông nghiệp; vừa xây dựng kinh tế
trung ương với kinh tế địa phương trong một cơ cấu kinh tế quốc dân thống nhất”.
Đường lối này nhất trí với những nhận thức cơ bản về công nghiệp hoá ở miền Bắc
trước đây đồng thời có sự phát triển thêm.
Tuy nhiên kết quả sản xuất trong 5 năm 1976 – 1980 chưa tương xứng với sức
lao động và vốn đầu tư bỏ ra; sự mất cân đối của nền kinh tế quốc dân còn trầm trọng,
thu nhập quốc dân chưa đảm bảo được tiêu dùng của xã hội; thị trường vật giá tài
chính chưa ổn định; đời sống của nhân dân lao động còn khó khăn; lòng tin của quần
chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của nhà nước giảm sút. Bởi thế
ngay từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 2 (1981 -1985) nhiều nghị quyết
Trong 5 năm 1976 – 1980 trên mặt trận kinh tế nhân dân Việt Nam đã đạt được
những thành tựu quan trọng:
Khắc phục những hậu quả nặng nề của chiến tranh xâm lược do đế quốc
Mĩ gây ra và cuộc chiến tranh biên giới;
Khôi phục phần lớn những cơ sở sản xuất công ngiệp, nông nghiệp, giao
thông ở miền Bắc và xây dựng lại các vùng nông thôn ở miền Nam bị chiến
tranh tàn phá, củng cố kinh tế quốc dân và kinh tế tập thể ở miền bắc;
Bước đầu cải tạo và sắp xếp công thương nghiệp tư doanh ở miền nam,
đưa một bộ phận nông thôn nam bộ, nông dân nam trung bộ vào con đường làm
ăn tập thể;
Bước đầu phân bố lại lực lượng lao động xã hội;
Tăng cường một bước cơ sở vật chất và kĩ thuật của nền kinh tế quốc
dân.
Kết quả cho thấy: giai đoạn 1976 – 1978, sản xuất công nghiệp phát triển đều
đặn; năm 1978, phát triển cao nhất, tăng 18,2% so với năm 1976 sau đó tụt xuống,
năm 1980 so với năm 1976 giảm còn 2,5%. Bình quân hàng năm thời kỳ 1976 – 1980
chỉ tăng 0,6%. So với chỉ tiêu Đại hội IV đề ra, cơ khí chỉ đạt 80%, điện 72%, than
52%, gỗ tròn 45%, cá biển 40%, vải lụa 39%, giấy 37%, xi măng 32%, phân hoá học
12
28%. Như vậy, kết thúc kế hoạch 5 năm 1976 – 1980 ngành công nghiệp nói riêng và
nền kinh tế nói chung không những không tiến thêm được bao nhiêu, mà trái lại còn
bộc lộ nhiều yếu kém, nhất là mất cân đối nghiêm trọng trong quan hệ cung cầu về một
số mặt hàng quan trọng như năng lượng, nhiên liệu, hàng tiêu dùng thiết yếu.
Từ năm 1981 – 1985, nhờ những điều chỉnh quan trọng về nội dung, bước đi
của CNH và bước đầu tháo gỡ những rào cản của cơ chế quản lý kinh tế, cho nên nền
kinh tế nước ta trong những năm 1981 – 1985 đã có bước chuyển biến mới cả trong
nông nghiệp và công nghiệp( GDP bình quân trong những năm này tăng 5,5%). Cơ
chế kinh tế bắt đầu có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, phù hợp hơn với tình hình
kinh tế đất nước trong chặn đường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên CNXH.
Biểu đồ biểu diễn thu nhập các ngành và sự tăng trưởng thu nhập quốc dân
Về khách quan, chúng ta tiến hành công nghiệp hóa từ một nền kinh tế lạc hậu,
nghèo nàn và trong điều kiện chiến tranh kéo dài, vừa bị tàn phá nặng nề vừa không
thể tập trung sức người, sức của cho công nghiệp hóa.
Về chủ quan, chúng ta đã mắc những sai lầm nghiêm trọng trong việc xác định
mục tiêu, bước đi về cơ sở vật chất, kĩ thuật, bố trí cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư,
vv…Đó là những sai lầm xuất phát từ chủ quan duy ý chí trong nhận thức và chủ
trương công nghiệp hóa.
2.2. Quá trình đổi mới tư duy của Đảng ta về sự nghiệp công nghiệp hóa:
14
2.2.1. Những sai lầm được rút ra từ Đại hội VI thời kỳ trước đổi mới:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) với tinh thần “nhìn
thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”. Đã nghiêm khắc chỉ ra những
sai lầm trong nhận thức và chủ trương công nghiệp hóa thời kì 1960-1985 mà trực tiếp
là 10 năm từ 1975-1985. Đó là:
Chúng ta đã phạm sai lầm trong việc xác định mục tiêu và bước đi về xây
dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật, cải tạo XHCN và quản lý kinh tế, vv… Do tư
tưởng chỉ đạo chủ quan nóng vội, muốn bỏ qua những bước đi cần thiết nên
chúng ta đã chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa trong khi chưa đủ các điều
kiện cần thiết, mặt khác chậm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế.
Trong việc bố trí cơ cấu kinh tế, trước hết là cơ cấu sản xuất và đầu tư
thường xuất phát từ lòng mong muốn đi nhanh, không kết hợp chặt chẽ ngay từ
đầu công nghiệp với nông nghiệp thành một cơ cấu hợp lý, thiên về xây dựng
công nghiệp nặng và những công trình quy mô lớn, không tập trung sức giải
quyết về căn bản vần đề lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu. Kết quả là đầu tư nhiều nhưng hiệu quả thấp.
Không thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết Đại hội lần thứ V như: vẫn
chưa thực sự coi nông nghiệp là mặt trận hàng đầu, công nghiệp nặng không
phục vụ kịp thời nông nghiệp và công nghiệp nhẹ.
2.2.2. Quá trình đổi mới tư duy của Đảng sau Đại hội VI(12/1986):
Từ việc nhận ra những sai lầm đó, tại Hội nghị Trung ương 7 khóa VII (7/1994)
Xây dựng kết cấu hạ tầng,
Phát triển nhanh du lịch, các dịch vụ,
Phát triển hợp lý các vùng lãnh thổ,
Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Đến đại hội IX (4/2001) và Đại hội X (4/2006) Đảng ta tiếp tục bổ sung và nhấn
mạnh một số điểm mới về CNH:
16