ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA NÔNG NGHIỆP - TÀI NGHIÊN THIÊN NHIÊN
BỘ MÔN THỦY SẢN
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG
KHẢO SÁT SỰ PHÂN BỐ ĐỘNG VẬT ĐÁY
VỚI CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG,
NỀN ĐÁY Ở RẠCH TẦM BÓT,
THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
Chủ nhiệm đề tài: ThS. LÊ CÔNG QUYỀN i
TÓM LƯỢC
Đề tài “Khảo sát sự phân bố động vật đáy với các yếu tố môi trường, nền đáy ở rạch
Tầm Bót, Thành phố Long Xuyên, Tỉnh An Giang” được thực hiện từ tháng 01/2008 đến
tháng 01/2009 với 4 đợt khảo sát qua 9 vị trí khảo sát. Kết quả nghiên cứu cho thấy:
Các thông số lý hóa biến động với nhiệt độ từ 28,5 – 32
0
C, pH từ 6,27 – 7,5, DO từ 0,8 –
5,48, COD từ 11,2 – 190,4 mg/L, lân tổng từ 0,1 – 1,44 mg/L, đạm tổng từ 0,5 – 12,9 mg/L,
TSS 19,5 – 112 mg/L. Cho thấy chất lượng nước khu vực này ô nhiễm ở mức từ nhẹ đến
nặng. Các thông số lý hóa nền đáy cũng biến động với tỷ lệ sét từ 2 – 45 %, bùn từ 15 – 65
%, cát từ 5 – 82 % trong thành phần cơ giới đất, chất hữu cơ từ 0,59 – 3,87 % C, lân tổng từ
Từ khóa: Động vật đáy, Primer, Ô nhiễm nước thải sinh hoạt ii
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa..........................................................................................................................
Lời cảm tạ ..............................................................................................................................i
Tóm lược.............................................................................................................................. ii
Mục lục ............................................................................................................................... iii
Danh sách bảng.....................................................................................................................v
Danh sách hình.....................................................................................................................vi
Danh sách từ viết tắt .......................................................................................................... vii
Chương I. MỞ ĐẦU ...........................................................................................................01
I. MỤC TIÊU VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU.................................................................02
1. Mục tiêu nghiên cứu .......................................................................................................02
2. Nội dung nghiên cứu.......................................................................................................02
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU...............................................................03
1. Đối tượng nghiên cứu .....................................................................................................03
2. Phạm vi nghiên cứu ........................................................................................................03
III. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU...........................................03
1. Thành phần loài động vật đáy.........................................................................................27
2. Sinh lượng động vật đáy khu vực rạch Tầm Bót ...........................................................29
3. Tính đa dạng động vật đáy..............................................................................................31
4. Quan hệ giữa cấu trúc ĐVĐ với các chỉ tiêu lý, hóa nước và nền đáy...........................32
Chương III. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ.............................................................................38
I. Kết luận............................................................................................................................38
II. Đề nghị ...........................................................................................................................38
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................................39
Phụ lục ................................................................................................................................43
v
DANH SÁCH HÌNH
Hình Tựa hình Trang
1 Thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt 05
vi
vii
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Diễn giải
ASPT Avegera Score Per Taxon
BBI Belgian Biotic Index
BMWP Biological Monitoring Working Party
BOD Nhu cầu oxy sinh học
BUN Bùn nền đáy
CAT Cát nền đáy
CHCD Chất hữu cơ nền đáy
COD Nhu cầu oxy hóa học
Dxy
(D31)
Điểm x lần thu mẫu thứ y
(Điểm 3 lần thu mẫu thứ I)
DO Oxy hòa tan
ĐBSCL Đồng bằng sông Cửu Long
phát triển rất nhanh; nhiều khu công nghiệp, dân cư đã được hình thành ở nhiều tỉnh, thành
phố vùng ĐBSCL; việc mở rộng, nâng cấp đô thị cũng được tiến hành ở nhiều thành phố,
huyện thị. Sự phát triển trên đã thu hút lao động tập trung về các khu đô thị, công nghiệp
ngày càng nhiều và sinh ra nhiều vấn đề đe dọa đến chất lượng môi trường.
Thành phố Long Xuyên (TPLX) là trung tâm của tỉnh An Giang, có tổng dân số
hiện nay là 275.519 người, mật độ trung bình 2.387 người.km
-2
(Cục Thống kê Tỉnh An
Giang, 2008). Phần lớn người dân tham gia lao động trong các ngành như công nghiệp, tiểu
thủ công nghiệp, thương mại và dịch vụ. Mỹ Phước là một phường nằm ở trung tâm TPLX,
nơi có mật độ dân số 6.291 người.km
-2
, cao gần gấp 3 lần mật độ dân số trung bình của
thành phố (Phòng thống kê thành phố Long Xuyên, 2008). Mặc dù mức sống của người dân
trong phường này khá cao nhưng họ chưa thật sự quan tâm đến việc bảo vệ môi trường
quanh mình; các chất thải sinh hoạt hàng ngày thường thải trực tiếp xuống sông rạch, gây ô
nhiễm hữu cơ trầm trọng cho khu vực (UBND phường Mỹ Phước, 2008a; Sở Tài nguyên
và Môi trường tỉnh An Giang, 2008). Rạch Tầm Bót nhận nước thải trực tiếp từ các hộ sống
trong phường Mỹ Phước. Số liệu quan trắc môi trường nước hàng năm cho thấy một số các
chỉ tiêu lý, hóa ở Rạch này đã vượt TCVN 5942 - 1995 nhiều lần (Sở Tài nguyên và Môi
trường tỉnh An Giang, 2008).
Quan trắc các thông số lý hóa môi trường là phương pháp truyền thống đã được áp
dụng nhiều nơi trên thế giới để phát hiện ô nhiễm môi trường. Các số liệu này rất hữu ích
trong đánh giá ô nhiễm nhưng chỉ phản ánh tình trạng tức thời khi thu mẫu. Trong khi đó,
sự tồn tại hay biến mất của sinh vật trong môi trường là kết quả tương tác lâu dài giữa sinh
vật với môi trường sống. Nghiên cứu sự tồn tại hay biến mất của sinh vật đã được xem như
phương pháp sinh học để phản ảnh chất lượng môi trường (Hellawell, 1986). Theo Lê Văn
Khoa và ctv., (2007) sinh vật chỉ thị là những sinh vật có yêu cầu nhất định về điều kiện
sinh thái liên quan đến nhu cầu dinh dưỡng, hàm lượng oxy, cũng như khả năng chống chịu
một hàm lượng nhất định các yếu tố độc hại trong môi trường sống. Do đó, sự hiện diện của
¾ Nghiên cứu tính đa dạng, sự thay đổi thành phần loài, sinh khối của động vật
đáy khu vực nghiên cứu nhằm cung cấp các số liệu nền cho các nghiên cứu tiếp
theo.
¾ Tìm mối quan hệ giữa thành phần loài, sinh khối của ĐVĐ với một số yếu tố
môi trường nhằm làm cơ sở cho việc áp dụng sinh học vào trong đánh giá chất
lượng môi trường nước tại rạch Tầm Bót.
2. Nội dung nghiên cứu
¾ Khảo sát sự biến động một số yếu tố môi trường nước như pH, nhiệt độ, DO,
COD, TN, TP, TSS ở rạch Tầm Bót qua các mùa và tại các vị trí khảo sát.
¾ Khảo sát đặc tính nền đáy của rạch Tầm Bót như thành phần cơ học, chất hữu
cơ, TN, TP ở rạch Tầm Bót qua các mùa và tại các vị trí khảo sát.
¾ Khảo sát sự biến động thành phần loài và sinh lượng động vật đáy ở rạch Tầm
Bót qua các mùa và tại các vị trí khảo sát.
¾ Tìm mối quan hệ giữa cấu trúc ĐVĐ với một số yếu tố môi trường nước và nền
đáy.
2
II. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1. Đối tượng nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu ở rạch Tầm Bót nằm trong khu vực phường Mỹ Phước, thành
phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát một số đặc tính lý hóa nước và nền đáy ở rạch Tầm Bót. Khảo sát đặc tính
thành phần loài và sinh lượng động vật đáy ở rạch tầm bót và tìm mối quan hệ giữa thành
phần loài, sinh khối của ĐVĐ với một số yếu tố môi trường tại rạch này.
(Chi cục Thủy Lợi tỉnh An Giang, 2005). Rạch này tiếp nhận nước mưa chảy tràn, nước
thải sinh hoạt của các hộ dân sống hai bên bờ rạch. Mặc khác nó còn tiếp nhận nước thải
sinh hoạt từ các khu vực lân cận thải ra qua các rạch nhỏ thông với rạch Tầm Bót.
1.1.2. Đặc điểm khí hậu Phường Mỹ Phước (P. Mỹ Phước)
Rạch Tầm Bót nằm trong địa phận TPLX nên có đặc điểm khí hậu mang tính chất
đặc trưng của khí hậu nhiệt đới gió mùa với một nền nhiệt độ cao quanh năm và lượng mưa
tương đối phong phú.
Chế độ gió đặc trưng bởi tác động của các hệ thống hoàn lưu gió mùa nên rất ổn
định. Hướng gió chủ đạo thay đổi theo mùa; từ tháng 5 đến tháng 11 chủ yếu theo hướng
Tây Nam, Nam - Tây Nam; từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau chủ yếu theo hướng Đông
3
Bắc, Bắc - Đông Bắc. Tốc độ gió trung bình khoảng 3m/giây (Cục thống kê tỉnh An Giang,
2008).
Chế độ mưa trong khu vực phân bố theo hai mùa rõ rệt trong năm. Mùa mưa bắt đầu
từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa chiếm từ 90% - 95% tổng lượng mưa cả năm. Mùa khô
từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 5 - 10% tổng lượng mưa cả năm (Cục
thống kê tỉnh An Giang, 2008).
1.1.3. Đặc điểm dân cư và điều kiện kinh tế xã hội ở P. Mỹ Phước
Phường Mỹ Phước có tổng diện tích đất tự nhiên là 430 ha; trong đó 154 ha là đất
nông nghiệp, 137 ha đất thổ cư và phần còn lại là diện tích đất chuyên dụng và đất chưa sử
dụng. Tổng dân số của phường là 27.052 người (tất cả dân số đều sống ở thành thị), mật độ
dân số là 6.291 người.km
-2
, tập trung ở 10 khóm (Khóm Đông Thịnh 1, Đông Thịnh 2,
Đông Thịnh 3, Đông Thịnh 4, Đông Thịnh 5, Đông Thịnh 6, Mỹ Lộc, Đông Thịnh 7, Đông
Thịnh 8, Đông Thịnh 9).
Các hoạt động kinh tế xã hội trong Phường gồm:
¾ Nông nghiệp: có diện tích 154 ha, chủ yếu là trồng lúa 3 vụ/năm với năng suất
trung bình 6,604 tấn.ha
Hình 1: Thành phần chất bẩn trong nước thải sinh hoạt (Trần Đức Hạ, 2002)
Prati et al., (1971) và Jorgensen (1980) đã phân chia nguồn nước mặt theo 5 mức độ
ô nhiễm khác nhau, từ rất sạch đến ô nhiễm nặng dựa vào một số các thông số lý hóa đặc
trưng để đánh giá chất lượng nước (bảng 1).
Bảng 1: Phân loại nguồn nước mặt theo một số chỉ tiêu lý hóa
Thông số môi
trường nước
Rất sạch
1
Sạch
2
Ô nhiễm nhẹ
3
Ô nhiễm
4
Ô nhiễm nặng
5
DO (ppm) > 6,7 5,7 – 6,7 3,8 – 5,7 1,5 – 3,8 < 1,5
pH (ppm) 6,5 – 8,0 6,0 – 8,4 5,0 – 9,0 3,9 – 10,1 < 3,9 hay > 10,1
động vật nguyên sinh, cá, một số vi sinh vật và động vật đáy để chỉ thị cho một số đặc tính
khác nhau của môi trường nước. Mỗi nhóm sinh vật có đặc điểm sinh học khác nhau và có
thể chỉ thị một điều kiện môi trường khác nhau (Lê Văn Khoa và ctv., 2007).
Động vật đáy là nhóm sinh vật sống tương đối cố định tại đáy sông, hồ chịu ảnh
hưởng của sự thay đổi liên tục chất lượng nước và chế độ thủy văn trong ngày. Thời gian
phát triển khá dài, chúng có khả năng tích lũy kim loại nặng, hóa chất bảo vệ thực vật trong
cơ thể. Một số nhóm có khả năng chống chịu điều kiện môi trường ô nhiễm hữu cơ nặng.
Đây là nhóm sinh vật rất quan trọng dùng làm sinh vật chỉ thị cho chất lượng môi trường
nước, mà đặc biệt là các thủy vực nước chảy (Hellawell, 1986; Lê Văn Khoa và ctv., 2007)
1.4. Sử dụng động vật đáy (ĐVĐ) trong quan trắc sinh học
Động vật đáy là tập hợp những động vật không xương sống (ĐVKXS) thuỷ sinh,
sống trên bề mặt nền đáy hay trong tầng đáy của thủy vực. Ngoài các đối tượng trên, có
một số loài sống tự do trong tầng nước nhưng có thời gian khá dài sống bám vào giá thể
hay vùi mình trong tầng đáy thì vẫn được xếp trong nhóm động vật đáy (Linke et al., 1999).
Các ĐVKXS cỡ lớn ở đáy thuộc nhóm có những đặc điểm sau:
¾ Phân bố rộng và nhiều trong hệ thống sông, suối, hồ, ao;
¾ Di chuyển không quá nhanh, dễ thu mẫu;
¾ Có khóa phân loại ổn định, có tiêu chuẩn rõ ràng, dễ định loại;
¾ Sống tương đối cố định ở vùng đáy sông, chịu đựng được sự thay đổi chất lượng
nước liên tục;
¾ Có vòng đời dài nên việc thu mẫu không phải làm thường xuyên (Lê Văn Khoa
và ctv., 2007)
Việc sử dụng ĐVĐ để quan trắc và đánh giá mức độ ô nhiễm ở các thủy vực đã
được sử dụng ở nhiều quốc gia trên thế giới (Linke et al., 1999; Lê Văn Khoa và ctv.,
2007).
Trong phương pháp sinh thái, ĐVĐ là sinh vật chỉ thị được sử dụng khá phổ biến để
đánh giá chất lượng nước. ĐVĐ sống trong một khu vực không những chịu tác động của
các yếu tố lý hoá của nước mà chúng còn chịu tác động trực tiếp với chất đáy. Do đó, nền
đáy có vai trò khá quan trọng và cần quan tâm khi nghiên cứu sinh vật đáy. Sự thay đổi chất
nền có thể dẫn đến sự thay đổi thành phần loài và số lượng cá thể trong loài (Allan, 1995).
0,00 – 3,75 Rất sạch
3,76 – 4,25 Sạch
4,26 - 5,00 Khá sạch
5,01 - 5,75 Ô nhiễm nhẹ
5,76 - 6,50 Ô nhiễm trung bình
6,51 - 7,25 Khá ô nhiễm
7,26 – 10,00 Rất ô nhiễm
(Hilsenhoff, 1988)
¾ Hệ thống đánh giá theo phương pháp Rapid Bioassessment Protocols (RBP) III
(Plafkin et al., 1989) (bảng 4). Số điểm càng cao thì mức độ ô nhiễm càng
nhiều. Công thức tính chỉ số RBP III:
Trong đó
x
i
: sinh lượng cá thể của họ
t
i
: giá trị chịu đựng của họ
n: tổng số cá thể sinh vật trong mẫu (Plafkin et al., 1989).
7
Bảng 3: Chỉ số sinh học RBP III theo họ động vật đáy
Chỉ số sinh học RBP III Mức độ ô nhiễm hữu cơ
0,00 - 3,50 Không ô nhiễm
3,51 - 4,50 Có dấu hiệu ô nhiễm
4,51 - 5,50 Ô nhiễm nhẹ
5,51 - 6,50 Ô nhiễm trung bình
6,51 - 7,50 Khá ô nhiễm
7,51 - 8,50 Ô nhiễm nặng
8
Bảng 4: Mối liên quan giữa chỉ số sinh học (ASPT) và mức độ ô nhiễm
Chỉ số sinh học ASTP Mức độ ô nhiễm
0 Nước cực kỳ bẩn (không có ĐVKXS cở lớn)
1 – 2,9 Nước rất bẩn (Polysaprobe)
3 – 4,9
Nước bẩn vừa (α - Mesosaprobe) hay khá bẩn
5 – 5,9
Nước bẩn vừa (β- Mesosaprobe)
6 – 7,9 Nước bẩn ít (Oligosaprobe) hay tương đối sạch
8 – 10 Nước sạch
(Richard et al., 1997)
Các chỉ số sinh học trong đánh giá chất lượng môi trường đã được xây dựng ở các
nước phát triển ở Châu Âu. Để áp dụng nó vào các nước đang phát triển như vùng Châu Á
hay Đông Nam Á cần phải hiệu chỉnh cho phù hợp vì thành phần sinh vật không giống
nhau. De zwart và Trivedi (1994) đã chuyển đổi điểm số BMWP để sử dụng ở Ấn Độ bằng
cách loại ra một số họ không có ở Ấn Độ và thêm vào một số họ khác có ở Ấn Độ; Các tác
giả này đã phân phối điểm số như sau: Syrphidae (2 điểm), Blepharoceridae, Psephenidae,
Noteridae, Belostomatidae, Hebridae và Veliidae (5 điểm), Nereidae, Nephthyidae,
Palaemonidae, Atyidae, Thiaridae (6 điểm). Một vài điểm số đã được phân phối trong hệ
thống gốc cũng được thay thế để phản ứng các mức độ khác nhau về sự chống chịu của các
họ nhất định đã được tìm thấy tại các sông của Ấn Độ. Hai họ được xem là chống chịu tốt
hơn so với điểm số gốc đã được giảm xuống đó là Dugesidae từ 5 xuống 4 và Agriidae từ 8
xuống 6 điểm, trong khi đó hai họ được coi là ít chống chịu và điểm số của nó được tăng
lên, đó là Hydrobiidae (Bithyniidae) từ 3 lên 6 điểm và Platycnemididae từ 6 lên 8 điểm.
Mustow (1997) đã nghiên cứu quần xã ĐVKXS cỡ lớn ở 23 điểm thuộc hệ thống
sông Mae Ping, Thái Lan. Ngoài việc chấp nhận một số thay đổi như đề xuất của De zwart
and Trivedi, (1994), tác giả còn đưa ra một số thay đổi cho phù hợp với điều kiện ở Thái
Lan. Theo Mustow (1997), có những họ chỉ có ở Thái Lan mà không có ở bảng số gốc của
5
tăng, hàm
lượng DO giảm xuống, đồng thời thành phần loài và số lượng ĐVKXS cũng
giảm theo.
¾ Ở các thủy vực bẩn ít, hàm lượng DO cao, COD, BOD
5
ở mức độ thấp, thủy vực
ở trong tình trạng giàu dinh dưỡng vừa phải, tạo điều kiện cho ĐVKXS phát
triển tốt nhất, đặc biệt là sinh vật lượng.
¾ Ở các thủy vực đã bị nhiễm bẩn nặng, trong thành phần động vật nổi, trùng bánh
xe (Rotatoria) bao giờ cũng chiếm ưu thế so với giáp xác chân chèo (Copepoda)
và giáp xác râu ngành (Cladocera). Hai nhóm giáp xác này giảm sút nhiều ở
thủy vực bẩn vừa loại α và hầu như mất hẳn ở các thủy vực rất bẩn. Trong thành
phần động vật đáy, ấu trùng Chironomidae chiếm ưu thế so với Oligochaeta ở
thủy vực ít bẩn. Ở thủy vực bẩn vừa Oligochaeta và Chironomidae thay phiên
nhau giữ vai trò ưu thế. Nhưng ở thủy vực bẩn vừa loại α, Oligochaeta luôn
luôn chiếm ưu thế, còn ở thủy vực rất bẩn đã không còn gặp ấu trùng
Chironomidae và Mollusca.
Từ năm 1997 đến năm 1999, với sự tài trợ của Quỹ Darwin từ Chính phủ Anh, Hội
Nghiên cứu Thực địa (Field Studies Council) và Viện Sinh thái Nước ngọt (Institute of
Freshwater Ecology) Anh quốc đã phối hợp với Khoa Sinh học, Trường Đại học Khoa học
Tự Nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội thực hiện chương trình nghiên cứu “Bảo tồn đa dạng
sinh học thông qua việc sử dụng ĐVKXS cỡ lớn làm sinh vật chỉ thị quan trắc và đánh giá
chất lượng nước ở Việt Nam”.
Trong thời gian gần đây, trên cơ sở tham khảo các hệ thống cho điểm BMWP của
Anh, Thái Lan, nhóm nghiên cứu Anh - Việt (Quynh et al., 2000) đã đề xuất hệ thống điểm
BMWP của Việt Nam (phụ lục 23) phù hợp với đặc điểm khu hệ ĐVĐ và thực tế môi
trường của Việt Nam. Việc áp dụng hệ thống điểm này cũng đang được triển khai trong
việc đánh giá, giám sát chất lượng môi trường nước của một số thuỷ vực ở Việt Nam như:
sông Tô Lịch, sông Nhuệ, sông Gâm, sông Đà, suối Tam Đảo, trạm sinh thái Mê Linh, suối
sinh khối ĐVĐ đã phân chia đoạn kinh Cái Mây (Phú Tân, An Giang) thành 3 khu vực,
trong đó đoạn giữa của kinh Cái Mây là nơi thích hợp cho sự lưu trữ, bảo vệ các loài thủy
sản.
Đoàn Thanh Tâm (2008) cũng đã dựa vào phương pháp phân tích PCA và vẽ biểu
đồ nhóm dựa trên tính tương đồng của nhóm động vật đáy cho nghiên cứu về bảo tồn đa
dạng sinh học ven biển ở ấp Hai Thủ, xã Long Hòa, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh với
kết quả đạt được với mức độ tương đồng 40% của sinh khối động vật đáy thì vùng nghiên
cứu được chia làm 3 phân vùng sinh thái: vùng canh tác, vùng rừng ngập mặn nhỏ tuổi (<4
năm) và vùng rừng bần già (>4 năm) kể cả hai mùa mưa và khô.
2. PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Địa điểm và thời gian nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện từ 1/2008 đến 1/2009. Các chỉ tiêu lý, hóa học đất sau
khi thu thập được phân tích tại Phòng thí nghiệm Bộ môn Khoa học đất – Khoa Nông
nghiệp và Sinh học Ứng dụng - Đại học Cần Thơ. Các chỉ tiêu lý, hóa học nước được phân
tích tại Phòng thí nghiệm Khoa Nông nghiệp và Tài nguyên Thiên nhiên - Đại học An
Giang. Mẫu sinh vật đáy được định danh tại Phòng thí nghiệm Tài nguyên Sinh vật – Bộ
môn Khoa học Môi trường – Khoa Môi trường và Tài nguyên Thiên nhiên – Đại học Cần
Thơ.
11
2.2. Phương tiện và hoá chất
2.2.1. Phương tiện
¾ Gàu Ponar bằng Inox (USA), có kích thước miệng gàu 0,02 m
2
, khối lượng
14kg được sử dụng để thu động vật đáy.
¾ Sàng (rây) có đường kính miệng 30 cm, kích thước mắt lưới 0,5 mm được sử
Cr
2
O
7
;
FAS (Fe(NH
4
)
2
+ H
2
SO
4
); K
2
S
2
0
8
; H
3
BO
3
; Natri salicylate; C
4
H
4
KNaO
6
.4H
Rạch Tầm Bót nằm ở trung tâm phường Mỹ Phước. Đây là Rạch tự nhiên, có chiều
dài 3.500 m, rộng 10 – 12 m, cao trình đáy - 2 m (Chi cục Thủy Lợi Tỉnh An Giang, 2005).
Rạch này bắt đầu từ vị trí trao đổi nước với sông Hậu và kết thúc tại vị trí nối kết với rạch
Mương Khai. Nó tiếp nhận nguồn thải phân tán từ nước thải sinh hoạt của các hộ gia đình
sinh sống hai bên bờ rạch. Thêm vào đó, nó còn tiếp nhận nước thải từ các rạch nhánh dẫn
nước thải sinh hoạt của các khu vực dân cư lân cận. Dựa vào các đặc điểm trên, chín (09)
điểm được chọn để thu mẫu nước, nền đáy và sinh vật (hình 2, bảng 5). 12
Hình 2: Bản đồ các vị trí khảo sát trên hệ thống rạch Tầm Bót, phường Mỹ Phước
Bảng 5: Tọa độ các vị trí khảo sát trên hệ thống rạch Tầm Bót (UTM WGS84-48N)
Ký
hiệu
Tọa độ X (m) Tọa độ Y (m) Tên địa phương Đặc điểm
D1 439633.95 1147434.89 Tiếp giáp với
sông Hậu
Trao đổi nước trực tiếp với Sông
Hậu
D2 439365.91 1147041.98 Gần cầu Tầm
Bót trong
Tập trung rất nhiều hộ dân hai bên
bờ rạch và có một chợ nhóm nhỏ.
D3 439301.81 1146791.41 Tiếp giáp với
rạch nhánh
Rạch nhánh tiếp nhận chất thải
của khu vực chợ Bà Khen và cư
dân hai bên bờ.
D4 438808.17 1146665.71 Nhà 6 Tính Đoạn rạch mở rộng, uốn khúc, hai
(iii) đợt 3 thu vào tháng 10/2008 (cuối mùa mưa), và đợt 4 thu vào tháng 1/2009 (giữa mùa
khô).
2.3.3. Các yếu tố môi trường nước
Phương pháp thu, bảo quản và phân tích các chỉ tiêu chất lượng nước bao gồm nhiệt
độ, pH, DO, COD, TN, TP được tổng hợp trong bảng 6.
Bảng 6: Cách thu, bảo quản và phân tích mẫu nước
Chỉ
tiêu
Cách thu Cách bảo
quản
Cách phân
tích
Nguồn tham
khảo
Nhiệt
độ
Đo tại hiện trường Đo bằng máy
WTW OXI
330.
TCVN
4557 - 88
pH Đo tại hiện trường Đo bằng máy
InoLab pH
level 1.
TCVN
4559 - 88
DO Sử dụng chai nút mài 125ml để thu
mẫu, tráng chai bằng nước ở hiện
trường. Thu mẫu với độ sâu cách mặt
nước 20 - 30cm, cách bờ 1,5 – 2m. Thu
TN Sử dụng chai nhựa 1lít, tráng chai bằng
nước tại hiện trường. Thu mẫu với độ
sâu cách mặt nước 20 - 30cm, cách bờ
1,5 – 2m. Thu đầy chai, đậy kín nắp lại.
Bảo quản
trong
thùng mốp
chứa sẵn
nước đá
Phương pháp
công phá mẫu
persulfatXác
định bằng
phương pháp
Salicylate
APHA et al,
1992
TP Sử dụng chai nhựa 1lít, tráng chai bằng
nước tại hiện trường. Thu mẫu với độ
sâu cách mặt nước 20 - 30cm, cách bờ
1,5 – 2m. Thu đầy chai, đậy kín nắp lại.
Bảo quản
trong
thùng mốp
chứa sẵn
nước đá
Phương pháp
công phá mẫu
persulfatXác
định bằng
quản
(TCVN
6647:2000)
Cách phân tích Nguồn tham
khảo
Thành
phần cơ
học
Sử dụng gàu dạng Ponar nhỏ thu
sâu cách mặt nền đáy 17cm. Mẫu
được chứa trong bọc nylon.
Phơi nhiệt
độ phòng
Phương pháp
rây và sa lắng
TCVN
6862:2001
Chất
hữu cơ
Sử dụng gàu dạng Ponar nhỏ thu
sâu cách mặt nền đáy 17cm. Mẫu
được chứa trong bọc nylon.
Phơi nhiệt
độ phòng
Phương pháp
oxyhoá trong
môi trường
Sunfocromic.
TCVN
6644:2000
dán vào từng lọ.
Phương pháp phân tích mẫu
¾ Định tính (định loại): mẫu được rữa sạch formol và các vật chất hữu cơ,
nhặt ĐVĐ, sau đó được cố định trong formol 4%. Mẫu được quan sát
dưới kính hiển vi và kính lúp ở độ phóng đại thích hợp nhằm xác định
đặc điểm hình thái cấu tạo và đặc điểm phân loại, định danh tới loài (nếu
có thể) theo tài liệu phân loại của Nguyễn Xuân Quýnh, (2001); Đặng
Ngọc Thanh và ctv., (1980).
¾ Định lượng: số lượng và khối lượng động vật đáy được xác định cho
từng mẫu theo từng nhóm sinh vật. Mật độ hay khối lượng được tính
theo công thức:
N = 10 ΣX
i
và W = 10 ΣY
i
Gàu độ mở rộng của miệng gàu 0,02m
2
, mỗi địa điểm thu 5 gàu nên diện tích thực
đã lấy là 0,1 m
2
. Vậy để có giá trị mật độ ĐVĐ và sinh khối ĐVĐ là 1m
2
thì phải nhân với
hệ số 10.
Trong đó:
N: mật độ động vật đáy (cáthể.m
-2
)
W: sinh khối động vật đáy (g.m
−=
∑
3
1
Tính nhân tố hiệu chỉnh C, với
Tính Hc =H/C, tra bảng χ
2
(0.05, n-1) nếu Hc< χ
2
chấp nhận H
0
, nếu Hc>χ
2
thì loại
bỏ H
0
, tức là các nghiệm thức có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê ở mức tin cậy 95%.
Các yếu tố sinh vật
Chỉ số đa dạng của động vật đáy Shannon – Weiner (H’) được xác định theo công
thức:
H’ = - Σp
i
.lnp
i
; với p
i
= n
i
/N