ĐẶNG THỤY VI
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
NGÀNH: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH VỆ SINH
CỦA GIÀY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐẶNG THỤY VI
2006 – 2008
HÀ NỘI 2008
1
Hà Nội
2008
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ TÍNH VỆ SINH
CỦA GIÀY TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGÀNH: CÔNG NGHỆ VẬT LIỆU DỆT MAY
MÃ SỐ: 216 – C5
ĐẶNG THỤY VI
Người hướng dẫn khoa học: TS. BÙI VĂN HUẤN
HÀ NỘI 2008
2
LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất đến Tiến sĩ Bùi
Văn Huấn – người thầy hướng dẫn khoa học Luận văn thạc sỹ của mình, thầy đã
dành nhiều thời gian tâm huyết và nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá
trình thực hiện Luận văn.
Em xin gởi lời cảm ơn tới toàn thể thầy cô khoa Công nghệ Dệt may Thời trang
Mục lục
Danh mục các bảng
Danh mục cỏc hỡnh
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I. TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1. Thị trường giày dép Việt Nam 4
1.1.1. Đụi nét về ngành Da Giày Việt Nam 4
1.1.2. Các loại giày được sử dụng phổ biến ở Việt Nam 6
1.2. Tính vệ sinh và các phương pháp đánh giá tính vệ sinh của giày 8
1.2.1. Tính tiện nghi và tính vệ sinh của giày 8
1.2.2. Sự trao đổi nhiệt ẩm giữa bàn chân – giày – môi trường 10
1.2.3. Các yếu tố chính ảnh hưởng đến tính vệ sinh của giày 13
1.2.3.1. Thiết kế và công nghệ sản xuất 13
1.2.3.2. Các tính chất vật lý của vật liệu 15
1.2.3.3. Điều kiện sử dụng 18
1.2.4. Các phương pháp đánh giá tính vệ sinh của giày 19
1.2.4.1. Tớnh toán các tính chất vệ sinh vật lý của hệ vật liệu giày 20
1.2.4.2. Đánh giá tính vệ sinh của giày theo chỉ số tổ hợp vệ sinh 21
1.2.4.3. Đánh giá tính vệ sinh của giày theo sự trao đổi ẩm 24
1.3. Yêu cầu vệ sinh đối với giày dép sử dụng trong
điều kiện khí hậu Việt Nam 25
1.3.1. Đặc điểm khí hậu Việt Nam 25
1.3.2. Yêu cầu vệ sinh đối với giày dép 26
CHƯƠNG II. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục đớch nghiên cứu 29
2.2. Đối tượng nghiên cứu 29
2.3. Nội dung nghiên cứu 31
2.3.1. Khảo sát các loại hệ vật liệu giày tiêu biểu tại Tp.HCM 32
2.3.2. Lựa chọn hệ vật liệu tiêu biểu và hệ chuẩn 32
2.3.3. Nghiên cứu thực nghiệm các tính chất vật lý
3.2.3. “Tớnh trao đổi ẩm” của từng loại giày 82
KẾT LUẬN 89
Tài liệu tham khảo 91
Phụ lục
6
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Bảng khảo sát các loại hệ vật liệu mũ giày 36
Bảng 2.2 Bảng khảo sát công nghệ sản xuất giày 37
Bảng 2.3 Giá trị α
i
của các tính chất hệ vật liệu mũ giày 44
Bảng 2.4 Giá trị αi của các tính chất hệ vật liệu lót đế 45
Bảng 3.1. Khảo sát hệ vật liệu mũ giày 49
Bảng 3.2. Khảo sát hệ vật liệu lót đế 50
Bảng 3.3. Khảo sát công nghệ sản xuất giày 50
Bảng 3.4. Hệ vật liệu tiêu biểu và phương pháp liên kết 50
Bảng 3.5. Quy cách các loại vật liệu 51
Bảng 3.6. Các tính chất vật lý của các loại vật liệu 52
Bảng 3.7. Tính chất vật lý của các hệ vật liệu giày 55
Bảng 3.8. Tính toán tính chất vật lý của hệ vật liệu giày theo công thức 58
Bảng 3.9. So sánh kết quả tính toán (1) và kết quả thực nghiệm (2) 69
Bảng 3.10. “Chỉ số vệ sinh tổ hợp K – mựa khụ” của hệ vật liệu mũ giày 61
Bảng 3.11. Bảng “chỉ số vệ sinh tổ hợp K – mựa khụ” của hệ vật liệu lót đế 66
Bảng 3.13. Bảng “Chỉ số vệ sinh tổ hợp K – mùa mưa”
của hệ vật liệu mũ giày 68
Bảng 3.14. Bảng “chỉ số vệ sinh tổ hợp K – mùa mưa”
của hệ vật liệu lót đế 68
Bảng 3.15. Hệ vật liệu tiêu biểu của từng loại giày 69
Bảng 3.16. Dữ liệu cơ sở của phương phỏp“Tớnh sự trao đổi ẩm”của giày 70
Bảng 3.17. Tính toán sự trao đổi ẩm của từng loại giày 71
Hình 3.7. Đồ thị“K – mựa khụ” của hệ Da mặt – vải bạt 3 so với hệ chuẩn 62
Hình 3.8. Đồ thị“K – mựa khụ” của hệ Vải bạt 3–vải 402 so với hệ chuẩn 63
Hình 3.9. Đồ thị“K–mựa khụ” của hệ Si dày–EVA–vải Cosmo
so với hệ chuẩn 64
Hình 3.10. Đồ thị“K – mựa khụ” của hệ Si dày – si mỏng so với hệ chuẩn 65
Hình 3.11. Đồ thị“K–mựa khụ” của hệ Cactong – mút Latex – vải bạt 3 so với hệ
chuẩn 66
Hình 3.12. Đồ thị“K–mựa khụ” của hệ Cactong–EVA–vải Visatery
so với hệ chuẩn 67
Hình 3.13. Đồ thị“K – mựa khụ” của hệ Cactong–EVA–si mỏng
so với hệ chuẩn 67
Hình 3.14. Biểu đồ so sánh “K – mùa khô” của các loại vật liệu 74
Hình 3.15. Biểu đồ so sánh “K – mùa mưa” của các loại vật liệu 75
Hình 3.16. Biểu đồ so sánh “K – mùa khô” của các hệ vật liệu mũ giày 78
Hình 3.17. Biểu đồ so sánh “K – mùa khô” của các hệ vật liệu lót đế 79
Hình 3.18. Biểu đồ so sánh “K – mùa mưa” của các hệ vật 80
Hình 3.19. Biểu đồ so sánh “K – mùa mưa” của các hệ vật liệu lót đế 81
Hình 3.21. Tính vệ sinh của các loại giày với hệ vật liệu tiêu biểu 87
8
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Đề tài “Nghiên cứu và đánh giá tính vệ sinh của giày tại TP.HCM” với mục đích
lượng hóa tính vệ sinh của giày nhằm đánh giá và so sánh tình trạng vệ sinh của
những loại giày phổ biến được sản xuất và tiêu thụ tại TP.HCM, gồm có những nội
dung chính sau:
- Sau khi khảo sát cơ cấu các loại giày dép được sử dụng tại Tp. HCM theo hệ vật
liệu làm mũ giày, làm phần đế giày, phương pháp liên kết các lớp vật liệu trong
các hệ mũ giày và phần đế giày, phương pháp ráp phần mũ giày với phần đế giày
đã lựa chọn được các loại vật liệu và hệ vật liệu tiêu biểu để nghiên cứu. Xác
định được các hệ vật liệu chuẩn (đối chứng) để làm cơ sở đánh giá tính vệ sinh
của các hệ vật liệu khác.
- The study experiences the physical characteristics of the coefficients of shoes (the
laboratory conditions imitates the process of daily using shoes 8 hours
uninterrupted), whose data is used to measure the hygiene of shoes in the thesis.
The conformity of experimental data was tested with the theoretical formula of
Russian scientist – M.N.Ivanov.
- The calculation and visual demonstration of “Index of Synthetic Hygiene K” of
typical shoe materials provide the methods of quantitative measure of material
hygiene, and helps in the first stage of the shoe design process to choose the
proper material, a material coefficient in accordance with not only the purpose of
use but also shoe aesthetics (style, object of use).
- The calculation, estimation and comparison of hygiene of popular shoes produced
and consumed in Ho Chi Minh City is based on the analysis of an equilibrium
between moist ventilation process of foot, and the absorption, moist discharge,
and shoe hydrations.
- The discussion and application of solution will enhance the shoe hygiene and
provide the path of development for the next thesis.
10
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài:
Plutarch, nhà triết học Hy Lạp cổ đã phát biểu: “Một cái giường êm và một đôi
giày thoải mái, là những nhu cầu cần thiết nhất cho cuộc sống.”
Như vậy, thế nào là một đôi giày thoải mái?
Với một thực tế là đại đa số mọi người đều nghĩ rằng nếu một chiếc giày được
đóng vừa khít với kích cỡ bàn chân sẽ là một đôi giày thoải mái (tiện nghi). Điều
đó thật sự không đúng, ngay cả khi đó là một đôi giày hiệu với thiết kế bắt mắt,
chuẩn xác với bàn chân từng milimet, cùng với phần mũ giày mềm dẻo, phần lót
bên trong êm ái thì vẫn chưa đảm bảo đó là một đôi giày tiện nghi. Vậy đã thiếu sót
điều gì để có thể tạo nên một đôi giày thật sự tiện nghi?
Xét thấy rằng các điều kiện như môi trường làm việc ô nhiễm, khí hậu nóng
ẩm, nhiệt độ cao, bụi bẩn, vi khuẩn,… cùng với vùng không khí nóng và ẩm bên
nghi và an toàn cho sức khỏe khi sử dụng sản phẩm. Đề tài cung cấp cho người tiêu
dùng, các nhà sản xuất, những thông tin về tính vệ sinh của giày, từ đó giỳp cỏc nhà
sản xuất đưa ra những giải pháp tốt để nâng cao tính chất quan trọng này của giày,
giúp khách hàng có thể lựa chọn những loại giày có tính vệ sinh phù hợp với mục
đích và môi trường sử dụng.
Luận văn là bước khởi đầu cho những nghiên cứu tiếp theo để hoàn thiện
phương pháp đánh giá tính vệ sinh của giày, cũng như các nghiên cứu nhằm nâng
cao tính vệ sinh của giày.
12
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN
VỀ CÁC VẤN ĐỀ CẦN NGHIÊN CỨU
1.1. Thị trường giày dép Việt Nam
1.1.1. Đụi nét về ngành Da Giày Việt Nam
Ngành Da Giày Việt Nam đó cú một cú chuyển mình ngoạn mục để vươn lên vị
trí thứ 4 trên thế giới trong top 10 nước xuất khẩu da giày hàng đầu vào thị trường
25 nước EU, Mỹ (hai thị trường tiêu thụ giày dép lớn nhất thế giới). Ở khu vực
châu Á, nước ta đứng thứ ba trong số các nước xuất khẩu giày dép lớn nhất vào
Nhật Bản (sau Trung Quốc và Italia); và là một trong ba (chỉ sau ngành Dầu khí và
Dệt may) ngành hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với giá trị kim ngạch xuất
khẩu năm 2007 lên tới hơn 3,5 tỷ USD/năm.
Với dân số trên 80 triệu người, Việt Nam có một thị trường nội địa đầy tiềm
năng. Mặt khác, với đời sống người dân ngày càng được nâng cao, khả năng mua
sắm của xã hội ngày càng được cải thiện, đất nước ngày càng hội nhập sâu rộng
vào thế giới làm cho ngành du lịch phát triển, sẽ mở ra những cơ hội để ngành da
giày phát triển theo hướng xuất khẩu trực tiếp ngay trờn sõn nhà.
Theo thống kê, cả nước hiện có hơn 400 doanh nghiệp sản xuất giày dép, 80%
tập trung ở các khu vực phía Nam. Ngành da giày là ngành sử dụng nhiều lao động
xã hội, tớnh đến hết năm 2007, toàn ngành đã thu hút 600.000 lao động (chưa kể số
lao động sản xuất trong lĩnh vực nguyên phụ liệu và lao động tại các cơ sở nhỏ, các
Một thực tế khác là gần như toàn bộ các doanh nghiệp đều tập trung vào gia
công cho khách hàng nước ngoài nên phụ thuộc hoàn toàn vào mẫu mã, nguyên
liệu, kể cả tiến độ giao nguyên liệu của khách hàng, do đó, các doanh nghiệp này
gặp không ít khó khăn, thường bị ộp giỏ gia công. Thu nhập của công nhân ngành
giày vì thế ngày càng giảm. Nhiều lao động đã chuyển sang ngành khác, điều này
ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến thời gian giao hàng
đúng thời hạn.
Tuy có kim ngạch xuất khẩu cao nhưng vấn đề nguồn nguyên liệu hiện là một
bài toán khó đối với các nhà sản xuất da giày Việt Nam (80% nguyên vật liệu phải
nhập khẩu). Nhiều loại nguyên liệu và máy móc phải nhập từ nước ngoài do không
thể sản xuất trong nước và nếu có sản xuất được thì cũng không đáp ứng được yêu
cầu về chất lượng để xuất khẩu.
Trong thời gian tới, các doanh nghiệp cần chủ động nâng cao năng lực cạnh
14
tranh bằng việc đầu tư đổi mới công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực, xây dựng
thương hiệu, mở rộng thị trường xuất khẩu song song với đẩy mạnh tiêu thụ nội
địa. Nhà nước cần có chính sách ưu tiên, khuyến khích các DN có khả năng xây
dựng những nhà máy sản xuất nguyên phụ liệu để hạn chế bớt việc nhập khẩu từ
các nước khác, chủ động được đầu vào của sản xuất thì mới đứng vững trong thế
cạnh tranh như hiện nay và vững bước trên đường hội nhập.
1.1.2. Các loại giày được sử dụng phổ biến ở Việt Nam
Miền Bắc Việt Nam có 4 mùa rõ rệt (Xuõn-Hạ-Thu-Đụng), với mùa đông lạnh.
Tuy nhiên mọi người thường sử dụng các loại giày hè (giày thấp cổ, giày cổ lửng,
giày thuyền, giày thể thao, dép sandal, ) cả vào mùa đông mà chân không bị lạnh
(vì nhiệt độ vào mùa Đông thường cũng không dưới 10-15°C).
Miền Nam (từ đèo Hải Vân trở vào) nóng quanh năm và có hai mùa rõ rệt là
mùa khô và mùa mưa. Vào mùa khô, mọi người thường sử dụng các loại giày hè
phổ biến tương tự như ở Miền Bắc nhưng vào mùa mưa, hầu hết mọi đối tượng
theo giới tính và lứa tuổi đều sử dụng Sandal khi đi ra đường. Như vậy các loại
giày được sử dụng phổ biến ở nước ta bao gồm:
17
1.2. Tính vệ sinh và các phương pháp đánh giá tính vệ sinh của giày
1.2.1. Tính tiện nghi và tính vệ sinh của giày
Một trong những chỉ tiêu chất lượng quan trọng của giày dép đó là tính thoải mái
hay tính tiện nghi khi sử dụng. Tính tiện nghi được hiểu là khả năng của giày đảm
bảo các điều kiện để bàn chân và cả cơ thể người sử dụng hoạt động chức năng
bình thường với các điều kiện bên ngoài khác nhau trong toàn bộ quá trình sử dụng.
Tính tiện nghi của giày được phân chia thành 3 cấp độ [12]:
- Cấp thứ nhất: giày phải đảm bảo thỏa mãn các yêu cầu về nhân trắc học và tâm
sinh lý học. Cụ thể là đảm bảo sự tương thích giữa cấu trúc giày với hình dạng và
kích thức bàn chân (thường được gọi là phom giày) ở điều kiện tĩnh, các cảm nhận,
cảm giác thoải mái khi đi giày và tháo giày. Đây là điều kiện cần để lựa chọn khi
mua giày.
- Cấp thứ hai: bao gồm các yêu cầu về lực tác động của giày lên bàn chân, các tính
chất xác định vùng vi khí hậu bên trong giày, sự bảo vệ bàn chân khỏi tác động của
môi trường bên ngoài.
- Cấp thứ ba: giày phải đảm bảo tránh tác động cơ học cục bộ lờn cỏc vựng riêng
biệt của bàn chân, cũng như tạo điều kiện phòng ngừa và giữ sức khỏe cho chân.
Theo phân tích của các nhà khoa học trên thế giới [14], tính tiện nghi của giày
thể hiện cụ thể ở các tiêu chí sau:
− Cỡ giày phải phù hợp với cỡ bàn chân.
− Hình dạng giày tương thích hình dạng bàn chân.
− Giày phải có độ mềm uốn (mềm dẻo) cần thiết (mỗi ngày bàn chân bẻ uốn giày
khoảng 7000 lần, nên giày cần phải mềm dẻo).
− Thiết kế kiểu mẫu giày, trong đó có độ cao gót.
− Khối lượng giày.
− Vùng vi khí hậu bên trong giày phải đảm bảo sự trao đổi nhiệt ẩm bình thường
của bàn chân.
− Vật liệu làm mũ giày và phần đế giày.
− Phân bố áp lực dưới lòng bàn chân.
trường”.
1.2.2. Sự trao đổi nhiệt ẩm giữa bàn chân – giày – môi trường
Trong quá trình hoạt động sống của con người diễn ra việc thải liên tục hơi ẩm
qua da. Trong điều kiện thời tiết bình thường, da người tiết ẩm ở dạng hơi nước.
Khi ở môi trường có nhiệt độ cao (hơn 30°C) và độ ẩm không khí tương đối cao,
cũng như khi hoạt động cơ bắp nặng nhọc, diễn ra sự thoát mồ hôi ở dạng giọt từ
các tuyến mồ hôi của da. Quá trình thoát mồ hôi là phương tiện điều hoà thõn nhiệt
19
của cơ thể con người dưới sự điều khiển của hệ thần kinh trung ương nhằm duy trì
cõn bằng nhiệt cho cơ thể mà không làm tăng nhiệt độ của cơ quan nào đó.
Da người có khoảng 2,5 triệu tuyến mồ hôi. Các tuyến mồ hôi phõn bố không
đồng đều: ở bàn chõn, bàn tay có số lượng các tuyến mồ hôi lớn nhất. Trung bình
trên 1cm
2
bề mặt da toàn bộ cơ thể có 125 tuyến mồ hôi, thì trên 1cm
2
bề mặt da
bàn chõn có khoảng 250 tuyến mồ hôi, bề mặt lòng bàn chõn các tuyến mồ hôi
phõn bố dày đặc hơn trên mu bàn chõn. Lượng mồ hôi thoát ra nhiều ở các vùng da
không những có mật độ tuyến mồ hôi lớn mà còn do hoạt động (vận động) mạnh.
1.2.2.1. C á c t í nh chất trao đ ổi ẩm v à chống ẩm của gi à y
Khi mang giày, một phần hơi ẩm thoát ra từ chõn được đưa ra ngoài qua lỗ
thông hơi và khe hở của giày. Phần còn lại đầu tiên bị bít tất hấp phụ, sau đó khi có
sự tiếp xúc giữa lớp lót giày với bít tất ẩm hoặc qua các lớp không khí phân cách,
ẩm được truyền đến lớp lót giày. Tiếp theo ẩm sẽ được truyền vào các lớp vật liệu
bên trong của các chi tiết giày và sau đó có thể được đưa ra không khí bên ngoài.
Như vậy tính chất trao đổi ẩm (hay còn gọi là tính truyền ẩm) của giày là khả
năng mà hệ vật liệu giày ngấm (hút) hơi ẩm thoát ra từ bàn chõn và sau đó thải nó
ra bên ngoài giày. Tính chất trao đổi ẩm của giày được đặc trưng bởi độ hút ẩm, độ
nhả ẩm và độ thông hơi v.v. Do có sự chênh lệch nhiệt độ, hơi ẩm giữa bàn chân và
∗ Vùng thứ ba (qua pho mũi và pho hậu): Ở vùng này mồ hôi từ bít tất ẩm thấm
vào lót giày rồi mới đến pho mũi và pho hậu. Do tớnh khụng thẩm thấu của hệ vật
liệu mũ giày: lót – pho mũi hoặc pho hậu – chi tiết ngoài, nên ở phần này không có
độ thẩm thấu ẩm từ bàn chân ra môi trường bên ngoài.
∗ Vùng thứ tư ( qua phần má giày): Nhờ có sự tiếp xúc không chặt chẽ của má
giày với bàn chân nên quá trình nhả ẩm (từ lót ra phần má giày rồi được thải ra
ngoài) có thể diễn ra rất mạnh bằng phương thức đối lưu trong thời gian đi lại, chỉ
một phần ẩm được đưa ra ngoài quan đường thông hơi. Do vậy sự tích tụ ẩm ở
phần này có thể không lớn.
Như vậy ngoại trừ phần lắc giày (có diện tích khoảng 30% diện tích mũ giày),
phần má giày, còn trong tất cả các phần còn lại của giày không diễn ra quá trình
thoát mồ hôi khỏi giày nhờ độ thông hơi của hệ vật liệu. Quá trình thoát mồ hôi có
thể diễn ra bằng phương thức đối lưu qua các khe hở trong thời gian đi lại, hoặc
qua khả năng của giày thấm hút mồ hôi trong thời gian sử dụng và khả năng nhả
ẩm bằng cách sấy tự nhiên khi tháo giày khỏi chân.
Tính chống thấm nước từ môi trường bên ngoài vào giày
Đế giày là chi tiết bên ngoài thường tiếp xúc với nước trong quá trình sử dụng
21
giày, do vậy tính chống thấm nước từ môi trường bên ngoài vào giày được xác định
bởi tính chống thấm của chi tiết này. Ở cấu trúc giày thông thường sử dụng hàng
ngày đế giày chủ yếu được làm từ các loại vật liệu tổng hợp kỵ nước.
So với phần đế, phần mũ của đa số các loại giày tiếp xúc với nước ở mức độ
thấp hơn trong quá trình sử dụng. Do đặc điểm hình dạng của mũ giày, mà nó có
khả năng làm lăn nước khỏi bề mặt, và nhờ có lớp màng ngăn cách trên bề mặt vật
liệu mũ giày nên chỉ có một lượng nước nhỏ ngấm được vào giày.
Nước ngấm được vào giày có thể theo 2 cách: Ngấm qua vật liệu làm các chi
tiết giày hoặc qua các khe hở giữa các chi tiết và các lỗ thủng do đường may ở các
mối ráp nối chi tiết tạo nên. Vận tốc ngấm nước qua vật liệu mũ giày phụ thuộc vào
tính chất của vật liệu, trong đó đối với da – phụ thuộc vào độ thấm ướt và độ dày,
vào kích thước và số lượng mao mạch, độ trương nở của các xơ da.
chọn các chế độ công nghệ sản xuất.
Giày có hai chức năng cơ bản:
- Chức năng bảo vệ: Vốn là bản chất tự nhiên của giày dép nhằm bảo vệ đôi bàn
chõn tránh khỏi những tiếp xúc trực tiếp không có lợi từ môi trường. Do đó khi
thiết kế về kiểu dáng của giày phải luôn gắn liền với những hoạt động của con
người trong những điều kiện khí hậu và môi trường khác nhau nhằm bảo vệ và đem
lại cho đôi bàn chõn sự thoải mái cần thiết phù hợp với môi trường và mục đớch sử
dụng.
- Chức năng thẩm mỹ: Là một trong những chức năng quan trọng bậc nhất của
nghệ thuật thực nghiệm. Nú đóng vai trò làm đẹp nhằm tôn lên nét đẹp vốn có hoặc
che đi những khuyết điểm của đôi bàn chõn.
Những sản phẩm thiết kế được thừa nhận là đẹp phải là những sản phẩm tuõn
thủ các nguyên lý thiết kế, những sản phẩm đó phải vừa mang tính công năng vừa
mang tính thẩm mỹ.
Ý tưởng để thiết kế kiểu dáng giày trước hết phải dựa vào mục đớch sử dụng và
đối tượng sử dụng. Với những ý tưởng sáng tạo của mình, các nhà thiết kế có thể
tạo ra rất nhiều mẫu mã và kiểu dáng giày khác nhau. Tuy nhiên những ý tưởng này
phải luôn đi kèm với mục đớch sử dụng (chơi thể thao, dạo phố,…) và đối tượng sử
dụng (lứa tuổi, giới tính, ) để nhằm đảm bảo sự thoải mái khi đi giày.
Phom giày là một khối đặc mô phỏng hình dạng, kiểu dáng bàn chõn người.
Hình dạng và kích thước phom giày, cỏc tớnh cơ học của hệ vật liệu mũ giày, công
nghệ ráp đế sẽ quyết định đến việc giày có phù hợp với hình dạng và kích thước
bàn chân, làm giảm đến mức thấp nhất sự tác động của giày lên bàn chân trong quá
trình bàn chân vận động.
Việc lấy áo phom giày (hình trải trung bình bề mặt phom) phục vụ cho công tác
thiết kế, làm mẫu rập, đòi hỏi phải chính xác nhằm đảm bảo cho giày vừa chân, nếu
không giày sẽ tác động làm biến dạng bàn chân gây khó chịu, hoặc gây khuyết tật
23
cho bàn chân.
Đặc điểm công nghệ sản xuất đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc hình
thành nên các tính chất vệ sinh – vật lý tổng hợp của hệ vật liệu làm giày, điều này
24
sẽ quyết định đến khả năng trao đổi nhiệt, ẩm giữa bàn chân và môi trường bên
ngoài, ảnh hưởng trực tiếp đến tính vệ sinh của giày. Như vậy, để nghiên cứu tính
vệ sinh của giày, nhất thiết phải nghiên cứu kỹ những tính chất vật lý của các vật
liệu tạo nên các hệ vật liệu giày.
Hình 1.2 Sơ đồ cấu trúc các tính chất của vật liệu có ảnh hưởng đến
tính tiện nghi của giày
Độ thẩm thấu
Khả năng của vật liệu cho hơi nước, không khí, các chất khí, các chất lỏng đi
qua được gọi là độ thẩm thấu. Ngược lại với tính thẩm thấu là tính chống thấm.
∗ Độ thẩm thấu không khí:
Độ thẩm thấu không khí của vật liệu đặc gần bằng không, còn của các vật liệu
xốp thì nằm trong những khoảng giới hạn rộng.
Độ thẩm thấu không khí phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là phụ thuộc vào
cấu trúc (độ xốp, mật độ đan xen các sợi ngang dọc, số lượng các lỗ thông suốt).
Khi tăng số lượng các lỗ thông suốt và kích thước của chúng thì độ thẩm thấu
không khí tăng lên. Độ thẩm thấu không khí còn phụ thuộc vào độ ẩm của vật liệu,
khi độ ẩm tăng thì độ thẩm thấu không khí giảm.
25
CÁC TÍNH CHẤT CỦA VẬT LIỆU ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH TIỆN NGHI CỦA GIÀY
CÁC TÍNH CHẤT
SINH THÁI
CÁC TÍNH CHẤT
VỆ SINH – VẬT LÝ
Tính
hấp thụ,
hấp phụ
Tính
thẩm
Thông hơi
Thông nước
Thông khí
Nhiệt trở
Nhiệt dung
Dẫn nhiệt
Truyền nhiệt
…
…