KHẢ NĂNG ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀO GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM - Pdf 27

3 Chương 1
MỤC LỤC
Mục lục
Danh mục các bảng biểu và hình vẽ

MỞ ĐẦU 1
Chương 1 – NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 3
1.1. Thò trường tài chính 3
1.1.1. Khái niệm – vai trò 3
1.1.2. Cấu trúc 5
1.1.3. Chủ thể tham gia 5
1.1.4. Hàng hóa giao dòch trên thò trường tài chính (công cụ tài chính) 6
1.2. Thò trường chứng khoán 7
1.2.1. Khái niệm – vai trò 7
1.2.2. Cấu trúc cơ bản 7
1.2.3. Chủ thể tham gia 8
1.2.4. Hàng hóa giao dòch 10
1.3. Quyền chọn 11
1.3.1. Khái niệm – thuật ngữ liên quan 11
1.3.2. Phân loại 14
1.3.3. Vai trò 15
1.3.4. Lòch sử của thò trường giao dòch quyền chọn 17
1.4. Quyền chọn chứng khoán 18
1.4.1. Khái niệm – vai trò 18
1.4.2. Giao dòch quyền chọn 18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 22

Chương 2 – KHẢ NĂNG ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀO
GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 23
2.1. Khái quát về thò trường chứng khoán Việt Nam 23
2.1.1. Lòch sử hình thành và phát triển 23

3.2.2. Nâng cao trình độ quản lý và hiểu biết chuyên môn về chứng khoán và
thò trường chứng khoán của các thành phần tham gia thò trường 45
3.2.3. Mở rộng hoạt động của các quỹ đầu tư trên thò trường tài chính 47
3.2.4. Chính phủ cần có một cái nhìn khác về các nhà đầu cơ trên thò trường
chứng khoán 49
3.3. Hoàn thiện khung pháp lý 49
3.4. Hoàn thiện cơ sở vật chất và kỹ thuật 50
3.5. Các giải pháp khác 50
3.5.1. Tăng cường công tác nghiên cứu phát triển thò trường 50
3.5.1. Tăng cường hợp tác quốc tế 51
5 Chương 1
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 52

KẾT LUẬN ĐỀ TÀI 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1 i
PHỤ LỤC 2 iv
PHỤ LỤC 3 xiii

khi ít người tham gia chỉ vì quá ít hàng hóa để giao dòch. Thò trường chứng khoán
Việt Nam đang ở trong giai đoạn này. Làm sao để sôi động hóa thò trường chứng
khoán Việt Nam thông qua việc bơm thêm hàng vào lưu thông? Đây là lý do khiến
tác giả chọn Đề tài “Quyền chọn chứng khoán và một số giải pháp làm tăng khả
năng áp dụng công cụ này vào thò trường chứng khoán Việt Nam” để nghiên cứu.
Đề tài được kết cấu thành 3 chương với tên gọi và nội dung cơ bản như sau:
Chương 1 – NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN: giới thiệu khái niệm quyền
chọn chứng khoán trên cơ sở đònh nghóa các thuật ngữ tài chính liên quan.
Chương 2 – KHẢ NĂNG ÁP DỤNG QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN
VÀO GIAO DỊCH TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM: nêu sự
7 Chương 1
cần thiết áp dụng quyền chọn chứng khoán vào thò trường chứng khoán Việt Nam,
đồng thời đánh giá khả năng áp dụng vào thực tiễn thông qua phân tích những
thuận lợi và khó khăn.
Chương 3 – MỘT SỐ GIẢI PHÁP LÀM TĂNG KHẢ NĂNG ÁP DỤNG
QUYỀN CHỌN CHỨNG KHOÁN VÀO THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
NAM: đề xuất một số giải pháp để sớm đưa loại công cụ tài chính này vào giao
dòch trên thò trường chứng khoán Việt Nam vì khả năng áp dụng và những ích lợi
của nó đối với nền kinh tế.
Với mong muốn đóng góp phần nhỏ bé vào sự nghiệp phát triển nền kinh tế
đất nước nói chung và sự phát triển của ngành chứng khoán nói riêng, tác giả hy
vọng Đề tài không chỉ giúp những người đầu tư trên thò trường chứng khoán có quan
tâm nhưng chưa có ý niệm gì về công cụ tài chính mới – quyền chọn chứng khoán –
thêm hiểu biết cơ bản, mà còn gợi ý các giải pháp cho các cấp quản lý trong quá
trình hoàn thiện hệ thống tài chính nước nhà.
THỊ TRƯỜNG
SẢN PHẨM
Luồng hàng hóa dòch vụ Luồng hàng hóa dòch vụ
Luồng tiền thanh toán Luồng tiền thanh toán
Luồng tiền thanh toán Luồng tiền thanh toán
Luồng tiền thanh toán Luồng tiền thanh toán
Dòch vụ phục vụ sản xuấ
t
Dòch vụ phục vụ sản xuất
Tài sản tài chính Tài sản tài chính
Hình 1. Quan hệ giữa các lọai thò trường trong nền kinh tế thò trường

Tài chính là kinh tế học của sự sắp xếp các nguồn lực xuyên thời gian. Đònh
nghóa này, dó nhiên, không thể chuyển tải hết ý nghóa của nó, mà hãy bằng cách
xem qua ví dụ sau để hiểu rõ thêm. Giả sử trên thò trường đang có bán một loại đầu
DVD đời mới, có tính năng đọc lẫn ghi. Hứng thú với sản phẩm trên và nếu có đủ
tiền, bạn sẽ không ngần ngại “tậu” cho mình một cái vì nó sẽ làm tăng sự thỏa mãn
9 Chương 1
của bạn. Nhưng nếu không đủ tiền, bạn vẫn có thể đáp ứng được nhu cầu đó bằng
cách vay mượn bạn bè hoặc tìm đến các tổ chức tín dụng (chẳng hạn như ngân
hàng). Dó nhiên, bạn phải chứng minh cho các đối tượng này thấy khả năng hoàn
vốn, thậm chí cả lãi của mình. Điều này đồng nghóa với việc bạn sẽ phải đánh đổi
một số nguồn tài nguyên trong tương lai của mình để đổi lấy những tài sản bạn cần
trang bò trong hiện tại và làm tăng sự thỏa mãn của mình. Các doanh nghiệp và
ngay cả Chính phủ cũng làm tương tự như thế khi cần nguồn tài trợ cho chi tiêu hiện
tại.
Tài sản tài chính (financial assets) là một dạng điển hình của tài sản vô hình,
giá trò của nó không liên quan gì đến hình thức vật lý của nó, mà dựa vào trái
quyền hợp pháp trên một lợi ích tương lai nào đó. Các ví dụ về tài sản tài chính bao
gồm: Tín phiếu kho bạc (treasury bills); Trái phiếu công ty (debentures); Trái phiếu

loại tài sản tài chính mới phát hành) và thò trường thứ cấp (giao dòch các loại
tài sản tài chính đã phát hành).
− Thò trường tài chính gồm thò trường có tổ chức (giao dòch tập trung ở sở giao
dòch) và thò trường không có tổ chức (giao dòch ngoài sở giao dòch – over the
counter OTC). 11 Chương 1
1.1.3. Chủ thể tham gia
Thành phần tham gia mua bán trên thò trường tài chính bao gồm cá nhân, hộ
gia đình, doanh nghiệp, chính phủ và quan trọng hơn hết là các tổ chức tài chính –
người đóng vai trò trung gian giúp giải quyết những vấn đề do sự không hoàn hảo
của thò trường gây ra. Cụ thể, các tổ chức tài chính thu thập thông tin từ người mua
và người bán để làm cho nhu cầu mua và bán gặp nhau. Nhìn chung, tổ chức tài
chính có thể được phân thành 2 loại:
− Tổ chức nhận ký thác (Depository institutions): nhận ký thác từ những đơn vò
thặng dư vốn và cung cấp tín dụng cho những đơn vò thiếu hụt vốn hoặc đầu
tư bằng cách mua chứng khoán. Nó có thể là ngân hàng thương mại, tổ chức
tiết kiệm hoặc hiệp hội tín dụng.
− Tổ chức không nhận ký thác (Non-Depository institutions): không huy động
vốn bằng hình thức ký thác mà bằng những hình thức khác như phát hành tín
phiếu, trái phiếu, cổ phiếu. Nó có thể là công ty tài chính, công ty chứng
khoán, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư hỗ tương, quỹ hưu bổng.
1.1.4. Hàng hóa giao dòch trên thò trường tài chính (công cụ tài chính):
Công cụ tài chính chủ yếu bao gồm các loại hàng hóa giao dòch trên thò
trường tiền tệ và thò trường vốn, cụ thể:
− Trên thò trường tiền tệ có: tín phiếu kho bạc (treasury bills), chứng chỉ tiền
gửi (certificate of deposit), tín phiếu công ty (commercial paper), thuận nhận
của ngân hàng (bank’s acceptance), thỏa thuận mua lại (repurchase
agreement-repo),…

− Thu hút vốn đầu tư nước ngoài
1.2.2. Cấu trúc cơ bản
1.2.2.1. Thị trường sơ cấp (primary market)
Đây là nơi các chứng khốn được phát hành và phân phối lần đầu tiên cho các
nhà đầu tư. Ở thị trường sơ cấp, các chứng khốn vốn và chứng khốn nợ (sẽ được
định nghĩa ở phần sau) được mua bán theo mệnh giá của nhà phát hành. Việc xây dựng
một thị trường sơ cấp hoạt động hiệu quả với lượng hàng hóa đa dạng, hấp dẫn cơng
chúng có ý nghĩa quyết định cho việc hình thành và phát triển thị trường thứ cấp.
Sức hấp dẫn của việc phát hành tùy thuộc khẩu vị của nhà đầu tư. Tuy nhiên,
việc phát hành chứng khốn ra cơng chúng phải đảm bảo một số điều kiện cơ bản như
quy mơ về vốn, hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh, mục đích phát hành, năng lực
chun mơn, điều hành của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc cơng ty, tỷ lệ nắm giữ
và thời gian nắm giữ cổ phiếu của cổ đơng sáng lập (đối với phát hành cổ phiếu).
1.2.2.2. Thị trường thứ cấp (secondary market)
Đây là nơi mua đi bán lại các chứng khốn đã được phát hành ở thị trường sơ
cấp. Trên thị trường thứ cấp, hoạt động mua bán khơng làm tăng quy mơ đầu tư vốn,
nhưng nó sẽ thúc đẩy thị trường sơ cấp phát triển thơng qua hoạt động nhộn nhịp của
mình, ngược lại, có thể thu hẹp thị trường sơ cấp vì nhà đầu tư rất quan tâm đến tính
thanh khoản của các chứng khốn do mình sở hữu. Giá cả hàng hóa trên thị trường thứ
cấp được xác định phụ thuộc vào các yếu tố như quan hệ cung cầu trên thị trường, giá
trị thực tế của doanh nghiệp, uy tín của doanh nghiệp, xu thế phát triển của doanh
14 Chương 1
nghiệp, tâm lý người mua bán chứng khốn ở những thời điểm nhất định, các thơng tin,
tin đồn về hoạt động doanh nghiệp, tình hình ổn định của nền kinh tế.
1.2.3. Chủ thể tham gia
Trong hoạt động của thị trường chứng khốn có nhiều loại chủ thể khác nhau
tham gia, hoặc là bán, hoặc là mua, hoặc chỉ làm trung gian mơi giới cho hai bên mua
bán để hưởng hoa hồng. Bên cạnh đó, còn có các chủ thể là Nhà nước, người tổ chức
thị trường và các tổ chức phụ trợ.
1.2.3.1. Các bên mua bán

còn đóng vai trò là người mua bán chứng khoán của các doanh nghiệp trong
trường hợp Nhà nước muốn nắm tỷ lệ cổ phần chi phối hoặc ngược lại.
1.2.3.5. Các tổ chức phụ trợ
Các tổ chức phụ trợ bao gồm trung tâm lưu ký – đăng ký – thanh toán bù trừ,
trung tâm tin học,… Đây là các tổ chức phục vụ quá trình giao dòch chứng khoán
được nhanh chóng, chính xác và khoa học.

16 Chương 1
1.2.4. Hàng hóa giao dòch
1.2.4.1. Chứng khoán vốn
Bao gồm các loại cổ phiếu: phổ thông lẫn ưu đãi. Đây là một chứng minh thư
chứng minh quyền sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần, chứng
nhận việc đầu tư vốn của một chủ thể vào một công ty cổ phần.
1.2.4.2. Chứng khoán nợ
Bao gồm các loại trái phiếu: của Chính phủ, chính quyền đòa phương, của các
công ty. Đây là một chứng khoán hứa nợ dài hạn của chủ thể phát hành phiếu cho
người sở hữu trái phiếu (trái chủ).
1.2.4.3. Chứng khoán phái sinh
Đây là các chứng chỉ có nguồn gốc chứng khoán:
− Chứng chỉ quỹ đầu tư: do công ty tín thác đầu tư hoặc các quỹ hỗ tương phát
hành để xác nhận quyền lợi của khách hàng là những nhà đầu tư cá nhân
trong các quỹ đầu tư nhất đònh.
− Chứng quyền (rights): giấy xác nhận quyền được mua cổ phiếu mới phát
hành tại mức giá bán ra của công ty, thường được phát hành cho các cổ đông
hiện hữu.
− Chứng khế (warrants): các giấy tờ được phát hành kèm theo các trái phiếu,
trong đó xác nhận quyền được mua cổ phiếu theo những điều kiện nhất đònh.

một mức giá xác đònh theo ý của người mua.
− Người mua quyền chọn bán: Người trả một khoản phí nào đó cho một hợp
đồng quyền chọn để nhận được quyền bán một tài sản cơ sở trong một
khoảng thời gian xác đònh ở một mức giá xác đònh.
− Người bán quyền chọn bán: Người nhận một khoản phí nào đó và phải thực
hiện nghóa vụ mua một tài sản cơ sở trong một khoảng thời gian xác đònh ở
một mức giá xác đònh theo ý của người mua.
Như vậy, quyền chọn trao cho người giữ nó một quyền để thực hiện. Người
nắm giữ không nhất thiết phải thực hiện quyền này, nó thể hiện một ý đònh nhiều
hơn là một quyền sở hữu. Điều này phân biệt hợp đồng quyền chọn với hợp đồng
giao sau. Người nắm giữ hợp đồng giao sau được quyền mua tài sản với giá nhất
đònh vào một thời điểm xác đònh trong tương lai. Ngược lại, người mua quyền chọn
có quyền lựa chọn thực hiện hợp đồng, để cho hợp đồng hết hạn, hoặc bán hợp
đồng cho người đầu tư khác trong thời hạn của hợp đồng. Người ta không phải tốn
chi phí (ngoại trừ tiền ký quỹ theo yêu cầu) khi tham gia giao dòch. Nhưng ngược
lại, trên thò trường quyền chọn, nhà đầu tư phải trả trước một khoản phí, coi như là
giá của quyền chọn. Giá trò của quyền chọn gồm hai thành phần:
- Giá trò nội tại (Intrinsic Value): là số tiền chênh lệch giữa tỷ giá thực
hiện và tỷ giá giao ngay (giá thò trường) khi mà quyền chọn ở trạng thái
cao giá – ITM.
Giá trò nội tại = Tỷ giá giao ngay (S) – Tỷ giá thực hiện (X)
- Giá trò theo thời gian (Time Value): là phần còn lại của giá trò sau khi trừ
đi giá trò nội tại. Giá trò theo thời gian phụ thuộc vào thời gian hiệu lực
của quyền chọn, tính bất ổn của tỷ giá và chênh lệch giữa lãi suất trong
nước và lãi suất nước ngoài.
Bảng 1.1. Giá trò của quyền chọn (phí quyền chọn)


1.3.2.1. Theo tài sản cơ sở:
Có hai loại: quyền chọn chứng khoán (equity option) và quyền chọn tài sản
phái sinh (nonequity option). Quyền chọn chứng khoán là quyền chọn đối với tài
sản cơ sở là cổ phiếu phổ thông. Quyền chọn tài sản phái sinh là quyền chọn đối
với tài sản cơ sở không phải là cổ phiếu phổ thông, có thể là các chỉ số, trái phiếu
và ngoại tệ. Phần tiếp theo sẽ trình bày rõ hơn về quyền chọn chứng khoán.
1.3.2.2. Theo quyền của người mua: Có hai loại
− Quyền chọn mua (call option) là quyền được mua một tài sản cơ sở trong một
khoảng thời gian ở một mức giá xác đònh. Quyền chọn mua được gọi là:
+ Cao giá ITM (In the money) - hợp đồng sinh lợi: giá giao ngay > giá
thực hiện.
+ Ngang giá ATM (At the money) - hợp đồng hòa vốn: giá giao ngay =
giá thực hiện.
+ Giảm giá OTM (Out of the money) - hợp đồng lỗ vốn: giá giao ngay <
giá thực hiện.
20 Chương 1
− Quyền chọn bán (put option) là quyền được bán một tài sản cơ sở trong một
khoảng thời gian ở một mức giá xác đònh. Quyền chọn bán được gọi là:
+ Cao giá ITM (In the money) nghóa là hợp đồng sinh lợi nếu tỷ giá giao
ngay < tỷ giá thực hiện.
+ Ngang giá ATM (At the money) nghóa là hợp đồng hòa vốn nếu tỷ giá
giao ngay = tỷ giá thực hiện.
+ Giảm giá OTM (Out of the money) nghóa là hợp đồng lỗ vốn nếu tỷ
giá giao ngay > tỷ giá thực hiện.
1.3.2.3. Theo thời điểm thực hiện quyền: Có hai loại
− Quyền chọn kiểu Mỹ (American Style Options) cho phép người nắm giữ thực
hiện vào bất kỳ lúc nào cho đến trước ngày hết hiệu lực. Tuy nhiên, ngày
thanh toán thường được quy đònh là ngày trả phí hoặc một ngày cụ thể nào
đó. Phần lớn hợp đồng quyền chọn kiểu Mỹ lại cho phép thực hiện trong giai
đoạn ngắn hơn, thí dụ 2 tuần, 1 tháng trước ngày hết hiệu lực…

Ví dụ về sử dụng quyền chọn để phòng tránh rủi ro: một nhà xuất khẩu cà phê
dự đoán sản lượng cà phê thu hoạch được trong 3 tháng tới sẽ rất thấp, do đó
khả năng giá thu mua cà phê trong nước sẽ tăng. Để tránh khả năng giá tăng
cao ngoài dự tính của mình, nhà xuất khẩu sẽ tìm mua một hợp đồng quyền
chọn mua cà phê (với số lượng Q) có thời hạn 3 tháng với mức giá thực hiện X
mà người đó chấp nhận được và trả một khoản phí p
c
để mua quyền chọn đó.
Nếu sau 3 tháng, giá cà phê tăng lên như người đó dự đoán đến S (>X+ p
c
) thì
anh ta sẽ thực hiện hợp đồng và sau đó bán lại cà phê trên thò trường để thu
về khoản lợi nhuận [S-(X+ p
c
)]*Q. Còn nếu như trên thực tế, giá cà phê tăng
không như người đó dự kiến thì anh ta sẽ không thực hiện hợp đồng, chấp
nhận mất khoản phí và mua cà phê theo giá thò trường.

Ví dụ về sử dụng quyền chọn chấp nhận rủi ro để kiếm lợi nhuận: một nhà
đầu tư chứng khoán dựa theo những dấu hiệu trên thò trường để phân tích tình
hình biến động giá cổ phiếu một công ty và dự đoán trong vòng 3 tháng tới,
giá cổ phiếu công ty này giảm mạnh. Người này tìm kiếm lợi nhuận từ sự suy
đoán này bằng cách mua một hợp đồng quyền chọn bán một số lượng Q cổ
phiếu công ty mặc dù hiện tại anh ta chưa có hoặc có ít hơn Q cổ phiếu công
ty này. 3 tháng tới, nếu giá cổ phiếu biến động đúng như suy đoán, nhà đầu tư
sẽ mua cổ phiếu trên thò trường với giárất thấp và sau đó thực hiện hợp đồng
quyền chọn bán lại số lượng cổ phiếu trên với giá cao hơn để có một khoản
lợi nhuận. Người này có thể không thực hiện hợp đồng, chòu mất phí nếu biến
động giá trên thò trường không như anh ta suy đoán.
Bảng 1.3. Ví dụ minh họa vai trò quản lý rủi ro giá cả của quyền chọn

23 Chương 1
bảo hộ bằng cách sử dụng một số công cụ) với một bên là khách hàng của ngân
hàng (nhà quản lý quỹ đầu tư, người chòu trách nhiệm về vốn và ngoại hối của các
tập đoàn lớn). Sự cạnh tranh giữa thò trường phi tập trung (OTC) và thò trường giao
dòch
quyền chọn tập trung đã diễn ra trong một thời gian dài. Điểm mạnh của thò
trường giao dòch tập trung là tính minh bạch - có nghóa là giá cả của hợp đồng giao
dòch cuối cùng sẽ được công bố và tính thanh khoản sẽ được thể hiện là hợp đồng
này có thể được mua bán lại cho đối tác khác. Điều này thật không dễ dàng cho thò
trường OTC, nhưng thò trường OTC cũng có điểm mạnh của nó đó là tính linh hoạt,
đáp ứng được nhu cầu của người giao dòch, đặc biệt là kỳ hạn có thể là trung hạn.
Các loại quyền chọn được giao dòch phổ biến hiện nay là quyền chọn ngoại
tệ, quyền chọn chứng khoán, quyền chọn chỉ số chứng khoán. Phần tiếp theo xin
được trình bày rõ hơn về quyền chọn chứng khoán.
1.4. Quyền chọn chứng khoán
1.4.1. Khái niệm – vai trò:
Đã được giới thiệu ở mục 1.3.2.1 và 1.3.3. Tuy nhiên, do đặc thù sản phẩm,
quyền chọn chứng khoán không chỉ tạo sự sôi động cho thò trường tài chính nói
chung mà còn tác động cụ thể đến thò trường chứng khoán nói riêng.
1.4.2. Giao dòch quyền chọn:
1.4.2.1. Thành phần tham gia:
− Những nhà tạo lập thò trường (market makers): người tạo thò trường cho một
hợp đồng quyền chọn sẽ nêu giá cả hỏi mua (the bid) và giá chào bán (the
ask). Sự tồn tại của người tạo lập thò trường đảm bảo lệnh mua và lệnh bán
luôn được thực hiện ở một vài mức giá mà không có bất cứ sự chậm trễ nào.
24 Chương 1
Những người này làm tăng khả năng linh hoạt cho thò trường, tự tạo ra lợi
nhuận cho mình từ chênh lệch giá mua và giá bán.
− Nhà môi giới: bao gồm tại công ty chứng khoán và trên sàn giao dòch (the
floor broker): thực hiện giao dòch cho công chúng. Khi nhà đầu tư liên hệ với

làm mất đi toàn bộ lợi nhuận từ quyền chọn. Một số công ty môi giới tự động thực
hiện quyền chọn cho khách hàng vào ngày đáo hạn khi nó phù hợp lợi ích khách
hàng.
1.4.2.3 Những yêu cầu cơ bản cho việc phát triển thò trường giao dòch quyền
chọn:
Có 3 yêu cầu cơ bản sau:

Tính cạnh tranh cao trên thò trường:
Đây là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại lâu bền của sản phẩm quyền chọn
chứng khoán. Không thể có sự cưỡng ép để cho ra đời một công cụ tài chính mới
trên thò trường chứng khoán vì như đã nhiều lần đề cập ở trên, thò trường chứng
khoán là bước phát triển tất yếu khách quan của nền kinh tế thò trường. Nếu thò
trường không tồn tại tính cạnh tranh trong nội tại của nó (ít hàng hóa, ít đối tượng
tham gia) thì các sản phẩm dù có hấp dẫn đến mấy vẫn không được biết đến, cũng
tương tự viên ngọc chưa được mài dũa.

Tính thanh khoản cao trên thò trường
26 Chương 1
Tính thanh khoản cao thể hiện ở chỗ người đầu tư dễ dàng bán công cụ tài
chính mà mình sở hữu để đổi thành tiền mặt một cách nhanh chóng với mức chi phí
thấp nhất. Yêu cầu này cũng không kém phần quan trọng, nó đảm bảo cho khả
năng tiêu thụ sản phẩm trên thò trường. Một sản phẩm tốt, hấp dẫn nhưng nếu người
đầu tư cảm thấy khó khăn trong việc thu hồi vốn (bán lại sau này) thì chắc chắn anh
ta sẽ đắn đo khi ra quyết đònh mua nó.

Quyền chọn phải được chuẩn hóa
Hợp đồng quyền chọn muốn được giao dòch rộng rãi phải được chuẩn hóa ở 2
điểm: ngày đáo hạn và giá thực hiện. Đây là điều chúng ta không cần thiết phải lý
giải vì đó là kết quả của một quá trình dài lâu tích lũy kinh nghiệm từ thò trường các
nước phát triển trên thế giới. Xin được giới thiệu tiêu chuẩn hợp đồng quyền chọn

Khi một ngày đáo hạn mới được đưa ra, hai mức thực hiện gần nhất với
giá cổ phiếu hiện hành thường được chọn để trao đổi. Nếu một trong số
đó gần sát với giá cổ phiếu hiện tại thì mức giá thực hiện gần thứ ba sẽ
được chọn. Nếu giá chứng khoán dòch chuyển ra khỏi dãy số giới hạn
giữa hai mức giá thực hiện cao nhất và thấp nhất, giao dòch thường
được giới thiệu một mức giá thực hiện mới.
Tuy nhiên, vẫn tồn tại một dạng hợp đồng dành cho những nhà kinh doanh
trên sàn giao dòch đồng ý theo điều kiện không chuẩn hóa (hợp đồng quyền chọn
linh hoạt). Các điều kiện không chuẩn hóa này có thể liên quan đến giá thực hiện
hoặc ngày đáo hạn khác với những điều kiện thông thường đã được các trung tâm
giao dòch quy đònh. Đây là cố gắng của các thò trường tập trung trong việc cạnh
tranh giành lại khách hàng từ thò trường OTC.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Từ việc đưa ra các khái niệm chuyên môn trong lónh vực tài chính (tài chính
– thò trường tài chính – thò trường chứng khoán – quyền chọn – quyền chọn chứng
khoán), Chương 1 giới thiệu với người đọc một công cụ tài chính khá quen thuộc
trên thế giới nhưng còn lạ lẫm với người đầu tư trong nước: quyền chọn chứng
khoán. Với 3 vai trò chủ yếu (Quản lý rủi ro giá cả, đònh giá và góp phần thúc đẩy
thò trường tài chính phát triển), quyền chọn chứng khoán không chỉ giúp các nhà sản
xuất, nhà đầu tư phòng ngừa rủi ro cũng như kinh doanh kiếm lợi trên những biến
động của giá cả, mà còn hứa hẹn những đóng góp lớn vào sự phát triển bền vững,
phù hợp với sự phát triển mang tính quốc tế của nền kinh tế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status