1
Trong giai đoạn từ thế kỉ XVI-XVIII, nền kinh tế hàng hố Việt Nam khơng
chỉ bị tác động bởi những biến động kinh tế ở trong nước mà còn chịu ảnh hưởng
khơng nhỏ của tình hình quốc tế. Thế kỉ XV, tư bản thế giới phát triển kéo theo đó
là sự phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Vấn đề quan trọng được đặt ra lúc
bấy giờ là thị trường để trao đổi bn bán, thị trường mà ở đó có thể tìm thấy
những ngun liệu mới mà Phương Tây khơng có. Chính do nhu cầu mở rộng hoạt
động thương mại và nhờ vào những tiến bộ kĩ thuật của ngành hàng hải, từ cuối thế
kỉ XV, ở Phương Tây đã diễn ra nhiều cuộc phát kiến địa lý sang Phương Đơng với
hi vọng sẽ kiếm được nhiều vàng bạc và của cải. Có thể kể đến 3 cuộc phát kiến địa
lý lớn đó là cuộc hành trình của Vaxcơ đơ Gama, Crixtơp Cơlơng và Vêxpuxơ
Amêrigơ, của Magienlan…
Sau các cuộc phát kiến đó đã diễn ra nhiều cuộc di chuyển cư dân trên qui
mơ lớn, thương nhân vội vã giành giật thị trường và các nguồn ngun liệu ở các
địa bàn mới vì thế người Phương Tây ngày càng hiểu rõ hơn về về Phương Đơng
và muốn mở rộng quan hệ bn bán với Phương Đơng trong đó có Việt Nam.
Thêm vào đó là hoạt động thương thuyền Châu Á đặc biệt là Trung Quốc và Nhật
Bản ngày càng nhộn nhịp đã tạo nên một thời kì được gọi là “thương mại Biển
Đơng ”. Việt Nam cũng tham gia vào hoạt động trao đổi bn bán này và đã thúc
đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hố Việt Nam phát triển.
Trong bối cảnh khu vực hết sức thuận lợi cùng với những thành tích trong kinh
tế nơng nghiệp, thủ cơng nghiệp, khai mỏ, nội thương… đã khiến cho nền kinh tế
hàng hố Việt Nam ra đời và đạt được nhiều thành tựu.
* Sản xuất thủ cơng nghiệp
Cả chính quyền Lê-Trịnh ở Đàng Ngồi và Nguyễn ở Đàng Trong đều cho
lập ra các quan xưởng. Đàng Ngồi, ở Thăng Long, chúa Trịnh lập ra nhiều xưởng
lớn chun sản xuất vũ khí cho qn đội, làm đồ trang sức cho cung đình, may
trang phục cho vua chúa. Từ năm 1760, Nhà nước cho phép các chấn mở xưởng
đúc tiền. Đàng Trong, chúa Nguyễn đặc biệt chú ý các cơng xưởng đúc súng và
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
2
- Trồng mía làm đường:
Là một nghề truyền thống có từ thời Bắc Thuộc, nghề này phát triển rộng rãi
trong thế kỉ XVII-XVIII, đặc biệt là ở vùng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Đường
cũng là một mặt hàng xuất khẩu quan trọng lúc bấy giờ, theo Paovrơ: “trước kia, họ
chỉ làm đủ dùng trong xứ, nhưng vì các lái bn Trung Quốc đem lại cho họ nguồn
tiêu thụ nên họ đã tăng các lò nấu đường nên đến mức có thể đủ hàng cho 80 chiếc
thuyền”.
Năm 1637, tàu Hà Lan đã cập cảng Hội An mua gần 2.000 cân đường chở về
Batavia. Các nghề thủ cơng khác như làm giấy, rèn sắt, đúc đồng, dệt chiếu, làm
nón, chạm khắc mỹ nghệ…đều có những bước phát triển. Một số nghề mới cũng
xuất hiện trong thời kì này. Đàng Ngồi hai làng Liễu Tràng và Hồng Lục ( Hải
Dương ) đã phát triển thành trung tâm khắc ván in và bia đá nổi tiếng. Đàng Trong
xuất hiện một số nghề du từ Phương Tây. Một người tên là Nguyễn Văn Tú ở Đăng
Xương –Thừa Thiên sau khi du học 2 năm ở Hà Lan đã học được nghề chế tạo
đồng hồ. Tuy nhiên, sản phẩm chỉ dừng lại ở mức phục vụ cho nhu cầu của giới q
tộc.
- Nghề khai mỏ:
Trong các thế kỉ XVII-XVIII, nghề khai khống phát triển khá rầm rộ. Các
mỏ vàng, bạc, đồng, kẽm đều hình thành các cơng trường khai thác nhưng phát
triển mạnh nhất là ở các vùng mỏ có đồng. Phan Huy Chú từng có nhận xét về tình
hình khai mỏ ở Đàng ngồi như sau: “lợi về hầm mỏ phần nhiều ở các Tứ Xun,
Hưng, Thái, Lạng, Vàng, bạc, đồng, thiếc thật là vơ tận. Chi dụng trong nước sở dĩ
được đầy đủ là do thuế của các mỏ khơng thiếu”…Từ thời Lê Trung Hưng, khi
nghề khai mỏ phát triển mạnh mẽ, chúa Trịnh đã cho các chủ thầu Trung Quốc tổ
chức khai thác, nhân cơng chủ yếu là người Trung Quốc. Một số quan lại người
Việt cũng xin Nhà nước cho phép bỏ vốn ra bao thầu khai thác. Khống sản khai
thác được đem ra bán trên thị trường trong nước và xuất khẩu.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN
4
Đàng Trong khơng có nhiều khống sản nên nghề này kém phát triển. Đến
thương mại lớn trong các thế kỉ XVI-XVII. Phố Hiến có 12 phường trong đó có 8
phường sản xuất các mặt hàng thủ cơng nghiệp. Phố Hiến cũng là nơi người nước
ngồi đến làm ăn sinh sống nhiều nhất đặc biệt là người Trung Quốc. Người Hà
Lan, Anh, Pháp cũng đã từng xin phép được lập điếm tại đây. Với vai trò trung
chuyển thương mại, sự hưng thịnh của Phố Hiến phụ thuộc rất nhiều vào sự phát
triển thương mại từ các nơi khác trong nước và tình hình ngoại thương.
Ngồi những trung tâm thương mại lớn còn cần phải kể đến hiện tượng
những tụ điểm bn bán mang dáng dấp đơ thị được mọc lên ở rất nhiều nơi như Kì
Lừa, Đồng Đăng ( Lạng Sơn ), Vân Đồn, Vạn Nịnh (Quảng Ninh)…
Đàng Trong, bên cạnh mạng lưới chợ nhỏ dày đặc, mỗi phủ thường có 4-5
chợ lớn. Đặc biệt ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ đã xuất hiện những tụ điểm cơng-
nơng-thương-tín ở những vị trí giao thơng thuận lợi vừa bn bán vừa dịch vụ gọi
là Thị Tứ đã góp phần đáng kể vào việc phát triển hàng hố ở nơng thơn. Đơ thị
sầm uất nhất là thương cảng Hội An ( vốn là một hải cảng quan trọng của Champa)
từ lâu đã trở thành nơi giao lưu bn bán mang tính quốc tế. Đến thế kỉ XVI, khi
hoạt động thương mại trên biển Đơng trở nên nhộn nhịp, nhiều tầu bn nước
ngồi đã đến đây bn bán. Hội An thực sự trở thành một thương cảng quốc tế vào
đầu thế kỉ XVII. Theo nhà sư Thích Đại Sán đến Hội An vào năm 1695 thì : “Hội
An là một mã đầu lớn, nơi tụ họp của khách hàng các nước…”.
Một hiện tượng đáng lưu ý trong thời gian này là sự xuất hiện các luồng lưu
thơng bn bán rộng lớn giữa các vùng. Có những luồng chun bn bán ngược
xi từ đồng bằng lên miền núi và ngược lại. Có những luồng chun lưu thơng
hàng hố giữa các trung tâm thương mại lớn như Thăng Long, Phố Hiến, Hội
An...Do kinh tế hàng hố phát triển đã xuất hiện một làng nghề chun đi bn như
làng Đa Ngưu - chun bn thuốc Bắc, làng Phủ Lưu chun bn bán the, lụa.
THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRỰC TUYẾN