1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HCM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN
TÌM HIỂU DỊCH VỤ MẠNG IPTV
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS.TRƯƠNG HOÀI PHAN
SINH VIÊN THỰC HIỆN : Nhóm 421
2
IPTV - Internet Protocol TV - là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng
viễn thông. Nói rộng hơn IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng
rộng IP phục vụ cho nhiều người dùng (user). Các user có thể thông qua máy
vi tính PC hoặc máy thu hình phổ thông cộng với hộp phối ghép set topbox để
sử dụng dịch vụ IPTV.
Hỏi: Ngày nay có rất nhiều loại truyền hình, như truyền hình tương tự, truyền hình
số, truyền hình cáp CATV, IPTV. Xin tòa soạn cho biết IPTV là gì?
Đáp:protocol : giao thức
IPTV - Internet Protocol TV - là mạng truyền hình kết hợp chặt chẽ với mạng viễn
thông. Nói rộng hơn IPTV là dịch vụ giá trị gia tăng sử dụng mạng băng rộng IP
phục vụ cho nhiều người dùng (user). Các user có thể thông qua máy vi tính PC
hoặc máy thu hình phổ thông cộng với hộp phối ghép set topbox để sử dụng dịch
vụ IPTV.
IPTV có 2 đặc điểm cơ bản là: dựa trên nền công nghệ IP và phục vụ theo nhu cầu.
Tính tương tác là ưu điểm của IPTV so với hệ thống truyền hình cáp CATV hiện
nay, vì truyền hình CATV tương tự cũng như CATV số đều theo phương thức
phân chia tần số, định trước thời gian và quảng bá đơn hướng (truyền từ một trung
tâm đến các máy tivi thuê bao). Mạng CATV hiện nay chủ yếu dùng cáp đồng trục
hoặc lai ghép cáp đồng trục với cáp quang (HFC) đều phải chiếm dụng tài nguyên
băng tần rất rộng. Hơn nữa kỹ thuật ghép nối modem cáp hiện nay đều sản sinh ra
tạp âm. So với mạng truyền hình số DTV thì IPTV có nhiều đổi mới về dạng tín
hiệu cũng như phương thức truyền bá nội dung. Trong khi truyền hình số thông
qua các menu đã định trước (thậm chí đã định trước hàng tuần, hoặc hàng tháng)
Internet. Tuy nhiên người sử dụng chỉ theo lệnh của bộ quản lý nội dung (content
manager) để được giới thiệu nội dung chương trình hữu quan. Chương trình cụ thể
do rất nhiều bộ IPTV server thu thập được hoặc cùng do các server của mạng
MBone cung cấp.
Hình 1
4
Hình 2 minh họa sự hoạt động của hệ thống IPTV phục vụ theo yêu cầu (VOD)
được gọi là IPTV đơn điểm. Trong đó các server của bộ quản lý nội dung được tổ
chức thành cụm server (server cluster) tổng hợp kho dữ liệu (database) của các
chương trình.
Cách bố trí cụm server để phục vụ được các user được hiệu quả sẽ được nói rõ trên
sơ đồ tổng thể ở dưới đây. Các bước thực hiện VOD như sau:
1. Một thuê bao được chứng nhận nhập mạng và chịu sự quản lý của bộ quản lý
EPG
2. Thuê bao muốn yêu cầu một nội dung nào đó. Thuê bao gửi yêu cầu đến EGP
3. EGP cho biết địa chỉ của server cần tìm
4. Thuê bao gửi yêu cầu tới server đó.
5. Server dựa theo yêu cầu của thuê bao mà cung cấp nội dung.
Trên đây chỉ là một thí dụ đơn giản nhất. Hiện nay các nhu cầu nghiệp vụ của
IPTV rất đa dạng nên cấu trúc mạng phức tạp hơn nhiều. Tiếp theo chúng ta phân
tích sự hoạt động tổng thể của mạng IPTV.
Hình 2.
Mạng tổng thể IPTV
Sơ đồ khối biểu thị các chức năng của nghiệp vụ IPTV như hình 3. Từ nguồn nội
dung tới đầu cuối người dùng có hể chia làm: nghiệp vụ cung cấp và giới thiệu các
nội dung, nghiệp vụ chuyển tải, nghiệp vụ tiếp nối đầu cuối và nghiệp vụ quản trị.
5
1. Mạng nội dung: Mạng này cung cấp và giới thiệu nội dung gồm xử lý nội dung
truyền hình trực tiếp/truyền hình VOD (theo điểm) và xử lý, giới thiệu các ứng
dụng gia tăng (phục vụ tin tức, điện thoại có hình, email, nhắn tin ). Nguồn nội
trường, văn bản sử dụng theo khuyến nghị truyền dẫn thời gian thực RTP.
IPTV dùng kỹ thuật nén thị tần có hiệu suất cao nên băng tần truyền dẫn tại
800kbit/s có thể tiếp cận với băng tần thu DVD nên tạo điều kiện cho các nhà khai
thác dễ dàng phát triển các dịch vụ video. Mạng chuyển tải CDN gồm nhiều server
cache phân bố tại các khu vực tập trung thuê bao, Khi có yêu cầu của thuê bao,
cache server chuyển lên VOD server trong mạng nguồn cung cấp, tìm nội dung
phù hợp và chuyển tải cho thuê bao sự hoạt động của các server trong mạng
chuyển tải dựa trên kỹ thuật cân bằng phụ tải toàn cục (GSLB). Trong quá trình
truyền đưa multimedia IPTV có thể dùng khóa mật mã đảm bảo độ an toàn của nội
dung truyền dẫn.
IPTV áp dụng các khuyến nghị quốc tế về tiêu chuẩn, như khuyến nghị về
truyền dẫn thời gian thực (RTP), khuyến nghị về khống chế thời gian thực
(RTCP)
7
IPTV cũng cùng làm việc với máy tính dùng hệ điều hành UNIX, VIC/VAT,
Apple và Quick Time.
Hiện nay cách thức mã hóa video của luồng chủ của IPTV theo MPEG-2,
MPEG-4, H.264/AVC; Real Microsoft UWMV-9. Trong đó, MPEG-2 và
MPEG-4 được phát triển mạnh. H.264 là luật mã hóa thị tần của ITU-T đề xuất
thích hợp cho các hệ thống công cộng. Do đó H.264 có khả năng thành cách mã
hóa chính của IPTV.
Như đã nêu ở trên, nghiệp vụ IPTV chính là phục vụ cho các hộ gia đình.
Phương thức tiếp nhập băng rộng tới gia đình thường dùng phương pháp truy
nhập ADSL, nhưng vì IPTV thiết lập tới user nghiệp vụ multimedia thời gian
thực và tương tác nên ADSL không thỏa mãn các yêu cầu của IPTV. Cáp
quang truyền dẫn tới tận nhà FTTH được công nhận là phương thức chuyển
tải tối ưu. Cáp quang có băng tần rất rộng và có khả năng truyền dẫn hai hướng
đối xứng đảm bảo được yêu cầu truyền hình ảnh động theo hai hướng với chất
lượng cao.
Thiết bị đầu cuối IPTV trong gia đình có 2 loại: một là máy vi tính PC, hai là
cầu và có thể được gộp chung với các dịch vụ Internet như truy cập web và VoIP.
Sự kết hợp thương mại của IPTV, VoIP và truy cập Internet được xem như là một
dịch vụ "Triple Play" (có thể gọi là trò chơi gồm ba thành phần, hay Tam giác)
(nếu thêm tính di động thì sẽ được gọi là "Quadruple Play"). IPTV tiêu biểu được
cung cấp bởi nhà cung cấp dịch vụ sử dụng hạ tầng mạng gần kề. Phương pháp
mạng gần kề này đang cạnh tranh với việc phát sóng nội dung TV trên Internet
công cộng, được gọi là Truyền hình Internet. Trong thương mại, IPTV có thể được
dùng để phát nội dung truyền hình thông qua mạng nội bộ LANs hợp tác. Với
khách hàng đầu cuối, IPTV thường cung cấp dịch vụ VoD (Video on Demand) và
có thể kết hợp với các dịch vụ Internet như truy cập web và VoIP.
Mục lục
1
Lịch sử
2
IPTV và Internet TV
9
3
Cấu trúc hệ thống IPTV
o 3.1 Cấu trúc mạng máy chủ video
o 3.2 Những vấn đề trong một giải pháp End-to-End IPTV
o 3.3 IPTV dựa trên các dịch vụ hội tụ
4
Giới hạn
5
Liên kết ngoài
Lịch sử
Năm 1994, World của ABC đã có buổi trình chiếu truyền hình quảng bá qua mạng
Internet đầu tiên, sử dụng phần mềm CU-SeeMe videoconferencing.
Tổ chức liên quan đến IPTV đầu tiên xuất hiện là vào năm 1995, với sự thành lập
Precept Software bởi Judith Estrin và Bill Carrico. Họ đã thiết kế và xây dựng một
hình này phù hợp với những mạng cung cấp dịch vụ VoD với qui mô nhỏ, có đầy
đủ băng thông ở mạng lõi và biên và có một Content Delivery Network (CDN) đủ
năng lực.
Cấu trúc phân tán có những ưu điểm về vấn đề sử dụng băng thông và quản lý hệ
thống trong những hệ thống mạng lớn. Cấu trúc phân tán cần các công nghệ phân
phối nội dung tinh vi và thông minh hơn.
[sửa]Những vấn đề trong một giải pháp End-to-End IPTV
Một số vấn đề về công nghệ cần quan tâm khi triển khai dịch vụ IPTV: phân phối
nội dung, middleware, cấu trúc mạng truyền tải và thiết bị cho người dùng cuối.
[sửa]IPTV dựa trên các dịch vụ hội tụ
Ưu điểm khác của mạng IP là khả năng tích hợp và hội tụ. Các dịch vụ hội tụ gây
ra sự tác động lẫn nhau giữa các dịch vụ hiện tại trong cách thức tạo ra các dịch vụ
gia tăng mới. Ví dụ là dịch vụ On-Screen Caller ID, có Caller ID trong TV và có
11
thể sử dụng nó. Những dịch vụ dựa trên mạng IP sẽ cho phép khách hàng tra cứu
thông tin thông qua TV của họ, máy tính, điện thoại di động, các dịch vụ tích hợp,
nội dung sẽ được nối lại với nhau.
[sửa]Giới hạn
Do IPTV yêu cầu truyền nội dung theo thời gian thực và sử dụng Internet Protocol,
nó sẽ rất dễ bị mất gói tin hay trễ. Nếu kết nối IPTV không đủ nhanh, việc mất hay
vỡ hình có thể xảy ra.
[sửa]Liên kết ngoài
THÔNG TIN DỊCH VỤ IPTV
1. Giới thiệu dịch vụ IPTV
IPTV (Internet Protocol Television) là một hệ thống dịch vụ truyền hình số theo
yêu cầu được cung cấp qua hạ tầng mạng băng rộng (ADSL, AON,…) thông qua
bộ giải mã Set-Top-Box truyền tín hiệu lên tivi.
Các dịch vụ cung cấp bởi IPTV:
- Cung cấp các dịch vụ quảng bá: Quảng bá ti vi (Broadcast TV); Kênh âm
thanh (Audio Channel); Truyền hình trực tuyến (Live TV); VOD băng hẹp.
Đường truyền băng rộng ADSL của VNPT
Bộ giải mã Set-Top-Box do Digicom cung cấp.
3. Tại sao nên chọn IPTV?
Lựa chọn sử dụng dịch vụ iTV là cách tốt nhất để thỏa mãn tối đa nhu cầu giải
trí của gia đình:
Giải trí chủ động trên tivi:
o Xem nội dung yêu thích bất cứ lúc nào
o Không bị lệ thuộc vào giờ phát sóng của Đài
o Đáp ứng theo yêu cầu
o Cho phép tương tác giữa người dùng và nhà cung cấp dịch vụ
Tiện lợi:
o Ngoài truyền hình thông thường, còn có nhiều chức năng giải trí khác
4. Lợi ích của dịch vụ
Lựa chọn sử dụng dịch vụ IPTV là cách tốt nhất để thỏa mãn tối đa nhu cầu giải
trí của bạn và gia đình:
Giải trí chủ động trên tivi:
o Xem nội dung yêu thích bất cứ lúc nào
o Không bị lệ thuộc vào giờ phát sóng của Đài
o Đáp ứng theo yêu cầu
o Cho phép tương tác giữa người dùng và nhà cung cấp dịch vụ
Tiện lợi:
o Ngoài truyền hình thông thường, còn có nhiều chức năng giải trí khác
5. Nội dung cung cấp
Khách hàng có thể xem rất nhiều kênh, tiện ích giải trí với nội dung đa dạng trên
tivi so với cách xem tivi thông thường như: truyền hình, phim truyện, ca nhạc, …
Hiện tại, nhà cung cấp dịch vụ IPTV có 3 gói dịch vụ bao gồm:
- Gói kênh miễn phí
- Gói kênh SD
- Gói kênh SD+HD
- Gói kênh đặc sắc
SDTV.