Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
TRƯỜNG ĐH NGÂN HÀNG TP. HỒ CHÍ MINH
Bài tiểu luận:
BẢO HIỂM
Đề tài: Bảo hiểm phi nhân thọ tại
Việt Nam, thực trạng và xu hướng
phát triển
GVHD: TS. ĐẶNG VĂN DÂN
NHÓM THỰC HIỆN: NHÓM 2
Nhóm 2
Page 1
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
TP. Hồ Chí Minh, ngày 13 tháng 12 năm 2013
TÊN MSSV XẾP LOẠI KÝ XÁC NHẬN
Nguyễn Thị Loan 030326100130 A
Nguyễn Thị Minh Tuyên 030326100267 A
Lương Văn Được 030127110295 A
Hoàng Thị Bạch 030127110097 A
Phạm Thanh Giang 030127110313 A
Phan Quỳnh Trang 030127111758 A
Nhóm 2
Page 2
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Mục lục
Lời mở đầu
Ở Việt Nam, bảo hiểm phi nhân thọ (BHPNT) đã bắt đầu hình thành từ năm 1965.
Từ 1965 đến 1994 là thời kỳ BHPNT hoàn toàn hoạt động độc quyền với một doanh
nghệp BH Nhà nước duy nhất. Do vậy, ảnh hưởng của nó đến nền kinh tế còn rất hạn
chế.
Bước ngoặc có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển của ngành BH Việt Nam
Nhóm 2
Page 4
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
quy định của hợp đồng. BHNT là quá trình BH các rủi ro có liên quan đến sinh mạng,
cuộc sống và tuổi thọ con người, đồng thời nó còn có tính chất tiết kiệm). BHPNT
không có tính tiết kiệm và chỉ BH rủi ro khách quan, bất ngờ.
Đặc điểm:
- Quá trình hoạt động kinh danh BHPNT là quá trình tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ
tiền tệ của các doanh nghiệp BH.
- Trên phương diện xử lý rủi ro, BH là loại biện pháp rất có hiệu quả. Cơ chế hoạt động
là chuyển giao, phân tán rủi ro trên cơ sở hợp đồng. Cơ chế đó khiến cho việc gánh
chịu rủi ro, đặc biệt là những rủi ro trầm trọng vượt quá khả năng chống đỡ của mỗi cá
nhân, gia đình, tổ chức trở nên dễ dàng hơn.
- Đã có ý kiến cho rằng, ở một góc độ nào đó BHPNT là “kinh doanh rủi ro”, điều này
đúng nhưng chưa đủ. Một trong những đặc điểm của BHPNT là chỉ nhận BH cho
những rủi ro có thể xảy ra và gây thiệt hại đến tài sản, tính mạng, sức khỏe… mà
không có tính chất tiết kiệm như BHNT. Điều đó cũng có nghĩa chỉ khi những rủi ro
được BH gây thiệt hại cho người được BH thì mới được bồi thường. Khi hết hạn BH
mà không có rủi ro xảy ra thì người được BH hết quyền lợi và đương nhiên sẽ không
được trả lại số phí BH đã đóng,
- Thời hạn của hợp đồng BHPNT thường là 01 năm hoặc ngắn hơn (ngoại trừ một số
hợp đồng trong BH xây dựng lắp đặt có thời hạn theo thời gian xây dựng công trình).
Thậm chí có những hợp đồng BH chỉ có hiệu lực vài tháng (ví dụ: BH hàng hóa xuất
nhập khẩu), vài ngày (ví dụ: BH vận chuyển hàng hóa, BH du lịch), hoặc chỉ vài giờ
(ví dụ: BH tai nạn hành khách, BH du lịch).
- Nếu BHNT áp dụng kỹ thuật dồn tích, thì BH con người phi nhân thọ lại áp dụng kỹ
thật phân chia trong quản lý quỹ tài chính BH.
-
Các sản phẩn của bảo hiểm phi nhân thọ.
Các sản phẩm BHPNT gồm có BH tài sản, BH trách nhiệm, BH con người phi nhân
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Trên thực tế, một trong số các DNBH ký kết hợp đồng cho tài sản được bảo hiểm
trùng này có thể đứng ra bồi thường theo số thiệt hại thực tế, sau đó đòi lại các DNBH
khác theo phần trách nhiệm của họ.
- Nguyên tắc thế quyền hợp pháp
Áp dụng nguyên tắc này khi xuất hiện người thứ 3 có lỗi trong sự cố bảo hiểm và do
đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được bảo hiểm. Theo nguyên tắc này, sau
khi trả tiền bồi thường, DNBH sẽ được thay quyền của người được bảo hiểm để thực hiện
việc truy đòi trách nhiệm của người thứ ba có lỗi. Nguyên tắc thế quyền hợp pháp nhằm
đảm bảo quyền lợi của người được bảo hiểm, chống lại hành vi rũ bỏ trách nhiệm của
người thứ ba có lỗi, đồng thời đảm bảo cả nguyên tắc bồi thường.
VD: trở lại ví dụ trên, tai nạn xảy ra do lỗi của ô tô đi ngược chiều là 70% thì trách
nhiệm của chủ ô tô sẽ là 70% x 10 triệu đồng = 7 triệu đồng. Sau khi bồi thường cho chủ
xe mô tô 10 triệu đồng, DNBH được thay quyền chủ xe mô tô này truy đòi trách nhiệm 7
triệu đồng từ chủ ô tô. Nguyên tắc thế quyền được áp dụng và chủ mô tô trong trường
hợp này cũng không thể nhận STBT vượt 10 triệu đồng, tức là nguyên tắc bồi thường
được đảm bảo.
Ngoài ra có một số ngoại lệ khi áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp, khi người
thứ ba gây lỗi là trẻ em, con cái, vợ, chồng, cha, mẹ,… của người được bảo hiểm.
- Áp dụng chế độ bồi thường bảo hiểm
Chế độ bảo hiểm theo mức miễn thường
DNBH chỉ chịu trách nhiệm đối với những tổn thất mà giá trị thiệt hại thực tế vượt
quá một mức đã thỏa thuận gọi là mức miễn thường.
Việc áp dụng bảo hiểm theo mức thường có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc. Nếu
thỏa thuận không bồi thường những tổn thất nhỏ hơn mức miễn thường trên cơ sở tự
nguyện thì phí bảo hiểm sẽ giảm bớt phụ thuộc vào mức miễn thường cụ thể; còn đối với
Nhóm 2
Page 7
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
miễn thường bắt buộc thì phí bảo hiểm giữ nguyên. Áp dụng bảo hiểm theo mức miễn
giới, của người sử dụng lao động, BHTN sản phẩm,…
Theo luật dân sự, TNDS của một chủ thể được hiểu là trách nhiệm phải bồi thường
các thiệt hại về tài sản, về con người,… gây ra cho người khác do lỗi của người chủ đó.
Các vấn đề liên quan đến BHTNDS.
- Đối tượng bảo hiểm mang tính trừu tượng
Trách nhiệm dân sự có thể phát sinh của người được bảo hiểm gồm (1) tồn tại nghĩa
vụ pháp lý và sự vi phạm nghĩa vụ pháp lý, (2) có thiệt hại thực tế của bên thứ ba, (3) có
quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại với thiệt hại của bên thứ ba.
- Thường được thực hiện dưới hình thức bắt buộc
Do một số nguyên nhân sau mà BHTNDS thường được thực hiện dưới hình thức bắt
buộc: (1) các hoạt động có nguy cơ gây tổn thất cho nhiều nạn nhân trong 1 sự cố, (2)
các hoạt động mà một sơ xuất nhỏ có thể dẫn đến thiệt hại trầm trọng về người, (3) các
hoạt động cung cấp dịch vụ trí tuệ có thể dẫn đến thiệt hại lớn về tài chính. Do vậy, để
đảm bảo lợi ích của người được bảo hiểm, quyện lợi của nạn nhân cũng như lợi ích công
cộng và an toàn xã hội thì BHTNDS thường phải được thực hiện bắt buộc.
- Có thể hoặc không áp dụng hình thức miễn thường
- Luôn áp dụng hạn mức trách nhiệm
- Áp dụng nguyên tắc bồi thường và thế quyền
Nhóm 2
Page 9
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Phân loại.
- BHTNDS ngoài hợp đồng
Trong đó:
Người hưởng quyền lợi bảo hiểm (người thứ ba) là chủ thể không xác định trước.
Người được bảo hiểm và người thứ ba không có mối quan hệ ràng buộc theo hợp
đồng.
Người thứ ba là cá nhân hoặc pháp nhân hoặc tập thể có quyền lợi bị xâm phạm (tính
mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, uy tín) theo quy định của Bộ Luật dân sự.
VD: BHTNDS của chủ xe cơ giới, BHTNDS của chủ vật nuôi, BH trách nhiệm
hiểm này, còn thiệt hại về tài sản thuộc đối tượng của loại bảo hiểm khác.
Những vấn đề liên quan đến Bảo hiểm con người PNT.
Trong bảo hiểm con người PNT, nguyên tắc chi phối việc giải quyết thanh toán tiền
bảo hiểm là nguyên tắc khoán. Khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra, DNBH sẽ thực hiện
chi trả một khoản tiền dựa vào STBH đã được thỏa thuận lựa chọn khi ký kết hợp đồng
bảo hiểm chứ không dựa vào thiệt hại thực tế. Việc thanh toán chi trả tiền bảo hiểm trong
bảo hiểm con người PNT chỉ mang tính trợ giúp về tài chính cho người được bảo hiểm và
nhân thân của họ.
STBH trong hợp đồng bảo hiểm con người PNT cơ bản chỉ có ý nghĩa là một số tiền
mà người tham gia bảo hiểm “khoán” cho DNBH sẽ chi trả khi có sự kiện bảo hiểm xảy
ra.
Khác với BHTS, trong bảo hiểm con người PNT mỗi đối tượng bảo hiểm có thể
đồng thời được bảo hiểm bởi nhiều hợp đồng bảo hiểm với một hoặc nhiều DNBH khác
Nhóm 2
Page 11
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
nhau. Khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra, việc trả tiền bảo hiểm của từng hợp đồng là độc lập
nhau.
Trong bảo hiểm con người PNT không có sự thế quyền hợp pháp của người bảo
hiểm. Nghĩa là sau khi đã thanh toán chi trả STBH, DNBH không được phép thế quyền
người tham gia bảo hiểm hay người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm để khiếu nại người thứ
ba truy đòi số tiền bồi thường tương ứng.
Mặc dù vậy, thực tế hiện nay thì phạm vi bảo hiểm của một số nghiệp vụ bảo hiểm
con người PNT bảo đảm cho cả các chi phí y tế thực tế phát sinh. Do vậy, bên cạnh
nguyên tắc khoán, các DNBH còn áp dụng kết hợp nguyên tắc bồi thường để giải quyết
chi trả cho các khoản thiệt hại chi phí y tế khi có sự kiện bảo hiểm xảy ra.
Một vài loại bảo hiểm con người PNT.
- BH tai nạn thân thể: loại hình này áp dụng cho sự tử vong hoặc thương tật thân thể
do tai nạn. Các loại bảo hiểm này thường là tử vong do tai nạn thân thể, thương tật
vĩnh viễn do tai nạn thân thể, trợ cấp khả năng lao động do tai nạn thân thể, các chi
Page 13
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Ngoài các DNBH dẫn đầu thị trường nêu trên, một số DNBH có tỷ lệ tăng trưởng doanh
thu phí bảo hiểm gốc trên 50% so với cùng kỳ năm 2012 là Phú Hưng (5,5 tỷ đồng; tăng
168,8% lần), Cathay (60 tỷ đồng; tăng 156,1%), MIC (360 tỷ đồng; tăng 59,83%), AIG
(220 tỷ đồng; tăng 55,47%).
Một số DNBH khác có doanh thu phí bảo hiểm gốc giảm so với cùng kỳ năm 2012 là
SVIC (87 tỷ đồng; giảm 49,96%), VASS (98 tỷ đồng; giảm 16,02%), QBE (34 tỷ đồng;
giảm 13,3%).
Biểu đồ 1: Doanh thu phí bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ
Nhóm 2
Page 14
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Biểu 2: Thị phần theo doanh thu phí bảo hiểm gốc 6 tháng 2013
Nguồn: Cục quản lý giám sát bảo hiểm
1.2.2. Số tiền bồi thường cho khách hàng
Ước tính số tiền thực bồi thường bảo hiểm gốc của thị trường phi nhân thọ 6
tháng đầu năm 2013 là 4.506 tỷ đồng, tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc là 38,29%
cao hơn tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc cùng kỳ năm 2012 (35,32%).
Trong 29 DN BHPNT thì có 18 DN có tỷ lệ thực bồi thường bảo hiểm gốc thấp
hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường, 11 DN còn lại có tỷ lệ thực bồi thường bảo
hiểm gốc cao hơn tỷ lệ bồi thường của toàn thị trường, trong đó 4 DN có tỷ lệ thực bồi
thường bảo hiểm gốc trên 50% là Liberty (64,43%); Bảo Việt (58,9%); Fubon (58,7%)
và Bảo Minh (51,41%).
Tín hiệu từ thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam.
- Tốc độ tăng trưởng khả quan hoàn thành kế hoạch đề ra.
Nhóm 2
Page 15
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
Trong 6 tháng đầu năm 2013, thị trường bảo hiểm tiếp tục gặp nhiều khó khăn
mức lợi nhuận tương đối tốt với 233 tỷ đồng, trong đó lợi nhuận từ hoạt động bảo hiểm
gần 76 tỷ đồng. Hai DNBH còn lại trong Top 4 là Bảo Minh và Pjico có mức tổng lợi
nhuận lần lượt là 46 tỷ đồng, 3 tỷ đồng trong đó Bảo Minh lãi nghiệp vụ 7,5 tỷ đồng và
Pjico bị lỗ nghiệp vụ.
- Dấu hiệu lạc quan từ sự hồi phục nền kinh tế của Việt Nam.
Với sự phục hồi của nền kinh tế Việt Nam, ngành Bảo hiểm cũng đang cho thấy dấu hiệu
lạc quan rất rõ ràng, mục tiêu tăng trưởng 10%-12% đặt ra vào đầu năm dù khó nhưng
không phải là không thể đạt được. Và vai trò đưa thị trường BHPNT “cán đích” là trọng
trách của các DNBH lớn như Bảo hiểm PVI, Bảo Việt hay cả Bảo Minh…
Khuynh hướng phát triển sắp tới tại Việt Nam.
Nhóm 2
Page 17
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
RiResearch and Markets cũng dự báo tốc độ tăng trưởng hàng năm của thị trường bảo
hiểm của Việt Nam sẽ đạt khoảng 22% trong giai đoạn từ năm 2011 đến năm 2014.
Trong vài năm tới, lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ sẽ chiếm thị phần lớn hơn trong toàn
bộ thị trường bảo hiểm của Việt Nam.
- Phát triển bảo hiểm xe hơi.
Các nhà bảo hiểm phi nhân thọ đang rất vui mừng vì người tiêu dùng nội địa ngày càng
ưa chuộng xe hơi hơn. Theo các chuyên gia dự báo, tỷ lệ người sử dụng xe hơi tại Việt
Nam sẽ tăng đến 26 xe hơi trên 1.000 người dân đến năm 2015, đạt 40 xe vào 2020 và
khoảng 60 xe vào thời điểm 2025. Nếu dự báo này trở thành hiện thực, ngành bảo hiểm
phi nhân thọ chắc chắn sẽ có doanh thu cao hơn nữa từ nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới.
Doanh thu bảo hiểm xe ô tô tại Việt Nam cũng tăng trưởng tương ứng với mức độ tăng
trưởng doanh thu của các hãng xe hơi. Bảo hiểm xe hơi hiện chiếm khoảng 30% doanh
thu bảo hiểm của ngành bảo hiểm phi nhân thọ.
Mặc dù ở một vài DN BHPNT, việc triển khai nghiệp vụ bảo hiểm xe cơ giới chưa mang
lại nhiều doanh thu, thậm chí còn lỗ, nhưng các DN vẫn quyết tâm đẩy mạnh, bởi nghiệp
vụ này tiềm năng lớn và làm thương hiệu tốt. Và nếu các DN bảo hiểm đảm bảo tiêu chí
số đông với nghiệp vụ này thì vẫn có thể mang lại doanh thu và lợi nhuận.
các bạn để bài sẽ hoàn chỉnh hơn.
Tài liệu tham khảo
Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10.
Luật kinh doanh bảo hiểm sửa đổi số 61/2010/QH12.
Nghị định của Chính phủ số 100 – CP ngày 18/12/1993.
PGS. TS. Nguyễn Văn Định, 2010, Giáo trình Bảo hiểm, Nhà xuất bản Đại học
Kinh tế Quốc dân. 518 trang.
Ths. Bùi Diệu Anh, 2010, Bảo hiểm (Lý thuyết và bài tập), Nhà xuất bản Phương
Đông. 261 trang.
Đề tài Phát triển thị trường bảo hiểm phi nhân thọ ở Việt Nam trong điều kiện hội
nhập kinh tế quốc tế.
Nhóm 2
Page 20
Bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam
!!
"
# $!% %"&
!'(%%)'(%% #%)'!(
% "
*
" +++*!,-!.&/(")(#)()(
+++!*
Nhóm 2
Page 21