Vẻ đẹp người lính trong bài thơ
Bài thơ về tiểu đội xe không kính
Trong nền văn học nước nhà, thơ ca Cách Mạng Việt Nam luôn được coi là tài
sản vô giá của dân tộc, bởi chúng phản ánh cả một giai đoạn lịch sử đấu tranh hào
hùng của đất nước và con người Việt. Đặc biệt trong thời kì kháng chiến chống Mỹ,
với cảm hứng tươi trẻ và lãng mạn, thi ca đã thực sự hun đúc nên tượng đại của những
chiến sĩ anh hùng, những “Thạch Sanh của thế kỉ XX”. Nhắc đến đây, hẳn chúng ta
đều bỗng nhớ đến một tác phẩm của nhà thơ Phạm Tiến Duật, một câu chuyện về
những người lính lái xe Trường Sơn, đó chính là Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
Vẻ đẹp của những người lính giữa sự khốc liệt của chiến tranh đã hiện lên thật
cao cả qua những vần thơ lãng mạn. Ta có thể cảm nhận được hiện thực tàn khốc của
cuộc chiến ngay từ những câu thơ mở đầu:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Dữ dội làm sao ôi những làn mưa bom đạn. Ấy vậy mà những người lính
dường như không hề chùn bước, họ luôn mang trong mình sự tự chủ lạ kì.
Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Vẻ đẹp phi thường của những người lính lái xe được toát lên qua tư thế hiên
ngang ung dung và tự chủ. Cùng với nhịp thơ nhanh, đều, dứt khoát và điệp từ “nhìn”,
hình ảnh người chiến sĩ hiện lên thật ngạo nghễ, không thẹn với đất trời, mặc cho bao
thử thách của cuộc chiến. Dù cho phía trước là con đường chông gai đầy gian khổ
hiểm nguy, những người lính vẫn giữ cho tâm hồn mình luôn tươi sáng và lạc quan để
thưởng thức những vẻ đẹp của thiên nhiên đất trời.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
Những câu thơ tả thực tới từng chi tiết. Dường như ở phía trước, cả không gian
đất trời thu vào tầm mắt của họ, như ùa vào với họ qua những ô cửa kính đã vỡ. Gió,
con đường, sao trời và cánh chim vừa thực mà vừa thơ, chính là những cái thi vị giản
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi.
Những cái bắt tay qua ô cửa đã vỡ, thật thoải mái, chân thành mà đằm thắm
tình đồng đội. Chỉ cần một cái bắt tay thôi cũng đủ ấm lòng, đủ động viên nhau và
truyền cho nhau cả sự cảm thông đặc biệt. Đến đây, những câu thơ này chợt khiến
chúng ta nhớ tới những cái nắm tay của người lính trong đêm đông giá rét trong bài
thơ Đồng Chí của Chính Hữu. Chỉ qua một cử chỉ nhỏ bé ấy thôi, những người lính
kiên cường có thể sẻ chia với nhau cả tâm hồn, tinh thần, nghị lực và sức mạnh vô
song.
Thương nhau tay nắm lấy bàn tay.
Tình đồng chí đồng đội sâu sắc ấy dần dần đã trở nên thắm thiết như gia đình.
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Một cách định nghĩa gia đình mới tếu hóm và kì lạ làm sao. Không phải là
những con người chung huyết thống, những con người ruột thịt. Mà gia đình, chính là
những con người với bao cái chung, chung bát, chung đũa, chung nắm cơm, bếp lửa,
chung hoàn cảnh và chung những gian nguy đang đợi chờ phía trước. Họ xích lại gần
nhau trong khó khăn thử thách, tình cảm của họ được tôi luyện qua lửa đạn và sẽ trở
thành vĩnh cửu. Họ còn chia sẻ với nhau cả những giờ phút nghỉ ngơi ngắn ngủi của
mình trong hoàn cảnh thiếu thốn đầy gian khó.
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
Từ láy ‘’chông chênh”, vừa gợi hình, vừa gợi cảm, cho ta cảm nhận được cái
chông chênh của cuộc đời người lính, khi ranh giới giữa sự sống và cái chết chỉ mong
manh như ngọn đèn trước gió. Nhưng dù có chông chênh đến bao nhiêu thì ý chí chiến
đấu, khí phách và nghị lực của họ vẫn luôn vững vàng, kiên định. “Lại đi, lại đi”, bánh
xe của họ sẽ không ngừng lăn.
Mọi ý chí, mọi quyết tâm của họ đều hướng về cái đích duy nhất, đó chính là
sự nghiệp giải phóng miền Nam, là động lực mạnh mẽ tạo nên sức mạnh phi thường
để những người lính vượt qua mọi nguy nan, mọi sự hủy diệt và tàn phá.
không kính là tác phẩm tiêu biểu nhất của giọng thơ ấy, của hồn thơ ấy.
Kết cấu của bài thơ là hành trình của con đường ra trận. Hành trình đó
có những lúc dãi dầu nắng mưa, có những ngày vượt suối băng đèo và
có tiếng reo cười trong tình thân chan hòa đồng đội, trong một mái ấm
gia đình giữa đất trời bao la. Kết cấu đó trước hết thể hiện qua số lượng
chữ trong câu :
Mở đầu chặng đường hành quân là những khó khăn. Vì vậy khổ 1, câu
thơ đầu dài ra 10 chữ và kết thúc bằng thanh trắc - hoàn toàn trái quy
luật phối thanh bình thường của thơ vần nhịp. Nó là điệu nói :
Không có kính không phải vì xe không có kính
Ba câu tiếp theo, khó khăn dần rút lại, tạo nên sự ung dung phong thái
đỉnh đạc với số lượng chữ rút dần xuống và đằm lại về thanh điệu : 8- 6-
6, bằng- bằng - trắc.
Hai câu thơ cuối khổ, thanh bằng chiếm tỉ lệ nhiều hơn, khoảng 2/3.
Chính sự thắng thế của thanh bằng đã tạo nên sự thanh thản, ung dung
cho khổ thơ mặc dù kết thúc của nó lại là thanh trắc. Chính thanh trắc
này lại mở đường cho xe đi tới : Nhìn thẳng.
Năm khổ thơ tiếp theo, số lượng câu chữ trở lại bình thường, hoán đổi
đều đặn ở hai kiểu kết hợp : 7- 8- 8- 7- và 7- 7- 8- 7 . Đường ra trận đẹp
lắm, nên xe không kính cứ chạy bon bon, người lái xe đã nhìn thấy, nhìn
thấy và thấy. Thấy gió xoa mắt đắng, thấy con đường chạy thẳng vào
tim. Quan trọng nhất, thấy được nụ cười rạng rỡ của nhau. Ấy cũng
chính là thấy được lòng dũng cảm tiềm ẩn đằng sau những câu đùa vui
và hành động tếu táo :
Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới
Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi
Khổ thơ có một sự thay đổi đặc biệt so với toàn bài ở số lượng chữ trong
câu thơ : 8- 8- 8- 8. Bốn câu thơ 32 chữ chia đều nhau thanh điệu bằng
trắc ở bốn chữ cuối và trở lại kiểu phối âm bình thường bằng- trắc- trắc-
bằng. Câu kết của bài thơ mở rộng bằng thanh bằng :
một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi
Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn còn vang ngân lắm
hình bóng của Trường Sơn.
Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước
được, dù hồi đó đã thấy vài người mô phỏng. Khó vì giọng đùa đùa, tinh
nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của tình cảm
con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn
thuần một kiểu cách chữ nghĩa. Điều đáng nói là giọng thơ ấy đã tỏ ra
đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Kháng chiến chống xâm lược
Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn. Hy sinh lớn, gian
khổ nhiều. Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không
được gây bi lụy, xót thương. Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của lòng
người. Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ
dằn của thực tế chiến tranh. Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ
hồi ấy. Nhiều người không vượt được. Phạm Tiến Duật vượt được, trước
hết nhờ vào cái giọng đó:
style="margin: 5px 0pt 15px 20px;">Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà.>Con gái thế thì đoảng quá: đêm ngủ
không rửa chân, nằm mơ thì nói ông ổng. Đây lại là lời kể của cô bạn
cùng đơn vị thanh niên xung phong nói với bạn trai của cô gái. Hại thế.
Nhưng không, anh bạn nghe lại ứa nước mắt: Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu
xa. Thương em, thương em, thương em biết mấy. Trong một câu có tới
ba động từ thương. Rửa chân trước khi đi ngủ là quyền lợi của mọi
người trên mặt đất. Nhưng ở đây, để đòi được quyền lợi nhỏ bé đó có thể
phải đổi cả mạng người. Phá bom là việc làm đối diện với cái chết,
không ai nói tài được. Con người có phần tự vệ bản nãng nên phải hồi
hộp lo âu. Nhưng vì lý tưởng, ý chí đã vượt lên bản năng, họ làm mà
không sợ hãi. Đêm về, ý thức của vỏ não đã bị giấc ngủ ức chế, chỉ còn
Xương đầu thế kỷ.
Vật liệu xây dựng nên bài thơ là việc thật của đời sống chiến tranh, còn
nguyên lấm láp cát bụi chiến hào, không sơ chế tái chế gì, giọng thơ thì
tếu, vui, nhưng cảm xúc lại là trữ tình thấm thía, tình cảm sâu và rộng:
style="margin: 5px 0pt 15px 20px;">Cũng vương tóc rối chân gà
Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây
Cũng quần áo ướt phơi dây
Cũng gàu múc nước. Ô hay, cũng làng>Thắm một hình ảnh làng đến vậy
là nỗi lòng người lính ở Trường Sơn những năm chiến tranh, khi mà
không khí thanh bình làng quê xứ sở đã thành niềm xa lắc. Phạm Tiến
Duật không trực tiếp nói nỗi lòng ấy nhưng người đọc lại thấy được rất
rő. Đằng sau giọng thơ, cái lői cảm xúc này mới là chính yếu làm nên
chất thơ chiến tranh Phạm Tiến Duật. Nhân vật thơ thường hòa vào tác
giả. Ở Phạm Tiến Duật không, hoặc ít, phân biệt chủ thể, khách thể. Có
lẽ khách chủ cũng đều là bộ đội nên họ dễ dàng thành một.
Phạm Tiến Duật thật sự là người đã mở rộng phạm vi cái nên thơ, giúp
thơ trực tiếp với đời sống và giúp đời sống trực tiếp bước vào thơ.
Bài 1:
Tôi vừa đưa chiếc xe đạp vào khoảng sân hẹp thì đã nghe vọng ra tiếng cười giòn giã của
bố tôi và một vị khách. Đó chắc chắn là một vị khách quý bởi vì ít khi có sự ồn ã, sôi
động như thế ở người cha hiền hậu nhưng lúc nào cũng lặng lẽ của tôi.
Tôi bước vội vào nhà. Bố tôi cùng người khách hướng ánh nhìn rạng rỡ, trìu mến đón tôi:
_ Con gái, đây là bác Trung Trực, bạn học hồi trung học với bố, lại cùng bố nhập ngũ.
Bác là chiến sĩ lái xe Trường Sơn năm xưa đấy con ạ!
Bác Trực trạc tuổi bố tôi. Khuôn mặt bác cương nghị nhưng lại rất đôn hậu. Đôi mắt tuy
đã hằn nhiều vết chân chim nhưng vẫn ánh lên những tia vui vẻ và trìu mến. Tôi có đang
nằm mơ không nhỉ? Tôi vừa học xong “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của nhà thơ
Phạm Tiến Duật. Những lời thơ, những lời cô giảng và hình ảnh người chiến sĩ lái xe
dũng cảm, kiên cường cứ đọng mãi trong tâm trí tôi. Giờ đây, tôi đang được đứng trước
một người chiến sĩ lái xe Trường Sơn đích thực. Thật là một may mắn không ngờ. Tôi
nữa chứ. Mưa Trường Sơn thường bất ngờ. Đang bụi bám đầy thì bỗng cả người nặng
chịch vì ướt sũng nước mưa. Mưa xối xả quất vào người, vào mặt, vào mắt. Những làn
nước cay xè, buốt rát khiến việc lái xe khó hơn gấp trăm ngàn lần. Thế nhưng, những
người lính lái xe như bác không bao giờ dừng lại, luôn phải tranh thủ tránh giờ cao điểm
cháu ạ. Cũng vì xe không kính nên mưa gió vứt vào cabin đủ thứ, nào là lá rừng, nào là
cành cây gãy, … Bác đã bao lần bị cành cây cứa vào mặt, vào tay cầm vô lăng, đau rát vô
cùng. Gian khổ là thế đấy cháu! Mỗi chuyến chở hàng về tới đích thật sự là một kỳ tích.
Vậy mà ký tích vẫn luôn xuất hiện đấy!
Bác mỉm cười, khuôn mặt ánh lên vẻ rạng rỡ và tự hào. Lời bác kể như chất chứa bao
nhiệt huyết, bao sôi nổi của một thời tuổi trẻ nơi chiến trường. Bác dường như đang được
sống lại những phút giây lịch sử ấy. Không hiểu sao ngay lúc này, những lời thơ của
Phạm Tiến Duật lại ùa về, ngân nga trong lòng tôi. Đó chính là một thực tế ở chiến
trường ngày ấy. Thế mà, những người lính cụ Hồ vẫn tràn đầy lạc quan, yêu đời, và tin
tưởng vào một ngày mai chiến thắng.
Tôi chợt thấy bác Trực trầm ngâm, ánh mắt xa xôi như đang lạc trong dòng hồi tưởng.
Còn bố tôi thì ngồi lặng lẽ, khuôn mặt đầy vẻ xúc động. Bác Trực chợt nói:
_ Xe không kính thế mà lại hay cháu ạ. Gặp bạn cũ, gặp đồng đội, gặp đồng hương đều
tay bắt mặt mừng qua ô kính vỡ. Giữa đại ngàn mênh mông, bác chợt thấy lòng mình ấm
lại vì được chiến đấu bên cạnh những đồng chí yêu thương.
Giọng bác chợt rung lên, đầy xúc động:
_ Cháu không thể hiểu tình đồng chí thiêng liêng, quý giá thế nào với người lính các bác
đâu. Dừng xe, ghé vào một bếp Hoàng Cầm, chỉ cần thêm bát thêm đũa là thấy thân
thuộc như anh em một nhà. Dù chốc lát nữa thôi, mỗi người sẽ đi mỗi hướng, có khi
chẳng bao giờ gặp lại nhau giữa chiến trường ác liệt. Bác và ba cháu có thể trở về hạnh
phúc bên gia đình, nhưng bao nhiêu đồng đội của bác đã ngã xuống. Có một đồng đội của
bác đã hy sinh ngay sau vô lăng vì quyết tâm lái xe vượt qua làn đạn dù đang bị thương
nặng. Ngày ấy, khẩu hiệu “Yêu xe như con, quý xăng như máu” luôn khắc ghi trong tim
những người lính lái xe. Dù có hy sinh, các bác vẫn quyết tâm bảo vệ xe và hàng.
Bác chợt im lặng. Không khí cả căn phòng bỗng chốc trở nên thật trang nghiêm.